Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

CHÍNH THỂ CHUYÊN CHẾ VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Tác giả
I – CHÍNH THỂ CHUYÊN CHẾ QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ĐỜI SỐNG KINH TẾ.

1. Chính thể chuyên chế tạo ra nền kinh tế nào để tồn tại.

Chính thể chuyên chế đòi hỏi dân chúng phải yếu đuối hơn nhà nước mới tồn tại được, nếu dân chúng mà mạnh mẽ bằng hoặc hơn nhà nước thì sẽ rất nguy hiểm cho chính nhà nước. Nhưng muốn làm cho dân chúng yếu đuối hơn mình, nhà nước chuyên chế phải làm cho dân chúng nghèo nàn cùng cực đồng thời sống phân tán thưa thớt phụ thuộc càng nhiều bao nhiêu vào thiên nhiên càng tốt bấy nhiêu cho nhà nước chuyên chế, tức là dân chúng phải sinh hoạt kinh tế theo phương thức tự túc hoặc không trao đổi gì hết đồng thời phải bị chia rẽ càng sâu nặng bao nhiêu càng an toàn bấy nhiêu cho nhà nước chuyên chế.
Vì thương nghiệp làm cho dân chúng xích lại gần nhau để tạo nên sức mạnh tập thể vốn rất nguy hiểm đối với nhà nước chuyên chế nên muốn tồn tại an toàn, nhà nước này phải cấm đoán thương nghiệp hoặc không cho phép thương nghiệp xuất hiện rồi nảy nở trong dân chúng. Sự thể này đã giải thích cho chúng ta hiểu được tại sao mọi nhà nước chuyên chế, cả cũ lẫn mới, đều có thái độ bài xích đối với thương nghiệp cùng với thương nhân. Ở Đông phương, người ta dùng một danh từ đầy ác cảm để chỉ thương nhân, danh từ đó chính là con buôn!
Việc cấm đoán thương nghiệp làm cho dân chúng buộc phải sống phân tán thành các cộng đồng cô lập, các cộng đồng này chủ yếu sống theo phương thức tự túc dựa vào việc khai thác điền địa, như trồng trọt, chăn nuôi, làm thủ công mỹ nghệ, v. v.. Mỗi cộng đồng này trở thành một thế giới khép kín hoặc đóng cửa với thế giới bên ngoài, từ đó tạo nên nếp sống khép kín cực kỳ bảo thủ, nếp sống này trở thành cơ sở xã hội hết sức vững chắc cho nhà nước chuyên chế tồn tại mãi mãi. Nếu cơ sở này mà bị phá vỡ thì nhà nước chuyên chế cũng sẽ bị tiêu vong. Cái tất yếu này cho chúng ta thấy rằng: chính chính thể chuyên chế đã đưa đến các nền kinh tế tồn tại theo phương thức tự túc hoặc làm cho nền kinh tế nói chung phải chuyển biến thành nền kinh tế tự túc, như nền kinh tế tự nhiên, nền kinh tế phong kiến, nền kinh tế bao cấp, v. v., nếu không có chính thể chuyên chế thì không thể có nền kinh tế tự túc. Cái tất yếu này đã được chứng thực rất tự nhiên bởi lịch sử kinh tế.
Thật vậy, nền chuyên chế phong kiến được thiết lập ở La mã vào thời đại cổ xưa đã làm biến dạng triệt để nền kinh tế hàng hoá đã từng phát triển rực rỡ trước đó để thiết lập nền kinh tế tự túc chủ yếu dựa vào nông nghiệp dẫn đến phân chia Đế quốc La mã thành nhiều vùng lãnh thổ khác nhau; hoặc nền chuyên chế cộng sản được thiết lập ở Đông Âu châu cùng với một số khu vực khác vào giữa thế kỷ XX cũng đã từng làm biến dạng thảm hại nền kinh tế hàng hoá mới xuất hiện trở lại vào thời kỳ đó để thiết lập nền kinh tế tự túc cũng chủ yếu dựa vào nông nghiệp với hàng loạt công xã nông thôn cực kỳ rộng lớn nhưng hết sức tiêu điều dẫn đến kéo lùi nhân loại trở về quá khứ tối tăm lạc hậu làm cho dân chúng khốn khổ điêu linh. Nhưng như ta đã biết, do kinh tế hàng hoá có tính chất tự thân hoặc thích hợp với nhân loại nên chính thể chuyên chế không thể tiêu diệt được kinh tế đó mà chỉ làm biến dạng kinh tế đó thôi với vô số tai hoạ giáng xuống dân chúng.
Vậy do bản chất của nó nên chính thể chuyên chế chỉ thích hợp với nền kinh tế tự túc mà thôi, – sự thể này đã giải thích cho chúng ta hiểu được tại sao nền kinh tế tự túc chỉ tồn tại cùng với nhà nước chuyên chế. Nền kinh tế tự túc cho phép nhà nước chuyên chế tồn tại dai dẳng hoặc có sức tái sinh rất mạnh mẽ, nếu nhà độc tài này mà bị lật đổ thì lại xuất hiện một nhà độc tài khác thay thế nhà độc tài kia. Do sống bằng kinh tế tự túc với nếp suy nghĩ bảo thủ lại bị tước đoạt nặng nề nên dù có lật đổ được một nhà độc tài nào đó, dân chúng cũng chỉ tạo nên được một nhà độc tài mới với một cơ chế nhà nước y như cũ, tức là cũng chỉ tái lập chính thể chuyên chế mà thôi, họ không thể có được cơ sở kinh tế mới với một tư tưởng mới để thiết lập một chính thể khác với chính thể đã bị lật đổ bởi chính họ, họ đành phải thiết lập một nhà nước có cấu trúc như cũ với tên gọi hơi khác một chút cho thích hợp với ý chí tư riêng của nhà độc tài mới, tức là nhà độc tài có thể thay đổi nhưng chính thể chuyên chế lại không thể thay đổi. Sự thể này đã được phát hiện lần đầu tiên bởi Aristote khi nói về nô lệ, nông nô, công nhân, v. v., tức là các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, bị nô dịch trong chính thể chuyên chế: rằng nếu một nông nô nào đó mà lãnh đạo đám đông lật đổ được một chính quyền thối nát nào đó thì họ cũng sẽ chỉ tái lập một thể chế như cũ, rằng đám đông nông nô hoặc làm nông nghiệp nhỏ không có khả năng về kinh tế để trở thành một giai cấp tự nó hoặc cho nó, tức là nó không thể có ý thức về vai trò của nó hoặc không có cơ sở kinh tế để thực hiện một vai trò nào đó dù có ý thức về vai trò đó, rằng cá nhân nào trong đám nông nô mà ngoi lên được cũng sẽ trở thành chủ nô hoặc quan văn cho thể chế chuyên chế 103). Quả thật, nhà độc tài mới có thể tỏ ra dịu hiền hơn nhà độc tài cũ nhưng rồi dần dần lại đâu vào đấy. Bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, lại thúc đẩy nhà độc tài mới đi theo vết xe đổ của nhà độc tài cũ, cũng gây nên những tai hoạ như trước cho dân chúng. Cứ như thế triều đại nọ nối tiếp triều đại kia làm cho chính thể chuyên chế tồn tại dai dẳng. Sự thể này đã biểu hiện rõ ràng qua tất cả các cuộc “cách mạng” đã từng được tiến hành bởi các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, bị nô dịch trong chính thể chuyên chế, tức là các cuộc khởi nghĩa của nô lệ, nông nô, công nhân, v. v., trong toàn bộ lịch sử từ xưa đến nay mà đa số bị dập tắt bởi những hành động dã man tàn khốc của nhà nước chuyên chế hoặc chỉ có thiểu số đi đến thành công nhưng cũng chỉ tái lập chính thể chuyên chế mà thôi với một nhà độc tài mới đã có công lãnh đạo khởi nghĩa lật đổ được nhà độc tài cũ. Nói như thế, tôi muốn khẳng định rằng nền kinh tế tự túc tự nó trở thành cái nền tảng vững chắc nhất cho chính thể chuyên chế tồn tại mãi mãi 104).
Tóm lại, chính thể chuyên chế chỉ mong muốn duy trì nền kinh tế tự túc, qua đó duy trì mãi mãi nhân loại trong trạng thái lạc hậu phổ biến, thậm chí còn kéo lùi nhân loại về quá khứ xa xưa nữa kia. Muốn làm cho chính thể chuyên chế trở nên thịnh vượng, mọi cá nhân bao gồm cả nhà cầm quyền lẫn dân chúng đều phải sống cuộc sống cô tịch, theo đó nhà cầm quyền phải tự kiềm chế được lòng tham của mình để lòng tham của mình đừng tác oai tác quái mà làm bại hoại chính thể, còn dân chúng phải sống phân tán hoặc cách ly nhau bằng kinh tế tự túc để tránh làm thức tỉnh dục vọng mà gây nên rối loạn cùng với nhiều điều lộn xộn khác 105). Nhưng muốn làm được điều này lại cần phải có những tôn giáo thật dịu hiền mới đủ khả năng để giáo hoá mọi cá nhân làm cho mọi cá nhân đều dịu hiền như nhau, nhà cầm quyền phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức theo những tôn giáo này trong khi điều hành chính sự cũng như dân chúng phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức theo những tôn giáo này trong khi lăn lộn kiếm sống; bên trong hoặc bên cạnh cung điện của nhà cầm quyền cũng như nhà ở của dân chúng phải có những ngôi đền thật tĩnh mịch để thực hành những tôn giáo nói trên 106). Nếu chỉ có những tôn giáo hung bạo thì dù dân chúng có sống phân tán bằng kinh tế tự túc hoặc nhà cầm quyền có ý muốn tự kiềm chế dục vọng của mình cũng không thể giữ được sự an bình thịnh vượng cho chính thể này đâu!
Nếu vô tình hoặc miễn cưỡng mà chấp nhận kinh tế hàng hoá thì chính thể chuyên chế sẽ còn gây nên nhiều tai hoạ khủng khiếp hơn nữa cho nhân loại, mà như vậy chính thể này sắp tiêu vong đến nơi rồi, Cách mạng Dân chủ Tự do đang đợi nó ở phía trước!

2. Chính thể chuyên chế với kinh tế hàng hoá.

Vì kinh tế hàng hoá về bản chất chỉ dựa vào sự bình đẳng giữa người với người mà chính thể chuyên chế lại chỉ muốn thủ tiêu sự bình đẳng đó nên không thể tránh khỏi mâu thuẫn gay gắt giữa hai cái đó. Kinh tế hàng hoá tất yếu phải dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này lại dẫn đến sự tước đoạt, sự tước đoạt lại làm trầm trọng thêm sự phân hoá giàu nghèo, làm cho người giàu càng giàu thêm bằng việc tước đoạt đồng thời làm cho người nghèo càng nghèo thêm bởi sự tước đoạt. Ấy thế mà chính thể chuyên chế lại chỉ có bạo lực, mà bạo lực lại rất thích hợp với sự tước đoạt. Vậy chính thể chuyên chế chỉ làm trầm trọng thêm sự phân hoá giàu nghèo mà thôi, nó làm cho cả người giàu lẫn người nghèo đều bị mất cả tự do lẫn an ninh, người giàu luôn luôn lo sợ bị tước đoạt tài sản còn người nghèo lại luôn luôn lo sợ bị tước đoạt mất mạng sống.
Trong khi phân hoá xã hội thành kẻ giàu đối lập thù địch với người nghèo, chính thể chuyên chế cũng làm cho thành thị đối lập thù địch với nông thôn, nó làm cho nông thôn phải phụ thuộc vào thành thị cũng như thành thị tha hồ nô dịch nông thôn.

a. Làm biến dạng quy luật giá trị để xác lập phương thức sản xuất tư bản.
Trước hết chính thể chuyên chế làm biến dạng quy luật giá trị. Muốn tồn tại được, nhà nước chuyên chế phải dùng bạo lực để tước đoạt dân chúng hoặc biến tài sản của dân chúng thành tài sản của mình, tức là quốc hữu hoá tài sản quốc dân rồi lại dùng bạo lực để làm cho tài sản của mình sinh sôi nảy nở thật nhanh chóng, qua đó mà hình thành một lực lượng kinh tế bạo ngược với những phương pháp kinh doanh cơ bản sau đây.

a1. Áp đặt giá cả cho cả người mua lẫn người bán.
Nhà nước chuyên chế thường phải khống chế chặt chẽ hoặc độc quyền kiểm soát các loại hàng hoá cần thiết nhất cho đời sống bao gồm cả sản xuất lẫn tiêu dùng, như năng lượng, tài nguyên, nước sạch, các phương tiện tải chuyển thông tin, v. v.. Nhà nước chuyên chế phải áp đặt giá cả cao ngất cho các hàng hoá đó để làm giàu cho các nhà cầm quyền chuyên chế đồng thời khống chế toàn bộ sinh hoạt kinh tế của dân chúng. Nếu người mua mà không mua các hàng hoá đó của nhà nước chuyên chế thì sẽ không thể mua được các hàng hoá đó của người khác, người khác không có các hàng hoá đó. Người mua buộc phải mua các hàng hoá đó của nhà nước chuyên chế với giá cả cao ngất. Tình trạng này làm cho các công ty tư nhân phải gia tăng chi phí sản xuất dẫn đến doanh lợi cũng như lợi nhuận giảm sút, tức là việc kinh doanh tự do gặp rất nhiều khó khăn bắt nguồn trực tiếp từ việc nhà nước chuyên chế luôn luôn bán hàng hoá với giá cả cao hơn giá trị của nó.
Việc bán quyền sử dụng đối với tiền bạc của nhà nước chuyên chế cũng xảy ra như vậy, cũng là bán hàng hoá với giá cả áp đặt cao hơn giá cả thực tế của nó. Những cá nhân nào muốn vay tiền bạc của nhà nước chuyên chế để sống, tiêu dùng hoặc kinh doanh, vừa phải chịu một tỷ suất lợi tức rất cao làm cho việc kinh doanh tự do vốn đã rất khó khăn lại càng khó khăn hơn với chi phí tín dụng quá cao như vậy, vừa phải thế chấp tài sản có số lượng giá trị lớn hơn rất nhiều so với số lượng tiền bạc mà mình được vay làm cho công việc kinh doanh gặp rất nhiều rủi ro. Thật vậy, chính thể chuyên chế luôn luôn có nhiều điều ngẫu nhiên tai ác bắt nguồn từ bản tính vị kỷ của nhà cầm quyền chuyên chế khiến những người vay khó mà tránh được rủi ro rồi dẫn đến phá sản. Một khi mà bị phá sản sẽ mất hết.
Đối với người bán, nhà nước chuyên chế cũng áp đặt giá cả cho các hàng hoá của họ bằng vô số thủ đoạn khác nhau. Nhà nước chuyên chế luôn luôn mua hàng hoá với giá cả thấp hơn giá trị của nó. Ví dụ các dự án sản xuất nguyên liệu, người ta thoả thuận trước giá cả với người bán để hình thành giá cả hợp đồng nhưng đến mùa thu hoạch người ta lại dùng rất nhiều lý do thích đáng, như đầu ra gặp khó khăn, đầu vào có chi phí quá cao cho năng lượng, v. v., – mà quả thật, sự việc lại đúng như thế, – để áp đặt giá cả xuống thấp hơn giá cả hợp đồng làm cho người bán bị phá sản hàng loạt hoặc chỉ thu được sản phẩm giá trị không đủ để tái sản xuất sức lao động. Cái giá trị chênh lệch giữa giá cả hợp đồng với giá cả thực hiện không thể chui xuống đất hoặc bay lên trời được mà chỉ có thể sa ngã vào tài khoản của các nhà cầm quyền chuyên chế mà thôi.
Khi mua quyền sử dụng đối với lao động của người lao động, nhà nước chuyên chế chỉ chi trả tiền công rất thấp cho người lao động, tức là mua quyền sử dụng lao động với giá cả áp đặt thấp hơn giá cả thực tế của cái quyền đó, làm cho người lao động phải sống một cuộc sống nghèo túng cùng cực. Ai cũng thấy rằng công nhân làm việc cho các công ty quốc doanh thường chỉ nhận được tiền công rất thấp. Nhưng nếu không bán quyền sử dụng lao động của mình cho nhà cầm quyền chuyên chế thì người lao động không thể bán được cái quyền ấy cho người khác. Vả lại, dù có bán được cái quyền ấy cho các công ty tư nhân thì các công ty này cũng dựa vào nhà cầm quyền chuyên chế để chi trả tiền công rất thấp cho người lao động, nhà cầm quyền chuyên chế luôn luôn chỉ bảo vệ những kẻ bóc lột mà thôi. Vậy người lao động đành phải chấp nhận cái giá cả bèo bọt ấy.
Việc mua quyền sử dụng đối với tiền bạc của một số nhà giàu nhẹ dạ cả tin cũng xảy ra tình trạng tương tự. Nhà nước chuyên chế chỉ chi trả cho cái quyền ấy một giá cả thấp hơn giá cả thực tế của nó biểu hiện thành một tỷ suất lợi tức rất thấp đồng thời còn lạm phát tiền tệ bằng giấy để chiếm đoạt một phần tiền bạc của một số nhà giàu kia. Khi xảy ra lạm phát tiền tệ bằng giấy, một số nhà giàu kia chỉ thu lại được một số lượng giá trị nhỏ hơn rất nhiều so với số lượng giá trị mà mình đã cho vay trước đó làm cho cả nhà nước chuyên chế lẫn giới chủ ngân hàng cùng được lợi. Trong nền chuyên chế chỉ có những nhà giàu ngây thơ mới ném tiền bạc của mình vào ngân hàng hoặc thị trường tài chính.
Trong việc phát hành công trái hoặc trái phiếu nhà nước, nhà nước chuyên chế cũng lạm phát tiền tệ bằng giấy làm cho cái tiền tệ này giảm sút giá trị quy ước, qua đó làm cho công trái đang được lưu thông giảm sút giá cả thực tế: công trái này giảm sút giá cả thực tế làm cho những người mua trái phiếu bị tổn thất nặng nề. Việc phát hành cổ phiếu của các công ty quốc doanh cũng chỉ làm tổn thất cho người lao động, nếu không mua thì họ sẽ bị quy chụp thành kẻ tắc trách rồi khó mà tránh khỏi bị đuổi việc, nhưng nếu có mua thì họ cũng chỉ nhận được một giá trị nhỏ hơn giá trị của cái tiền bạc đã được dùng để mua cổ phiếu của các công ty kia.
Ở đây chính thể chuyên chế làm biến dạng quy luật giá trị làm cho quy luật này tác động theo xu hướng cực đoan: làm giàu cho những kẻ bất lương đồng thời bần cùng hoá tất cả những người lương thiện hoặc thúc đẩy kẻ mạnh bóc lột tàn tệ kẻ yếu. Quy luật này đã bị biến dạng thành sự trao đổi sai lệch giá trị theo nguyên tắc ép buộc, không thuận mua mà cũng chẳng vừa bán, theo đó kẻ mạnh bắt buộc người yếu phải mua hàng hoá với giá cả cao hơn giá trị của nó đồng thời phải bán hàng hoá với giá cả thấp hơn giá trị của nó. Chính thể chuyên chế làm cho quy luật giá trị chỉ phát huy được tác dụng tiêu cực đối với xã hội: phân hoá giàu nghèo đồng thời sinh ra các tệ nạn.

a2. Làm giả hàng hoá hoặc sản xuất hàng hoá kém chất lượng.
Cùng với việc áp đặt giá cả cho cả người mua lẫn người bán, nhà nước chuyên chế còn làm giả hàng hoá hoặc sản xuất hàng hoá kém chất lượng, cụ thể là bớt xén năng lượng, ăn cắp nguyên liệu, sử dụng lao động có tay nghề thấp, v. v., tạo ra những hàng hoá kém chất lượng để bán với giá cả cao hơn giá trị của nó. Trong các hàng hoá này phải kể đến các công trình xây dựng cũng như các dịch vụ về giáo dục, y tế, thông tin, v. v.. Nói chung tất cả các hàng hoá nào được tạo ra bởi nhà nước chuyên chế đều kém chất lượng nhưng lại có giá cả rất cao. Nếu có một công ty “quốc doanh” nào đó mà sản xuất được những hàng hoá có chất lượng tốt lại rẻ nữa thì cái công ty ấy thật ra đã bị tư hữu hoá đến tận từng tế bào của nó rồi, chủ sở hữu công ty ấy không phải là nhà nước chuyên chế nữa mà là những cá nhân nào đó, những cá nhân này có thể vẫn làm quan chức cho nhà nước chuyên chế nhưng phải làm nhà kinh doanh chân chính mới có thể tạo ra được các hàng hoá vừa tốt vừa rẻ. Với trường hợp này, danh nghĩa quan chức chỉ làm chỗ dựa cho các chủ sở hữu tiến hành được thuận tiện việc kinh doanh mà thôi, người ta làm quan chức để bòn rút tài sản của dân chúng rồi dùng tài sản bòn rút được để mua cổ phần của các công ty quốc doanh, biến các công ty quốc doanh thành các công ty tư doanh rồi mới có thể kinh doanh nghiêm chỉnh được. Nhưng vì tất cả các công ty tư doanh như vậy chỉ cạnh tranh với nhau theo nguyên tắc chuyên chế nên chỉ có công ty nào mạnh hơn hoặc được bảo kê bởi nhà nước chuyên chế mới tồn tại được.
Lưu ý rằng làm giả hàng hoá khác hẳn hàng hoá làm giả mặc dù hai cái đó có mục đích giống nhau: làm giả hàng hoá là làm ra hàng hoá có chất lượng kém nhưng lại có giá cả rất cao, cao hơn giá trị của nó; còn hàng hoá làm giả lại là hàng hoá có giá trị sử dụng không có lợi hoặc thậm chí còn nguy hiểm cho người tiêu dùng nữa. Tất nhiên việc làm giả hàng hoá mà phát triển thái quá cũng sẽ đưa đến việc tạo ra hàng hoá làm giả.
Ở đây chính thể chuyên chế đã làm biến dạng quy luật giá trị ngay từ quá trình sản xuất, quy luật này vốn đòi hỏi việc sản xuất chỉ phải hao phí sức lao động ở mức độ cần thiết mà thôi, nhưng ở đây quy luật này lại biểu hiện thành hai dạng đối lập nhau phân hoá thành hai cực đối lập nhau: ở cực này, những kẻ mạnh chỉ hao phí sức lao động thấp hơn mức độ cần thiết dẫn đến làm giàu bất chính; còn ở cực kia, những kẻ yếu lại phải hao phí sức lao động cao hơn mức độ cần thiết dẫn đến phá sản hàng loạt rồi trở nên bần cùng, tức là ở đây chính thể chuyên chế làm cho quy luật giá trị tác động theo xu hướng cực đoan làm cho kẻ mạnh dựa vào bạo lực mà trở nên giàu có đồng thời làm cho kẻ yếu bị o ép bởi bạo lực mà trở nên bần cùng.

a3. Làm giả tiền tệ hoặc làm cho tiền tệ bằng giấy giảm sút giá trị quy ước: lạm phát và cất giấu vàng.
Với quyền lực tuyệt đối trong tay, bao gồm cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, lại cộng thêm sự ngu dốt bẩm sinh làm cho bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, nổi lên ngút trời, nhà cầm quyền chuyên chế sẵn sàng lạm phát hoặc phát hành bừa bãi tiền tệ bằng giấy để xây dựng thiên đường cho mình ngay trên địa cầu đồng thời thiết lập luôn cả địa ngục cho dân chúng ngay trước mắt mình nữa làm cho tiền tệ bằng giấy bị giảm sút giá trị quy ước trên mỗi đơn vị của nó.
Quả thật, nhà nước chuyên chế với hệ thống quan chức độc đoán ngày càng đông đảo từ trung ương xuống cơ sở bị thôi thúc bởi lòng tham mù quáng mà luôn luôn bày đặt vô số dự án to lớn nhất đòi hỏi nhà nước này phải chi ra rất nhiều tiền bạc để thực hiện: do thường xuyên bị đe doạ bởi ngày càng nhiều loại kẻ thù khác nhau nên nhà nước chuyên chế phải chi ra ngày càng nhiều tiền bạc cho bộ máy bạo lực (bao gồm cả quân đội lẫn cảnh sát) vốn phải làm phương tiện cho nhà nước chuyên chế tồn tại, để bộ máy đó đối phó với nhiều loại kẻ thù kia; do phải thực hiện chính sách phát triển cho mọi lĩnh vực dân sự, như y tế, giáo dục, xây dựng, v. v., để bảo tồn mình nên nhà nước chuyên chế cũng phải chi ra rất nhiều tiền bạc để thực hiện chính sách đó; do phải dối trá để ru ngủ dân chúng nên nhà nước chuyên chế cũng phải chi ra rất nhiều tiền bạc cho bộ máy tuyên truyền để bộ máy đó tuyên truyền những luận điệu dối trá làm cho dân chúng ngoan ngoãn mà tuân phục; ngoài ra, còn có nhiều lý do khác khiến nhà nước chuyên chế cũng phải chi ra rất nhiều tiền bạc. Nhưng muốn có tiền bạc để chi ra ngày càng nhiều như thế, trước hết nhà nước chuyên chế phải thu vào được ngày càng nhiều tiền bạc. Vậy ở đây cần phải xác định mối quan hệ số lượng giữa cái tiền bạc được thu vào với cái tiền bạc được chi ra.
Trước hết phải khái quát được mối quan hệ đó thành cái định luật này: do nhà nước chuyên chế chỉ kiểm sát dân chúngkhông hề bị kiểm sát bởi dân chúng nên nhu cầu tiêu dùng của nhà nước chuyên chế luôn luôn lớn hơn khả năng sản xuất của toàn thể dân chúng, làm cho cái tiền bạc được thu vào luôn luôn ít hơn cái tiền bạc được chi ra. Sau hết phải giải thích chi tiết cái định luật này. Chính thể chuyên chế luôn luôn làm cho dân chúng chống lại nhà nước ngay từ đời sống kinh tế: đa số dân chúng luôn luôn tìm cách để trốn tránh trách nhiệm đóng góp công sức hoặc tiền bạc của mình cho nhà nước chuyên chế, làm cho cái tiền bạc được thu vào luôn luôn ít hơn cái tiền bạc được chi ra. Vả lại, dù toàn thể dân chúng đóng góp hết khả năng của mình cho nhà nước chuyên chế cũng không thể đủ để thoả mãn được lòng tham mù quáng của nhà nước này, làm cho cái tiền bạc được thu vào luôn luôn ít hơn cái tiền bạc được chi ra. Vốn chỉ có một thứ pháp luật mù quáng, nhà nước chuyên chế vô tình hay hữu ý luôn luôn cho phép các quan chức chuyên chế tha hồ lạm dụng pháp luật đó để trục lợi cho mình: dân chúng có thể phải nộp đủ cho các quan chức chuyên chế nhưng trong các quan chức đó, quan chức này lại có thể chỉ nộp thiếu cho quan chức kia, từ đó làm cho cái tiền bạc được thu vào luôn luôn ít hơn cái tiền bạc được chi ra. Giải thích như vậy đã cho phép kết luận được rằng: nhà nước chuyên chế không thể có cái tiền bạc được thu vào bằng cái tiền bạc được chi ra, lại càng không thể có cái tiền bạc được thu vào nhiều hơn cái tiền bạc được chi ra, mà thực tế chỉ có cái tiền bạc được thu vào ít hơn cái tiền bạc được chi ra. Để bù đắp vào chỗ thâm hụt giữa cái tiền bạc được chi ra với cái tiền bạc được thu vào, nhà nước chuyên chế chỉ có thể phải phát hành tiền tệ bằng giấy với số lượng lớn hơn số lượng cần thiết cho lưu thông, tức là phải lạm phát tiền tệ bằng giấy. Không còn cách nào khác!
Lạm phát làm cho lưu thông hàng hoá bị ngưng lại. Do tiền tệ bằng giấy bị giảm sút giá trị quy ước trên mỗi đơn vị của nó nên những người có hàng hoá không muốn bán hàng hoá, nếu phải bán hàng hoá thì họ không muốn đổi hàng hoá lấy tiền tệ bằng giấy mà chỉ muốn đổi hàng hoá lấy kim loại quý, tức là vàng. Nói như thế tôi muốn khẳng định rằng: lạm phát làm cho lưu thông hàng hoá chỉ đòi hỏi vàng phải làm phương tiện lưu thông chứ không cần tiền tệ bằng giấy làm phương tiện đó. Nhưng chính lạm phát lại cản trở vàng làm phương tiện lưu thông để phải làm phương tiện tích trữ: khi xảy ra lạm phát, người ta đua nhau săn bắt vàng để tích trữ hoặc cất giấu, làm cho vàng gia tăng giá cả; vàng gia tăng giá cả lại cản trở việc dùng vàng vào lưu thông hàng hoá: người ta sẵn sàng bán hàng hoá với giá cả được quy ra vàng nhưng chẳng dại dột gì mà mua hàng hoá với giá cả được quy ra vàng, tức là lạm phát làm cho vàng không được dùng làm tiền tệ mà chỉ được dùng làm hàng hoá, hoặc nói theo một cách khác dễ hiểu hơn: lạm phát làm cho vàng không được dùng làm phương tiện lưu thông mà chỉ được dùng làm phương tiện tích trữ, khiến những người có tiền tệ chỉ muốn dùng tiền tệ làm phương tiện tích trữ mà không muốn dùng tiền tệ làm phương tiện lưu thông: họ chỉ muốn đổi tiền tệ bằng giấy lấy vàng để cất giấu vàng!
Lưu thông hàng hoá làm cho vàng bị kéo ra khỏi lòng đất để đi vào lưu thông, nhưng lạm phát lại đẩy vàng ra khỏi lưu thông để quay trở về lòng đất. Bị dùng làm phương tiện tích trữ để rồi bị cất giấu vào nơi kín đáo an toàn sẽ chẳng khác gì bị chôn cất vào lòng đất, cũng như một người đang sống mà chẳng làm gì để khẳng định nhân tính của mình sẽ chẳng khác gì một người đã chết. Lạm phát còn dẫn đến hàng loạt hệ quả tai ác nữa: 1) Người bán không muốn bán chịu nữa làm cho người mua không thể mua chịu được nữa, hoặc nếu người bán vẫn bán thì phải bán với giá cả cao hơn trước làm cho người mua cũng gặp khó khăn. 2) Các chủ nợ đòi hỏi các con nợ phải thanh toán nợ nần mà các con nợ lại đang thiếu phương tiện thanh toán để có thể thanh toán nợ nần, từ đó dẫn đến những xung đột khốc liệt. 3) Những người làm thuê nhận được tiền công thực tế ít hơn trước dẫn đến mức sống thấp hơn trước. Quyền sử dụng đối với lao động của họ đã bị giảm sút giá cả. Hệ quả này làm cho đời sống của họ khốn khổ hơn trước. 4) Những người có tiền bạc làm tín dụng, bao gồm cả cho vay lấy lãi lẫn đầu tư chứng khoán, cũng nhận được lợi tức thực tế ít hơn trước, tức là quyền sử dụng đối với tiền bạc của họ cũng bị giảm sút giá cả. Ở đây thị trường tài chính nói chung cũng như thị trường chứng khoán nói riêng bị biến dạng hoàn toàn. Hệ quả này làm cho thị trường tài chính nói chung bị rối loạn hoàn toàn. 5) Những người có tài sản đua nhau tích trữ hoặc đầu cơ thực phẩm làm cho thực phẩm gia tăng giá cả, thực phẩm gia tăng giá cả lại làm cho người nghèo khốn đốn hơn trước.
Lạm phát đưa dân chúng xuống địa ngục nhưng lại đưa nhà cầm quyền chuyên chế lên thiên đường. Dân chúng bị mất bao nhiêu cái gì, nhà cầm quyền chuyên chế lại được bấy nhiêu cái đó. Cái giá trị chênh lệch giữa giá cả trước khi lạm phát với giá cả sau khi lạm phát của tất cả các loại hàng hoá không thể chui xuống địa ngục cùng với dân chúng được mà chỉ có thể bay lên thiên đường cùng với nhà cầm quyền chuyên chế mà thôi.
Khác với các thủ đoạn cướp bóc khác, vốn chỉ cướp bóc cục bộ đối với một bộ phận này hay bộ phận khác trong dân chúng, việc lạm phát lại cướp bóc tổng thể đối với toàn thể dân chúng với một mức độ như nhau tuỳ theo tỷ lệ lạm phát mà dân chúng rất khó lường.
Cướp bóc dân chúng đến một mức độ nào đó mà dân chúng không còn gì để ăn nữa bắt đầu phản kháng chống trật tự nô lệ, nhà cầm quyền chuyên chế sẽ phải lạm phát để nuôi sống bộ máy đàn áp đang phình ra ngày càng to lớn hơn. Trong bộ máy này, thực tế có một thiên đường thật sự, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu hoặc thậm chí không làm cũng hưởng, dẫn đến vô số tệ nạn khác nhau. Lạm phát đưa nhà cầm quyền chuyên chế lên thiên đường nhưng lại đưa dân chúng xuống địa ngục: thu nhập vốn đã ít ỏi rồi lại càng ít ỏi hơn nữa mỗi khi xảy ra lạm phát, làm cho các giai cấp lao động ngày càng khốn khổ hơn.
Hãy lưu ý rằng làm giả tiền tệ bằng lạm phát khác hẳn làm giả tiền tệ bằng giấy. Làm giả tiền tệ bằng lạm phát là bằng việc lạm phát, nhà cầm quyền chuyên chế làm cho tiền tệ bằng giấy giảm sút giá trị quy ước biểu hiện thành giá cả leo thang, tức là đánh vào linh hồn của tiền tệ; còn việc làm giả tiền tệ bằng giấy lại là việc làm ra tiền tệ bằng giấy giống cái tiền tệ bằng giấy đã được phát hành bởi nhà nước, tức là đánh vào thể xác của tiền tệ. Cả hai việc này đều có tác dụng tai ác như nhau: đều chiếm đoạt của cải của dân chúng, nhưng hai việc này lại được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau. Việc làm giả tiền tệ bằng việc lạm phát chỉ được thực hiện bởi nhà nước chuyên chế, còn việc làm giả tiền tệ bằng giấy lại chỉ được thực hiện bởi vài ba cá nhân tép diu mà thôi. Ở đây, nếu muốn né tránh được những hệ quả tai ác phát sinh từ lạm phát thì tuyệt đối không nên phát hành tiền tệ bằng giấy để lưu thông thay kim loại quý, chỉ như vậy mới thích hợp với chính thể chuyên chế như đã được trình bày bởi tiết 1 tại mục này. Nhưng nếu làm như vậy thì nhà cầm quyền chuyên chế sẽ khó có thể cướp bóc được nhiều đối với dân chúng. Vậy nhà cầm quyền chuyên chế cần phải phát hành tiền tệ bằng giấy để lưu thông thay kim loại quý, chỉ như vậy nhà cầm quyền chuyên chế mới dễ dàng cướp bóc được dân chúng với một quy mô to lớn nhất mà dân chúng không thể hình dung được.
Vì làm cho lưu thông bị ngưng lại nên lạm phát cũng làm cho sản xuất bị đình trệ. Nhưng dù sản xuất bị đình trệ hay được gia tốc cũng bắt buộc người ta phải tiêu dùng để sống, tức là phải sử dụng tư liệu tiêu dùng. Vậy nếu sản xuất mà bị đình trệ thì sẽ làm cho những hàng hóa nào cần thiết nhất đối với đời sống, mà điển hình nhất thuộc về thực phẩm (food), trở thành hàng hoá quan trọng nhất. Sự thể đó thúc đẩy người ta đua nhau săn bắt thực phẩm để tích trữ hoặc thậm chí còn đầu cơ làm cho ngay cả một nước chuyên chế dồi dào nhất về thực phẩm cũng bị khan hiếm thực phẩm.
Tình trạng khan hiếm thực phẩm làm cho thực phẩm gia tăng giá cả với một mức độ còn cao hơn cả mức độ lạm phát. Khi ấy bắt đầu một cuộc khủng hoảng kinh tế, người ta không vươn lên làm người mà quay trở lại làm một loại thú vật tồi tệ nhất bằng những cuộc cắn xé nhau dã man nhất; hệ quả này tất yếu phải dẫn đến những biến động chính trị. Những biến động đó sẽ đặt ra một vấn đề hệ trọng nhất: cần phải khôi phục chính thể chuyên chế hay phải thiết lập chính thể dân chủ? Giải pháp cho vấn đề này sẽ tuỳ thuộc hoàn toàn vào tình hình thực tế ở từng nước chuyên chế.
Vào giai đoạn khủng hoảng, chính thể chuyên chế luôn luôn bị khủng hoảng về tài chính biểu hiện tổng thể thành động loạn kinh tế, động loạn này diễn biến như thế nào: lâu dài hay mau chóng, sẽ tuỳ thuộc hoàn toàn vào lực lượng đối lập có khả năng nào: yếu kém hay hùng mạnh.
Trong chính thể chuyên chế, phần lớn dân chúng phải sống nghèo khổ, việc kiếm sống rất khó khăn, làm không đủ dùng. Do lo sợ bị hãm hại vào bất cứ lúc nào nên người ta làm ra bao nhiêu thường dùng hết bấy nhiêu, thậm chí còn lạm dùng đến nỗi phải rơi vào nợ nần nữa kia, để nếu chẳng may gặp rủi ro mà chết thì khỏi bị thua thiệt! Từ đó tạo nên nếp sống xa hoa giả tạo trong dân chúng. Trong dân chúng chỉ có một số ít người giàu có, một số ít người này thường dùng kim loại quý (vàng hoặc bạc) làm tài sản chủ yếu, một phần để mở rộng sản xuất kinh doanh, một phần để đề phòng tai hoạ bất ngờ được gây nên bởi nhà cầm quyền chuyên chế. Hễ làm ra được cái gì, họ liền đổi ngay lấy kim loại quý để cất giấu. Do pháp luật mù quáng làm mất hết lòng tin nên người ta phải cất giấu kim loại quý chứ không đưa kim loại này vào lưu thông mà chỉ đưa tiền tệ bằng giấy vào lưu thông thay thế kim loại này. Sự thể này làm cho tiền tệ bằng giấy tràn ngập thị trường với giá trị quy ước giảm sút nghiêm trọng. Nhà cầm quyền chuyên chế lại nhất cử lưỡng tiện. Với quyền lực tuyệt đối trong tay, bao gồm cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhà cầm quyền này liên tục gia tăng các hoạt động cướp bóc dân chúng, đẩy dân chúng vào tình thế phải nạp cống; cùng với việc đó, nhà cầm quyền chuyên chế còn bày đặt vô số loại thuế khoá nặng nề cho dân chúng. Do cũng khiếp sợ dân chúng biết được việc cướp bóc để rồi cướp bóc lại những kẻ cướp bóc nên sau khi cướp bóc được tài sản của dân chúng, nhà cầm quyền chuyên chế phải đổi tài sản cướp bóc được lấy ngoại tệ (tiền tệ ngoại quốc) rồi gửi cho ngân hàng ở các nước dân chủ, những nơi có pháp luật nghiêm minh. Sự thể này giải thích cho chúng ta hiểu được tại sao tiền bạc viện trợ nhiều như nước từ các nước dân chủ tràn vào các nước chuyên chế lại đảo ngược dòng chảy quay trở về các nước dân chủ. Nhiều học giả phản động đã giải thích rằng hiện tượng đó bắt nguồn từ việc các nước dân chủ bóc lột các nước chuyên chế (!) Tôi không tin như vậy mà chỉ nghĩ rằng hiện tượng đó bắt nguồn từ việc nhà cầm quyền chuyên chế cướp bóc dân chúng ở các nước chuyên chế, mà việc cướp bóc như vậy lại chỉ biểu hiện tác động chính trị của chính thể chuyên chế đối với sinh hoạt kinh tế của dân chúng ở các nước đó mà thôi. Có thể có việc các nước dân chủ bóc lột các nước chuyên chế, nhưng việc này chỉ có thể được thực hiện thông qua việc đầu tư để khai thác cả lao động lẫn tài nguyên chứ không thể được thực hiện thông qua việc thu hút tiền bạc viện trợ quay trở về các nước dân chủ. Chỉ có những đầu óc dối trá mới nghĩ như vậy để đánh lạc hướng dân chúng làm cho dân chúng hướng sự căm ghét ra nước ngoài mà không hướng sự căm ghét vào các nhà cầm quyền chuyên chế. Việc gửi ngoại tệ nhiều như nước ra nước ngoài cũng làm cho nội tệ tràn ngập thị trường nội địa ở các nước chuyên chế với giá trị quy ước giảm sút nghiêm trọng. Khi nào không thể gửi được ngoại tệ ra nước ngoài nữa, – trường hợp này xảy ra với tình trạng chuyên chế phổ biến ở tất cả các nước hoặc các nước dân chủ áp dụng các chính sách nhân đạo nhằm chống tham nhũng ở các nước chuyên chế, – nhà cầm quyền chuyên chế sẽ mua kim loại quý để cất giấu, như thế vừa kín đáo vừa an toàn. Nhưng việc mua kim loại quý để cất giấu lại giáng một đòn chí tử vào tiền tệ bằng giấy làm cho cái tiền tệ này lại tiếp tục giảm sút nghiêm trọng giá trị quy ước, tiền tệ bằng giấy nhiều như cỏ rác nhưng lại chỉ có sức mua yếu ớt cùng cực.
Đối với tình trạng bi thảm này, C. S. Montesquieu đã có một phát kiến thiên tài:
Trong một nước chuyên chế, thói độc đoán làm mất lòng tin khiến cho người ta có nhiều bạc thường đem chôn chứ không đem ra lưu thông107).
Quy luật lưu thông tiền tệ phát biểu rằng khối lượng tiền tệ được đưa vào lưu thông bằng tổng số giá cả của tất cả các hàng hoá cần được bán chia cho tốc độ luân chuyển của mỗi đơn vị tiền tệ. Quy luật này vốn phù hợp với ý chí chung của mọi cá nhân khác nhau cấu thành xã hội, nhưng ở đây quy luật này đã bị biến dạng bởi tác dụng tai ác của chính thể chuyên chế. Ở đây tốc độ luân chuyển của mỗi đơn vị tiền tệ chỉ được quyết định bởi nhà cầm quyền chuyên chế, tổng số giá cả của tất cả các hàng hoá cần được bán cũng chỉ được quyết định bởi nhà cầm quyền chuyên chế, nhà cầm quyền này vốn dùng bạo lực để kiểm soát mọi thứ, làm cho khối lượng tiền tệ cần thiết được đưa vào lưu thông cũng chỉ được quyết định bởi chính nhà cầm quyền chuyên chế. Sự thể này biểu hiện tập trung rõ rệt nhất qua việc lạm phát.
Do phải kinh doanh bằng bạo lực mới có thể tồn tại được nên nhà cầm quyền chuyên chế gây nên sự cạnh tranh xiêu lệch hoặc bất bình đẳng với cường độ khốc liệt. Nhờ được bảo đảm bằng bạo lực mà các công ty quốc doanh có sức mạnh ghê gớm đến nỗi các công ty tư nhân không dám cạnh tranh với chúng mà đành phải thích nghi với hiện trạng đau đớn này để tồn tại, tức là các công ty tư nhân đua nhau câu kết với các nhà cầm quyền chuyên chế thuộc mọi cấp bậc để tồn tại, theo đó các công ty tư nhân lớn dựa vào các nhà cầm quyền chuyên chế để áp đặt cho các công ty tư nhân nhỏ, cụ thể là áp đặt giá cả cho cả người mua lẫn người bán, làm giả hàng hoá đồng thời cũng làm giả luôn cả tiền tệ; còn các công ty tư nhân nhỏ đành phải chấp nhận thua thiệt để tồn tại, nếu không thì ít nhất cũng phải làm những điều bậy bạ để tồn tại, như buôn lậu, làm giả hàng hoá, làm giả tiền tệ, bán tài nguyên, bán luôn cả lao động cho các công ty ngoại quốc, v. v., để cung phụng cả nhà cầm quyền chuyên chế lẫn các công ty tư nhân lớn, từ đó gây nên vô số tai hoạ cho xã hội đồng thời làm cho quy luật giá trị bị vi phạm nghiêm trọng. Tất cả các công ty, cả quốc doanh lẫn tư nhân, cả lớn lẫn nhỏ, đều đua nhau bán rẻ cả tài nguyên lẫn lao động cho các công ty ngoại quốc, mỗi cá nhân nhất định chỉ nghĩ đến bản thân mà quên đi kẻ khác. Nếu ở đây mà nói đến cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và nhân đạo, thì thật ngây thơ! Nếu ở đây mà nói đến bảo vệ kẻ yếu thì thật ngây thơ! Nếu ở đây mà nói đến khuyến khích tài năng thì thật ngây thơ! Chỉ ở đây thôi, tư tưởng của Socrate, Platon, Thomas Hobbes, v. v., mới tỏ ra đúng đắn.
Quy luật giá trị phát biểu rằng việc trao đổi hàng hoá phải dựa vào sự hao phí sức lao động bằng nhau làm cho việc sản xuất hàng hoá chỉ đòi hỏi phải hao phí sức lao động ở mức độ cần thiết mà thôi. Ở đây quy luật này đã bị biến dạng hoàn toàn bởi tác dụng chính trị của chính thể chuyên chế. Ở đây việc trao đổi luôn luôn xảy ra giữa một bên chỉ chi ra quá ít để thu vào quá nhiều với một bên phải chi ra quá nhiều để thu vào quá ít, tức là chỉ có sự trao đổi sai lệch giá trị, làm cho việc sản xuất không đòi hỏi phải hao phí sức lao động ở mức độ cần thiết mà lại đòi hỏi phải hao phí sức lao động tuỳ theo địa vị chính trị của những người sản xuất trong xã hội: nếu ở vào địa vị cai trị thì chỉ hao phí sức lao động thấp hơn mức độ cần thiết, còn nếu ở vào địa vị bị cai trị thì phải hao phí sức lao động cao hơn mức độ cần thiết, dẫn đến phân hoá giàu nghèo ngày càng trầm trọng. Sự phân hoá này lại tất yếu phải dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế rồi đến khủng hoảng chính trị.
Vốn chỉ có mâu thuẫn đối kháng giữa người với người, chính thể chuyên chế không thể khắc phục được mâu thuẫn đóchỉ có thể làm gia tăng mâu thuẫn đó. Mâu thuẫn đó gia tăng đến một mức độ nhất định sẽ gây nên khủng hoảng xã hội. Chỉ rất ít người thông minh bẩm sinh mới có thể hiểu biết thấu suốt về khủng hoảng đó, còn lại đại đa số người khác chỉ có thể cảm nhận lơ mơ về khủng hoảng đó. Chính thể chuyên chế phải làm cho khủng hoảng xã hội phát triển hết giới hạn thành khủng hoảng kinh tế mới có thể làm cho đại đa số nhân dân cảm nhận được rõ ràng về khủng hoảng xã hội thông qua việc chịu đựng những hệ quả đau đớn được gây nên bởi khủng hoảng kinh tế.
Về mặt kinh tế, chính thể chuyên chế làm cho khủng hoảng xã hội biểu hiện trần trụi thành khủng hoảng kinh tế, theo đó cả hàng hóa lẫn tiền tệ đều được tập trung hầu hết vào một số ít nhà cầm quyền chuyên chế có thế lực lớn nhất để còn lại đại đa số nhân dân bị đẩy vào tình trạng thiếu thốn ngày càng trầm trọng khiến chính thể chuyên chế phải đối mặt với nguy cơ tan rã.
Vào giai đoạn suy sụp với khủng hoảng kinh tế, chính thể chuyên chế làm cho thu nhập trung bình ngày càng giảm sút đồng thời làm cho giá cả thị trường ngày càng gia tăng. Vì chính thể này đòi hỏi nhà nước chuyên chế phải độc quyền kiểm soát đối với các hàng hóa quan trọng nhất, chẳng hạn như thực phẩm cùng với năng lượng, v. v., để mới có thể tồn tại được nên khi gây ra khủng hoảng kinh tế làm cho thu nhập trung bình bị giảm sút đến mức độ mà đại đa số nhân dân không thể đóng góp thuế khóa cho nhà nước chuyên chế, nhà nước này sẽ buộc phải gia tăng giá cả cá biệt cho các hàng hóa quan trọng nhất để bù đắp cho thất thu thuế khóa. Nhưng vì các hàng hóa quan trọng nhất đóng vai trò chi phối đối với tất cả các hàng hóa khác nên việc gia tăng giá cả cá biệt cho các hàng hóa quan trọng nhất ắt sẽ làm gia tăng giá cả cá biệt cho tất cả các hàng hóa khác, tức là giá cả thị trường gia tăng đồng loạt cho tất cả các hàng hóa khác nhau. Giá cả thị trường ngày càng gia tăng song song với thu nhập trung bình ngày càng giảm sút làm cho đời sống kinh tế ngày càng bế tắc.

b. Thúc đẩy kinh tế đổi chác phát triển cực đoan theo phương thức tư bản đồng thời đẻ ra tín dụng lừa đảo.
Do lấy bạo lực làm phương tiện để tồn tại nên chính thể chuyên chế đã thúc đẩy kẻ mạnh dùng bạo lực để tước đoạt kẻ yếu: biến kẻ yếu thành người vô sản phải đi làm thuê để sống đồng thời biến tài sản tước đoạt được thành tư bản làm cho bản thân kẻ tước đoạt biến thành nhà tư bản, tức là chính thể chuyên chế đã trực tiếp tạo ra phương thức sản xuất tư bản một khi chính thể này chấp nhận kinh tế hàng hoá.
Để hiểu được sự thể này, chúng ta cần quay trở lại tìm hiểu quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản.
Vào các thế kỷ XIV, XV và XVI, sau khi kích thích mạnh mẽ sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, chính thể chuyên chế phong kiến ở Tây Âu châu đã thúc đẩy các tập đoàn nhà giầu dùng bạo lực để tước đoạt hàng loạt nhà nghèo, biến hàng loạt nhà nghèo thành một đội quân vô sản đông đảo đồng thời biến tài sản đã tước đoạt được thành tư bản, tức là thiết lập phương thức sản xuất tư bản ở Tây Âu châu. Quá trình này bao gồm việc tước đoạt điền địa của nông dân (kể cả việc tịch thu điền địa mà không bồi thường cho nông dân), việc tước đoạt điền địa của Giáo hội Công giáo, việc cướp bóc các tàu thuyền buôn bán trên khắp các đại dương, việc áp dụng pháp chế bạo ngược đối với những người bị tước đoạt từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, việc săn bắt người da đen ở Phi châu để bán cho các thuộc địa ở Mỹ châu làm nô lệ, việc chinh phục thuộc địa rồi áp đặt chế độ thực dân cho các thuộc địa để cướp bóc các thuộc địa, v. v., tất cả xảy ra như thế nào đều đã được mô tả rất chân thực bởi K. Marx, nhưng ông này đã quên mất một điều cực kỳ quan trọng, thậm chí còn quan trọng nhất, rằng việc tước đoạt bằng bạo lực đối với nhà nghèo chỉ có thể xảy ra được trong chính thể chuyên chế mà thôi, nếu không có chính thể chuyên chế thì sẽ không thể xảy ra được quá trình tước đoạt bằng bạo lực như vậy đâu. Ở đâu có chính thể chuyên chế, ở đó ắt sẽ có sự tước đoạt bằng bạo lực. Sự thể này không thể hình dung nổi đối với các nhà marxist! Ngay cả việc quốc hữu hoá tài sản quốc dân ở các nước có nền chuyên chính vô sản cũng thế thôi.
Thật vậy, chính thể chuyên chế phong kiến đã thúc đẩy các tập đoàn nhà giàu dùng bạo lực để tước đoạt hàng loạt nhà nghèo, tạo ra các loại tư bản tư nhân. Việc tước đoạt như vậy chỉ chấm dứt khi nổ ra các cuộc Cách mạng Dân chủ Tư sản với việc thiết lập chính thể dân chủ cho giai cấp tư sản, như Cách mạng Anh 1640, Cách mạng Mỹ 1776, Cách mạng Pháp 1789, v. v., nhưng chính thể chuyên chế vẫn được áp dụng cho giai cấp làm thuê, làm cho giai cấp này bị mất hết nhân quyền. Tình hình này lại kích thích giai cấp tư sản bóc lột giai cấp làm thuê với một mức độ ngày càng lớn biểu hiện qua tiền công bị giảm sút ngày càng trầm trọng cùng với ngày lao động bị kéo dài thái quá dẫn đến huỷ hoại giai cấp làm thuê về cả thể xác lẫn tinh thần, làm cho giai cấp này phải thường xuyên nổi loạn chống cả giai cấp tư sản lẫn nền dân chủ tư sản.
Nền dân chủ tư sản, về thực chất, chỉ là nền chuyên chế của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản, đúng như các nhà marxist đã khẳng định. Tuy nhiên, các nhà marxist đã sai lầm hoàn toàn khi chủ trương dùng bạo lực để tiêu diệt nền dân chủ đó mà không chủ trương dùng ý chí để cải tạo nền dân chủ đó thành nền dân chủ nhân dân với nhân quyền thuộc về mọi cá nhân. Do chủ trương dùng bạo lực để tiêu diệt nền dân chủ tư sản đồng thời thiết lập nền chuyên chế vô sản nên các nhà marxist đã góp phần kéo lùi nhiều dân tộc từ nền chuyên chế phân quyền quay trở về nền chuyên chế tập quyền biểu hiện thành chế độ độc tài với vô số tai hoạ khủng khiếp nhất.
Do bị bóc lột nặng nề về kinh tế lại bị nô dịch nặng nề về tinh thần nên giai cấp làm thuê đã tạo nên các tổ chức cách mạng cực kỳ nguy hiểm với một hệ tư tưởng vừa sai lầm vừa khát máu, các tổ chức này luôn luôn đe doạ dùng bạo lực để tiêu diệt cả giai cấp tư sản lẫn nền dân chủ tư sản. Ở các nước tư bản văn minh, nhờ có văn hoá cao mà người ta đã thiết lập được vững chắc nền dân chủ tư sản, nhà nước dân chủ tư sản đã loại trừ được mối đe doạ kia bằng việc cải cách chế độ chính trị, theo đó nhà nước này đã mở rộng nhân quyền cho giai cấp làm thuê, cho phép giai cấp này thành lập đảng phái đồng thời tham gia cả bầu cử lẫn ứng cử làm cho giai cấp này bình đẳng chính trị với giai cấp tư sản, qua đó làm cho nền dân chủ tư sản chuyển biến thành nền dân chủ nhân dân hoặc nền dân chủ tự do với một nhà nước phúc lợi chung mà chúng ta đã thấy ngày nay. Tất nhiên việc cải cách chế độ chính trị như vậy chủ yếu được thúc đẩy trực tiếp bởi nguyên nhân kinh tế mà chúng ta đã biết trước đây, trong phần nói về việc tín dụng hoá tiền tệ (yêu cầu về sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để áp dụng chế độ tín dụng). Do được bảo đảm tất cả nhân quyền bởi một nền dân chủ hoàn toàn mới nên các giai cấp lao động đã phát huy được sức sáng tạo đầy chất nhân văn của mình, chính họ đã tạo nên những thành tựu rực rỡ về kinh tế, chính trị và văn hoá (khoa học và nghệ thuật). Cũng chính nhờ đó mà họ đã tạo nên được rất nhiều quốc gia tự do hết sức thịnh vượng ở Mỹ châu (Mỹ, Canada, Mexico, v. v.), Âu châu (Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà lan, Thuỵ sỹ, Na uy, Thuỵ điển, Phần lan, v. v.) và Á châu (Nhật bản, Nam Triều tiên, Đài loan, Ấn độ, Israel, v. v.) mà chúng ta đang thấy ngày nay. Ngược lại, ở các nước tư bản yếu kém với tình trạng dã man phổ biến vẫn còn nền chuyên chế phong kiến với nền văn hoá lạc hậu, người ta lại tiếp tục sa đà vào sự tước đoạt triền miên. Do bị đầu độc bởi những tư tưởng cực đoan, coi trọng bạo lực hoặc dung túng giết chóc, nên các tổ chức cách mạng của giai cấp làm thuê ở các nước này đã lôi kéo được quần chúng làm thuê dùng bạo lực để tiêu diệt nền dân chủ tư sản vừa mới xuất hiện chưa được củng cố rồi thiết lập một nền chuyên chế tai ác nhất từ xưa đến nay, như nền chuyên chế fascist cùng với nền chuyên chế communist. Trong các nền chuyên chế này, nhà nước chuyên chế nhân danh dân chúng đã trực tiếp dùng bạo lực để tước đoạt toàn thể dân chúng, biến toàn thể dân chúng thành người vô sản phải làm thuê cho nhà nước chuyên chế để sống đồng thời biến toàn bộ tài sản đã tước đoạt được thành một loại tư bản duy nhất: Tư bản Nhà nước, qua đó thiết lập một thứ chủ nghĩa tư bản cực đoan nhất với sự tham tàn bạo ngược chưa từng có, đó là chủ nghĩa tư bản nhà nước, trong đó nhà nước chuyên chế làm một nhà tư bản duy nhất còn lại toàn thể dân chúng trở thành người làm thuê cho nhà nước đó. Nhân danh một thứ tư tưởng vừa sai lầm vừa nguy hiểm, nhà nước này đã thủ tiêu tất cả những gì tốt đẹp nhất thuộc về nhân loại: cá tính sáng tạo, sức sống dân tộc, thành tựu văn hoá, v. v.. Sự thể này cho thấy rằng ở các nước lạc hậu, việc tích luỹ nguyên thuỷ cho tư bản xảy ra muộn mằn hơn nhưng khốc liệt hơn với những hệ quả tai ác hơn: tất cả những gì tốt đẹp nhất đều bị quy chụp thành phản động rồi bị tiêu diệt không thương tiếc. Mọi hoạt động kinh tế, cả sản xuất lẫn trao đổi, đều bị kiểm soát độc quyền bởi nhà nước chuyên chế. Ở đây không hề có bất cứ một chút tự do nào, ngay cả hình bóng của tự do cũng không có nữa, làm cho chế độ nô lệ có một hình thái điển hình nhất từ xưa đến nay; mọi biểu hiện chống đối đều bị chu di thẳng tay hoặc công khai hoặc bí mật làm cho quần chúng nô lệ luôn luôn phải sống với tâm trạng khiếp sợ thường trực; nhà nước chuyên chế muốn sử dụng công nhân ra sao cũng được, đúng như Mao Trạch Đông đã từng nói: “quần chúng chỉ như đất sét để cho lãnh tụ nhào nặn ra sao tuỳ ý”. Thật vậy, nhà nước chuyên chế ở nước này có thể sử dụng công nhân vào việc khai thác tài nguyên ở những vùng lãnh thổ xa xôi heo hút đầy lam sơn chướng khí, mà cũng có thể đem bán công nhân như bán một thứ hàng hoá cho nhà nước chuyên chế ở các nước khác để lấy ngoại tệ. Nô lệ cổ xưa ở Hy lạp, La mã, Ai cập, Ấn độ, Babylone, v. v., chưa chắc đã nô lệ bằng nô lệ hiện đại tại các nước chuyên chế hiện đại vốn có chủ nghĩa tư bản nhà nước đâu. Nếu ở đây mà nói đến nhân tính hoặc nhân quyền thì thật ngây thơ!
Tóm lại, chính thể chuyên chế đã trực tiếp đẻ ra phương thức sản xuất tư bản rồi lại thúc đẩy phương thức sản xuất này phát triển theo xu hướng cực đoan, nó thúc đẩy giai cấp tư sản bóc lột thậm tệ người lao động với mức độ ngày càng lớn làm cho người lao động phải sống một cuộc sống mất hết nhân tính, đồng thời cũng thúc đẩy nhà cầm quyền chuyên chế sử dụng những biện pháp đẫm máu để cai quản dân chúng làm cho dân chúng phải nhắm mắt mà phục tùng. Từ đó dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế với những cơn động kinh khủng khiếp của của cải xã hội.
Ngoài ra chính thể chuyên chế còn đẻ ra tín dụng lừa đảo. Cả việc mua lẫn việc bán quyền sử dụng đối với tiền bạc đều chỉ mang lại lợi lộc cho nhà cầm quyền chuyên chế. Đối với việc mua cái quyền đó, nhà nước chuyên chế sẽ lạm phát tiền tệ bằng giấy làm cho tiền bạc của người bán phải giảm sút giá trị. Đối với việc bán cái quyền đó, nhà nước chuyên chế áp đặt những điều kiện nghiệt ngã nhất để mang lại lợi lộc nhiều nhất cho nhà cầm quyền chuyên chế đồng thời cản trở dân chúng hoạt động kinh doanh tự do.
Do chỉ có một thứ pháp luật mù quáng làm mất hết lòng tin nên chính thể chuyên chế làm cho những người có tài sản không dám chuyển giao tài sản của mình cho người khác sử dụng để lấy lợi tức, nếu những người có tài sản mà liều lĩnh làm như vậy thì sẽ xảy ra một trong các trường hợp sau đây: thứ nhất, họ sẽ bị chiếm đoạt hết bởi đám lưu manh đã câu kết ngấm ngầm với nhà cầm quyền chuyên chế; thứ hai, họ sẽ phải câu kết ngấm ngầm với nhà cầm quyền kia để áp đặt một tỷ suất lợi tức cao ngất cho những người nào sử dụng tài sản của họ vào việc kinh doanh; thứ ba, họ sẽ gây nên lạm phát hoặc giảm phát tuỳ theo họ quan hệ như thế nào với nhà cầm quyền kia, nếu quan hệ thân thiện thì sẽ xảy ra giảm phát còn nếu quan hệ thù địch thì chắc chắn sẽ xảy ra lạm phát. Cả ba trường hợp đều làm cho tín dụng không thể phát triển được bình thường, mà như vậy sẽ kìm hãm kinh tế hàng hoá làm cho kinh tế đó không phát triển được hoặc rơi vào rối loạn. Với một thứ pháp luật mù quáng, chính thể chuyên chế còn đẻ ra đám lưu manh tài chính chuyên câu kết ngấm ngầm với nhà cầm quyền để lừa gạt mà chiếm đoạt tài sản của một số ít nhà giàu trong xã hội. Tình hình này lại buộc nhà giàu phải câu kết với nhà cầm quyền để bóc lột tàn tệ nhà nghèo làm cho sự phân hoá giàu nghèo diễn biến trầm trọng hơn. Nhưng do cái tất yếu tự nhiên của chính thể chuyên chế nên sớm muộn nhà giàu cũng bị hãm hại như nhà nghèo, ở đây cả nhà giàu lẫn nhà nghèo đều bị hãm hại như nhau bởi chính thể chuyên chế.
Thật vậy, việc phát hành công trái mới thật nhân đạo làm sao! Không mua không được! Nếu không mua thì sẽ bị quy chụp thành một kẻ xấu xa đồi bại, như bất mãn, phản động, chống chế độ, chống tổ quốc, chống nhân dân, v. v.! Nếu có mua thì chỉ vài ba ngày sau tiền tệ bằng giấy sẽ bị giảm sút giá trị quy ước bởi lạm phát làm cho công trái trở thành giấy lộn. Ở đây nhà cầm quyền chuyên chế đã ngạo mạn đồng nhất mình với nhân dân để cướp bóc nhân dân, đã ngạo mạn đồng nhất mình với tổ quốc để phá hoại tổ quốc, đã ngạo mạn đồng nhất mình với đạo đức để chà đạp đạo đức. Thực tế ở đây nhà cầm quyền chuyên chế đã dùng công trái vào mua quyền sử dụng đối với tiền bạc của dân chúng để chiếm đoạt cái tiền bạc ấy bằng việc lạm phát tiền tệ bằng giấy.
Việc các công ty quốc doanh phát hành cổ phiếu mới thật thông minh làm sao! Không mua không được! Nếu không mua thì sẽ bị quy chụp thành kẻ tắc trách, mà đã tắc trách làm sao mà tránh khỏi bị đuổi việc! Nếu có mua thì người lao động chỉ mua được một số ít cổ phiếu bằng cái tiền công ít ỏi của mình, thành ra hầu hết chẳng có vai trò gì đáng kể đối với công ty quốc doanh đã được cổ phần hoá, đa số cổ phiếu rơi vào một số ít chủ sở hữu cũ làm cho một số ít chủ sở hữu này chiếm giữ được quyền lực khống chế đối với công ty đó. Thật ra, việc các công ty quốc doanh phát hành cổ phiếu để cổ phần hoá các công ty này chỉ làm thay đổi tính chất cho chủ sở hữu mà thôi; trước cũng như sau, quyền sở hữu đối với các công ty này vẫn luôn luôn thuộc về các nhà cầm quyền chuyên chế, chỉ khác ở chỗ là nếu trước kia các chủ sở hữu chỉ tồn tại rất trừu tượng biểu hiện trừu tượng thành “nhà nước” thì bây giờ các chủ sở hữu lại tồn tại rất cụ thể biểu hiện cụ thể thành những cá nhân bằng xương bằng thịt hẳn hoi! Trước cổ phần hoá, chủ sở hữu luôn luôn có thái độ lạnh nhạt đối với công ty để trục lợi; còn sau cổ phần hoá, chủ sở hữu lại có thái độ nhiệt tâm đối với công ty để trục lợi. Về mặt chính trị, những cá nhân này vẫn nắm quyền lực chuyên chế như trước đối với xã hội. Thật ra, việc cổ phần hoá các công ty quốc doanh chỉ xác định rõ ràng mỗi quan chức chuyên chế đang sở hữu bao nhiêu phần trăm hoặc một phần bao nhiêu tài sản “nhà nước” mà thôi chứ tuyệt đối không hề chuyển quyền sở hữu đối với tài sản đó cho những người lao động như những luận điệu tuyên truyền được tuyên truyền trên các phương tiện tuyên truyền được kiểm soát chặt chẽ bởi nhà nước chuyên chế. Trước cũng như sau, “tài sản nhà nước” vẫn thuộc về các quan chức này, ngoài việc chiếm đoạt được tài sản của “nhà nước”, các quan chức này còn chiếm đoạt nốt cả cổ phần của người lao động nữa. Thực tế ở đây nhà cầm quyền chuyên chế dùng cổ phiếu để xác định cụ thể mỗi nhà cầm quyền này sở hữu một phần bao nhiêu tài sản của “nhà nước” đồng thời chiếm đoạt được bao nhiêu tiền công của người lao động.
Do khống chế nền kinh tế bằng quyền lực chuyên chế như thế nên nhà cầm quyền chuyên chế làm biến dạng nghiêm trọng thị trường chứng khoán, tức là chính thể chuyên chế cũng làm cho thị trường chứng khoán bị biến dạng nghiêm trọng. Với hệ thống pháp luật mù quáng: tập trung cả ba quyền lực khác nhau (lập pháp, hành pháp và tư pháp) vào một cá nhân duy nhất hoặc một nhóm cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ, chính thể chuyên chế chỉ có một môi trường kinh tế hết sức mù mờ làm cho tất cả các thông tin về từng doanh nghiệp cá biệt luôn luôn bị bóp méo thành các thông tin sai lạc. Những thông tin này làm cho giá cả của chứng khoán phụ thuộc vào mánh khoé lừa đảo của các thế lực đen tối chứ không phụ thuộc vào giá trị thực tế của chính doanh nghiệp kia. Thật vậy, nhờ có quyền lực tuyệt đối mà nhà cầm quyền chuyên chế nắm luôn cả độc quyền thông tin; độc quyền này cho phép nhà cầm quyền chuyên chế tha hồ thao túng tất cả các loại thông tin khác nhau, tình hình này bắt buộc người ta phải tin rằng “thật thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm” khiến mỗi doanh nghiệp cá biệt có thể mua chuộc nhà cầm quyền chuyên chế để đưa ra các cáo bạch chứa đựng thông tin sai lạc về mình, từ đó làm cho giá cả của chứng khoán phụ thuộc vào mánh khoé lừa đảo như vừa nói. Ở đây chứng khoán chỉ gia tăng giả cả khi thuộc về nhà cầm quyền nhưng sẽ lại giảm sút giá cả khi thuộc về dân chúng làm cho lưu thông chứng khoán luôn luôn bị ách tắc, hầu như không có sự giao dịch trong sạch mà chỉ có những mánh khoé lừa đảo thôi, trong đó phần thắng luôn luôn thuộc về nhà cầm quyền chuyên chế. Hệ quả này lại làm trầm trọng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội: nhà giàu càng giàu thêm nhưng nhà nghèo lại càng nghèo thêm.
Chính thể chuyên chế còn kích thích người ta khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng thời phá hoại không thương tiếc môi trường sống. Vì những kẻ phá hoại đã biết cung phụng nhà cầm quyền chuyên chế nên nhà cầm quyền này chỉ có thể phải dung túng những hành động phá hoại đối với cả tài nguyên thiên nhiên lẫn môi trường sống. Cứ như thế, hành động phá hoại tái diễn với một quy mô ngày càng mở rộng cộng với một cường độ ngày càng lớn dẫn đến nhiều loại thiên tai khác nhau. Ai cũng thấy rõ ràng rằng thiên tai thường xảy ra rất nhiều ở các nước chuyên chế, sự thể này khiến tôi tin tưởng rằng thiên tai cũng bắt nguồn từ chính thể chuyên chế, theo đó các chính quyền hung bạo đã khuyến khích người ta tuyên chiến với thiên nhiên khiến thiên nhiên phải phản công bằng các vụ thiên tai khủng khiếp, như hạn hán, lũ lụt, bão tố, địa chấn, v. v.. Nhà cầm quyền chuyên chế đã có nơi trú ẩn an toàn rồi, chỉ có dân chúng mới phải hứng chịu tai hoạ mà thôi. Chính thể chuyên chế không chỉ có chiến tranh giữa người với người mà còn có cả chiến tranh giữa người với thiên nhiên nữa, từ đó tất yếu phải dẫn đến việc phá hoại tất cả các nguồn gốc tạo ra của cải, cả lao động lẫn tài nguyên.
Rất ít người, thậm chí hầu như không có ai có thể hình dung được rằng việc khai thác bừa bãi tài nguyên ở Cuba hoặc Venezuela lại có thể gây nên những cơn bão táp khủng khiếp tràn vào các nước thuộc Mỹ châu, như Mexico, Mỹ, Canada, v. v., cùng với những đám cháy khổng lồ xảy ra ở các nước đó. Cũng chẳng mấy ai hình dung được rằng việc khai thác bừa bãi tài nguyên ở Tàu quốc, Bắc Triều tiên, Việt nam, Lào, Burma (Myanmar), Iran, Syria, Zimbabwe, v. v., lại có thể gây nên thiên tai cho nhiều nơi trên khắp thế giới!
Do môi trường sống bị phá hoại nghiêm trọng bởi nhiều phương tiện độc hại khác nhau nên đa số dân chúng phải sống rất bẩn: làm bẩn, ăn bẩn, ở bẩn, ngủ bẩn, đẻ bẩn, v. v., mọi hoạt động đều bẩn, dẫn đến nhiều bệnh tật hiểm nghèo, những bệnh tật này vừa làm cho đa số dân chúng phải chết non vừa làm cho nhân loại bị thoái hoá nòi giống. Sự thể này đã giải thích được tại sao dân chúng ở các nước chuyên chế thường rất còi cọc: vừa còi cọc vừa yếu ớt. Điều kiện sống quá nghiệt ngã (tình trạng đói kém cộng với chính trị hà khắc lại thêm môi trường sống bị ô nhiễm nặng) đã dẫn đến hiện tượng đó.
Ở các nước chuyên chế đang tiến hành công nghiệp hoá, những tai hoạ khủng khiếp nhất xảy ra đặc biệt phổ biến, biểu hiện rõ rệt nhất qua các vụ bạo lực đẫm máu cùng với vô số tai nạn khác nhau, trong đó tai nạn giao thông thể hiện rõ ràng nhất cái pháp luật mù quáng làm cho người ta đâm đầu vào nhau mà chết thảm khốc. Cái đó có thể được gọi là Chiến tranh Dân sự!

3. Kích thích nếp sống xa hoa.

Do chỉ có thiểu số cai trị đa số bằng bạo lực nên chính thể chuyên chế làm cho xã hội lúc nào cũng bị chi phối bởi nỗi khiếp sợ hoặc nỗi khiếp sợ luôn luôn ám ảnh mọi cá nhân mặc dù nhiều người chỉ cảm nhận được rất lơ mơ sự khiếp sợ mà thôi. Nhưng theo bản năng, người ta vẫn cảm thấy khiếp sợ khi sống trong chính thể chuyên chế. Ở đây tự do cá nhân hoàn toàn không tồn tại đã đành nhưng ngay cả an ninh tập thể cũng không được bảo đảm, tai hoạ bất ngờ có thể giáng xuống mỗi cá nhân vào bất cứ lúc nào làm cho mọi cá nhân đều vừa sợ chết vừa sợ bị tước đoạt mất hết tất cả những gì mà mình đang có. Tình hình này kích thích mạnh mẽ mọi cá nhân tiêu dùng thác loạn để khỏi bị tước đoạt bởi đám người xấu hoặc nếu chẳng may mà chết thì không bị thua thiệt! Thế là người người tiêu dùng thác loạn, nhà nhà tiêu dùng thác loạn, tất cả đều tiêu dùng thác loạn, tức là chính thể chuyên chế kích thích dân chúng sống theo nếp sống xa hoa với việc tiêu dùng vừa lãng phí vừa phù phiếm. Tiêu dùng lãng phí thể hiện qua việc tiêu dùng không hết giá trị sử dụng của những hàng hoá tiêu dùng đã mua được, tiêu dùng phù phiếm thể hiện qua việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ. Nhà giàu xa hoa đã đành nhưng ngay cả nhà nghèo cũng xa hoa, họ xa hoa để thể hiện ta đây chẳng kém gì ai mặc dù càng xa hoa họ càng bộc lộ thân phận mong manh của mình. Thân phận mong manh của họ cộng với bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, vốn có ở mọi cá nhân đã kích thích họ sống theo nếp sống xa hoa, họ tiêu dùng hết tất cả những cái mà mình có được hoặc thậm chí còn lạm dùng đến nỗi phải mắc vào nợ nần để nếu chẳng may mà gặp tai hoạ thì sẽ không bị thua thiệt. Sự nghèo nàn về cả vật chất lẫn tinh thần khiến người ta dễ dàng tin rằng chết là hết mà!
C. S. Montesquieu đã phát hiện được một sự thật thú vị: “ở các nước chuyên chế và các nước quý tộc, không ai mong muốn được bình đẳng. Mỗi người chỉ cố vươn lên địa vị bề trên để làm thầy hoặc làm chủ kẻ khác. Họ chẳng nghĩ đến nếp sống thanh đạm. Chỉ có những kẻ bị phá sản bởi tiêu xài trác táng mới đành phải chịu sống nếp sống thanh đạm mà thôi (...) còn những kẻ đang thèm khát sự xa hoa lại chẳng ham thích gì nếp sống thanh đạm, thậm chí họ còn khinh rẻ nếp sống thanh đạm rồi xa lánh kẻ nghèo nàn nữa kia. Những kẻ khốn khó đang hau háu nhìn vào các nhà giàu rồi nhìn lại những kẻ cùng khổ như mình, họ chỉ ghét sự nghèo nàn của họ mà thôi. Họ chẳng yêu mà cũng chẳng biết cái gì làm nên sự nghèo nàn ấy ...” 108).
Ở đây chẳng có cá nhân nào yêu mến nếp sống thanh đạm cả! Trái lại, hầu hết người ta chỉ ham thích – một cách bản năng – sống theo nếp sống xa hoa. Nếp sống xa hoa biểu hiện rõ rệt nhất qua tất cả các nghi lễ diễn ra trong xã hội, như tang lễ, hôn lễ, hội lễ, v. v.. Ở đó, người ta chè chén bạt mạng rồi đánh nhau lẫn lộn, nếu thua trận thì phải đi cứu chữa kéo theo rất nhiều phí tổn khác, còn nếu thắng trận thì lại phải xoay xở để khỏi bị bắt bớ tù đày. Sau những cuộc chè chén như vậy, các chủ chi hoặc những người chủ trì phải làm việc cật lực để trả nợ dẫn đến vô số điều tồi tệ khác.
Trong chính thể chuyên chế, người chết thường để lại di sản của mình cho thân nhân chứ không để lại di sản của mình cho tha nhân. Ở đây bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, làm cho mỗi cá nhân chỉ nhìn thấy chính mình mà thôi.
Rút cục lại, qua phân tích tác động của chính thể chuyên chế đối với đời sống kinh tế của nhân loại, chúng ta thấy: một mặt, chính thể này làm cho mọi lao động nói chung đều bị tha hoá chứ không phải chỉ có lao động làm thuê bị tha hoá như K. Marx đã nói khi mô tả sai lạc nền kinh tế tư bản (K. Marx không hề biết đến chế độ chính trị có tác dụng như thế nào đối với đời sông kinh tế); mặt khác, chính thể này chỉ thích hợp với nền kinh tế tự túc mà không thích hợp với nền kinh tế hàng hoá, nếu bất đắc dĩ mà chấp nhận nền kinh tế hàng hoá thì chính thể chuyên chế chỉ có tác dụng cực kỳ tai ác đối với nhân loại sống bằng nền kinh tế này. Trước hết, nó làm biến dạng kinh tế đổi chác với quy luật giá trị để đẻ ra nền kinh tế tư bản; thứ hai, nó thúc đẩy nền kinh tế này phát triển theo xu hướng cực đoan với những hệ quả tàn khốc nhất; thứ ba, nó thúc đẩy các cá nhân làm hại lẫn nhau: nhà giàu bóc lột tàn tệ nhà nghèo bằng bạo lực làm cho nhà nghèo sẵn sàng làm hại nhà giàu cũng bằng bạo lực, nếu không làm hại được nhà giàu như vậy thì nhà nghèo sẽ càng nghèo thêm, từ đó gây nên khủng hoảng kinh tế với các cuộc chiến tranh khốc liệt giữa người với người; thứ tư, nó thúc đẩy nhân loại tuyên chiến với thiên nhiên làm cho thiên nhiên phải phản ứng chống lại nhân loại bằng các vụ thiên tai khủng khiếp cùng với vô số bệnh tật hiểm nghèo; thứ năm, nó kích thích nhân loại sống theo nếp sống xa hoa, v. v.. Nhưng nền kinh tế hàng hoá lại thích hợp với thuộc tính tự nhiên của nhân loại làm cho nhân loại phải sống bằng kinh tế hàng hoá mới trở thành nhân loại. Vậy muốn làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển lành mạnh, cần phải xoá bỏ chính thể chuyên chế.
Chính thể chuyên chế chỉ có tác dụng kìm hãm xã hội, làm cho xã hội vận động lẩn quẩn trong cái vòng tròn trì trệ. Muốn thoát ra khỏi cái vòng tròn ấy, không còn lối thoát nào khác ngoài việc xoá bỏ chính thể này để thiết lập chính thể dân chủ. Chỉ như vậy mới làm cho nhân loại thật sự trở thành nhân loại.

II – CHÍNH THỂ CHUYÊN CHẾ QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ.

1. Đời sống chính trị.

Chính thể chuyên chế tước bỏ toàn bộ quyền lực chính trị của toàn thể dân chúng, đại đa số dân chúng không được tham gia mà cũng không được quản lý bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước luôn luôn thuộc về một cá nhân duy nhất hoặc một nhóm nhỏ cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ. Ở đây chỉ có trật tự nô lệ mà thôi, theo đó nhà nước làm chủ dân chúng chứ không phải dân chúng làm chủ nhà nước.
Bộ máy nhà nước vận hành theo một cơ chế cực kỳ chuyên chế mà chỉ những kẻ dốt nát bất tài vô đạo mới lọt vào được, nó loại bỏ mọi tài năng chân chính. Nếu không biết chui luồn hoặc không giành được cảm tình của bề trên thì đừng hòng mà ngoi lên được, dù có học vấn cao ngất trời cũng thế thôi. Sự thể này giải thích cho chúng ta hiểu được tại sao trong chính thể chuyên chế, các nhà lãnh đạo thường có học vấn rất thấp hoặc thậm chí không có học vấn, còn những người có học vấn thật sự lại thường bị loại ra khỏi bộ máy nhà nước.
Chúng ta hãy hình dung nhà cầm quyền chuyên chế thâu tóm vào mình toàn bộ quyền lực tuyệt đối đòi hỏi phải được thừa hành bởi những thuộc hạ trung thành tuyệt đối đối với nhà cầm quyền này, mà lòng trung thành tuyệt đối bao giờ cũng chỉ đòi hỏi phải có sự ngu dốt mới có thể thừa hành được ý muốn của bề trên. Nếu thông minh tài năng thì thuộc hạ chỉ làm cho nhà cầm quyền chuyên chế khiếp sợ hoặc lo sợ chứ không làm cho nhà cầm quyền này tin tưởng đâu. Tình hình này đòi hỏi phải loại bỏ mọi tài năng chân chính trong nhà nước chuyên chế. Nhà cầm quyền chuyên chế mà sống cùng với các bậc tài năng siêu việt sẽ luôn luôn cảm thấy bị đe doạ bởi một mối nguy hiểm tiềm tàng nào đó, làm cho tất cả các bậc tài năng ấy cũng luôn luôn cảm thấy rằng sống với nhà cầm quyền chuyên chế chẳng khác gì sống với hùm beo, tai hoạ bất ngờ có thể giáng xuống họ vào bất cứ lúc nào. Thế là nhà cầm quyền chuyên chế không bao giờ gần gũi được các bậc tài năng chân chính cũng như các bậc tài năng này phải luôn luôn xa lánh nhà cầm quyền chuyên chế để né tránh tai hoạ. Đã từng có biết bao nhiêu bậc chí sỹ tài năng phải sống mai danh ẩn tích để được sống yên thân trong chính thể chuyên chế. Nếu làm trái cái tất yếu này thì sẽ phải chết, như Hàn Tín ở Tàu quốc hoặc Nguyễn Trãi ở Việt nam chẳng hạn, v. v.. Cái tất yếu này lại dẫn đến cái tất yếu khác: người kế nhiệm bao giờ cũng yếu kém hơn người tiền nhiệm về mọi mặt làm cho chính thể chuyên chế ngày càng sa đoạ với hệ thống quan chức ngày càng ngu dốt hơn đồng thời ngày càng tàn bạo hơn.
Có thể giải thích cái chuỗi tất yếu này như sau: theo bản năng sinh tồn (bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết) biểu hiện thành bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, nhà cầm quyền chuyên chế chỉ có thể phải tin dùng rồi nâng đỡ những thuộc hạ nào yếu kém hơn mình một chút để được an toàn hoặc né tránh được những âm mưu phản trắc khi còn nắm giữ quyền lực chuyên chế cũng như khi đã từ bỏ quyền lực đó. Cứ như thế người sau học tập người trước làm cho hệ thống quan chức chuyên chế từ trung ương xuống cơ sở ngày càng yếu kém hơn.
Nếu không tuân theo hoặc không thể thực hiện được cái tất yếu này thì nhà cầm quyền chuyên chế sẽ phải chuốc lấy tai hoạ cho mình. Có thể đề cập một sự kiện thực tế rất điển hình đã xảy ra ở Liên bang Soviet để chứng minh cho sự thể đó: Thống chế Joseph Staline tin dùng đồng thời nâng đỡ Lavrenty Pavlovich Beria, một đồ đệ rất trung thành với J. Staline nhưng lại thua kém J. Staline về nhiều mặt. J. Staline tin dùng L. P. Beria để được an toàn khi còn đang nắm giữ quyền lực nhà nước đồng thời nâng đỡ L. P. Beria để được an toàn khi đã rời bỏ quyền lực đó. Nhưng cả hai nhân vật này đều không lường được Nikita Khrushchev, một người tài tử hơn cả hai người kia. Nikita Khrushchev đã khéo léo khống chế J. Staline vào những ngày mà J. Staline hấp hối sắp chết khiến J. Staline chết mà không kịp chuyển giao quyền lực nhà nước cho L. P. Beria. Bằng thủ tục biểu quyết hết sức đơn giản, N. Khrushchev đã nắm được quyền lực nhà nước. Ngay sau khi nắm được quyền lực đó, N. Khrushchev bèn thanh trừng ngay lập tức cả hai nhân vật kia. Xử phạt tử hình đối với L. P. Beria rồi phá bỏ lăng tẩm dành cho J. Staline bằng nhiều tấn thuốc nổ. Sau cuộc thoán đoạt này, N. Khrushchev đã khôi phục được một phần sức sống cho chính thể chuyên chế soviet nhưng cũng chẳng được bao lâu, chính thể chuyên chế này lại tiếp tục sa đoạ ngày càng trầm trọng hơn rồi cuối cùng vẫn bị sụp đổ tan tành vào năm 1991, v. v., còn vô số sự kiện khác có thể được dùng làm bằng chứng để minh hoạ cho cái tất yếu tai ác này.
Bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, thúc đẩy đám thuộc hạ tranh nhau làm tên đầy tớ hạng nhất cho nhà cầm quyền chuyên chế để được tin dùng rồi được nâng đỡ bởi chính nhà cầm quyền này, nhưng vì quyền lực tuyệt đối chỉ có mộtngười tham gia tranh giành quyền lực đó lại có quá nhiều, trong đó chỉ kẻ nào ngu dốt hơn lại dễ bảo hơn mới được ân sủng, nên việc tranh nhau như thế tất yếu phải dẫn đến sự chia rẽ nội bộ ngày càng sâu sắc hơn, làm cho hệ thống quan chức chuyên chế bị chia rẽ thành nhiều phe đảng khác nhau thường xuyên bày đặt những âm mưu nguy hiểm nhất để hãm hại lẫn nhau bằng những biện pháp tàn khốc nhất, từ đó làm cho chính thể chuyên chế ngày càng sa đoạ hơn với một hệ thống quan chức chuyên chế ngày càng nham hiểm hơn, tàn bạo hơn và thất đức hơn.
Vậy theo bản chất tự nhiên của nó, chính thể chuyên chế không sao tránh khỏi sự sa đoạ với những hệ quả ngày càng tồi tệ hơn.
Chính thể chuyên chế sa đoạ với những âm mưu thoán đoạt cực kỳ nguy hiểm. Những kẻ bất tài vô đạo tìm cách chui luồn để thoán đoạt quyền lực. Nhưng trong chính trị, âm mưu này lại gặp âm mưu khác, từ đó tất yếu phải dẫn đến xung đột nội bộ làm cho nhà nước chuyên chế lúc nào cũng có phong ba bão táp bên trong mặc dù bề ngoài thường yên bình phẳng lặng như không hề có chuyện gì vậy. Cái khẩu hiệu kêu gọi đoàn kết thật chẳng ăn nhập gì với sự chia rẽ bên trong nhà nước chuyên chế, ở đây đoàn kết chỉ để chia rẽ mà thôi.
Trong chính thể chuyên chế, do quyền lực nhà nước trở thành phương tiện tốt nhất để làm giàu nên đa số dân chúng đều ham thích quyền lực đó, nhưng nếu phấn đấu bằng tài năng đức hạnh để ngoi lên giành lấy quyền lực đó thì chắc chắn sẽ thất bại mà không bao giờ đạt được mục đích. Cái tất yếu này buộc người ta phải bon chen chui luồn bằng những thủ đoạn xấu xa nhất để ngoi lên làm thầy hoặc làm chủ kẻ khác mà kết quả thực tế lại chẳng được bao nhiêu, phần nhiều chỉ nhờ may mắn chứ không phải nhờ toan tính lại càng không phải nhờ tài năng mà đạt được mục đích; khi đã đạt được mục đích rồi, người ta lại chỉ muốn áp đặt ý chí tư riêng của mình cho dân chúng mà thôi.
Ở đây quyền lực nhà nước trở thành một cái gì đó cao vời vợi mà muốn với tới được nhiều khi người ta phải hy sinh cả cuộc đời để bon chen chui luồn. Nhưng vì khả năng thất bại luôn luôn lớn hơn khả năng thành công nên chính thể chuyên chế chỉ gây nên sự tuyệt vọng cho dân chúng mà thôi, mà đã gây nên sự tuyệt vọng sẽ lại làm cho dân chúng thù hận nhà cầm quyền chuyên chế đồng thời thù hận lẫn nhau làm cho họ không thể đoàn kết được với nhau để chống lại nhà cầm quyền kia, cứ như thế sự thù hận được duy trì đời đời kiếp kiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác rồi trở thành tâm trạng thường trực đối với mỗi người. Như vậy tức là chính thể chuyên chế có một tác dụng cực kỳ tai ác đối với xã hội, nó xé nát mọi quan hệ tốt đẹp giữa các cá nhân. Chỉ khi nào dân chúng hiểu biết được sự thể này, khi ấy dân chúng mới có thể xé nát chính thể chuyên chế để được gần gũi thân thiện với nhau.
Sự bon chen chui luồn để tranh giành quyền lực nhà nước làm cho quyền lực đó luôn luôn bị phó mặc cho những điều ngẫu nhiên, một trong hai phe đảng tham gia tranh giành quyền lực nhà nước tưởng như đã nắm chắc quyền lực đó rồi thế mà đùng một cái quyền lực đó lại rơi vào người thứ ba xa lạ với cả hai phe đảng kia, bản thân người thứ ba này cũng lại chỉ được điều khiển bởi một thế lực nào đó mà cái não trạng chuyên chế không thể hình dung được.
Do bản chất của nó nên chính thể chuyên chế phải dựa vào bạo lực để tồn tại. Nhưng một khi đã dựa vào bạo lực để tồn tại lại ắt phải phụ thuộc vào bạo lực. Vậy những kẻ hiện thân cho bạo lực ắt phải đóng vai trò quyết định đối với số phận của chính thể chuyên chế. Sự thể này làm cho nhà cầm quyền chuyên chế phải biết khiếp sợ các viên tướng chỉ huy lực lượng bảo vệ mà cung phụng họ, đồng thời cũng nhắc nhở các phe đảng khác nhau hãy cẩn thận với các viên tướng kia! Làm gì tuỳ ý nhưng đừng làm cho họ cảm thấy chướng tai gai mắt mà chuốc lấy tai hoạ cho mình. Các phe đảng khác nhau thường làm hỏng nhau bằng các cuộc đua tranh để rồi cuối cùng vai trò quyết định vẫn thuộc về các viên tướng chỉ huy lực lượng bảo vệ. Những cuộc tranh giành nồi da nấu thịt trong nhà nước chuyên chế tất yếu phải dẫn đến chế độ độc tài quân sự, theo đó một nhà quân sự tai to mặt lớn nắm lấy quyền lực chuyên chế. Thật ra phải có một nhà quân sự như vậy nắm lấy toàn bộ quyền lực nhà nước mới thích hợp với bản chất của chính thể chuyên chế. A. Hitler rất thích hợp với nền chuyên chế fascist ở nước Đức từ năm 1933 đến năm 1945, J. Staline rất thích hợp với nền chuyên chế soviet từ năm 1924 đến năm 1953, S. Hussein rất thích hợp với nền chuyên chế khủng bố ở Iraq từ năm 1968 đến năm 2003, v. v., nếu làm khác thì chính thể chuyên chế sẽ bị suy nhược. Điều tất yếu này lại dẫn đến tệ nạn kiêu binh trong nhà nước chuyên chế, Nhà nước Soviet từ năm 1917 đến năm 1991, Nhà nước Đức từ năm 1933 đến năm 1945, Nhà nước Iraq từ năm 1968 đến năm 2003, v. v., đều như thế cả.
Cũng vì chỉ cai trị bằng bạo lực nên nhà nước chuyên chế lúc nào cũng cực kỳ hung bạo, nó luôn luôn bịa đặt ra đủ loại kẻ thù nguy hiểm để hù doạ dân chúng. Để làm cho dân chúng khiếp sợ mà phục tùng, nhà nước chuyên chế phải thường xuyên thực hiện các chiến dịch khủng bố khốc liệt, lấy việc giết chóc làm công việc chủ yếu cho mình. Hãy lật lại những trang sử đen tối của các nhà nước chuyên chế, chúng ta sẽ thấy các vị độc tài đã giết người nhiều như thế nào. Ở Pháp trước năm 1789, các ông vua Louis XIV, XV và XVI đã thủ tiêu bao nhiêu sinh mạng trong cái địa ngục Bastille; ở Đức từ năm 1933 đến năm 1945, A. Hitler đã giết mấy chục triệu người trên khắp Âu châu; ở Liên bang Soviet, các vị bạo chúa cộng sản đã giết mấy chục triệu người đồng bào. Theo ông Đặng Minh Cần, một Việt kiều ở Nga, cho biết rằng từ năm 1945 đến năm 1991 có khoảng sáu mươi lăm triệu thần dân soviet đã bị giết hại bởi các vị bạo chúa khát máu kia. Ở đây nhà nước chuyên chế đồng nhất với tổ chức khủng bố làm cho chủ nghĩa khủng bố trở thành hệ tư tưởng chung cho mọi nhà nước chuyên chế.
Chúng ta hãy hình dung nhà cầm quyền chuyên chế phân xử những tranh chấp xảy ra thường xuyên trong xã hội nô lệ được gây nên bởi chính những điều luật mù quáng của nhà nước chuyên chế. Trong những cuộc phân xử tranh chấp ấy, các thẩm phán chuyên chế bao giờ cũng thiên vị bên nào mạnh hơn để trục lợi. Bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, luôn luôn thúc đẩy các thẩm phán này thiên vị bên nào biết cung phụng mình bất chấp bên đó đúng hay sai, đồng thời cũng thúc đẩy đám nhà giàu dùng tiền bạc để mua chuộc các thẩm phán chuyên chế làm cho các thẩm phán này chỉ biết hành xử theo tội ác mà thôi hoặc chỉ biết liên minh với đám nhà giàu để hãm hại dân nghèo. Đám nhà nghèo đông đảo lại bao gồm nhiều loại người khác nhau, đa số phải nghiến răng chịu đựng bất công nhưng cũng có thiểu số phản kháng bằng những biện pháp cực đoan nhất. Vì phản kháng bằng pháp luật thường không đạt được kết quả như ý muốn nên họ đành phải phản kháng bằng bạo lực mới thích hợp với chính thể chuyên chế, tức là dùng bạo lực để trả thù những kẻ đã làm hại mình bằng bạo lực. Nếu hành động công khai lại đơn độc nữa thì sẽ dễ dàng bị trừng phạt tàn khốc nhất bởi chính các thẩm phán chuyên chế. Vậy để đạt được mục đích như ý muốn, đám người cực đoan kia chỉ có thể phải hành động bí mật lại phải tổ chức chặt chẽ thành các nhóm khủng bố để hoạt động khủng bố chuyên nghiệp, nhờ đó mà các nhóm này có sức mạnh khủng khiếp làm cho ngay cả nhà nước chuyên chế cũng phải khiếp sợ. Lúc đầu, các nhóm khủng bố chỉ khủng bố nhà nước chuyên chế khiến nhà nước này phải khiếp sợ các nhóm đó. Nhưng về sau, do khiếp sợ các nhóm khủng bố nên nhà nước chuyên chế phải tìm cách để liên minh hoặc thoả hiệp với các nhóm đó làm cho các nhóm đó quay lại khủng bố cả dân chúng nô lệ trong nước lẫn dân chúng tự do ở nước ngoài, tạo nên mạng lưới khủng bố rộng khắp thế giới, tức là nhà nước chuyên chế thường xuyên khủng bố đám đông dân chúng để đẻ ra các tổ chức khủng bố rồi lại liên minh với các tổ chức đó để đẻ ra chế độ khủng bố, chế độ này cắm rễ rất sâu vào những phần tử cực đoan nhất trong dân chúng đến nỗi mà ngay cả khi đã xoá bỏ được chính thể chuyên chế, các nhà nước dân chủ non trẻ vẫn phải vật lộn rất khó khăn để nhổ bỏ tàn tích của chế độ đó, như nước Nga trước đây hoặc Iraq ngày nay chẳng hạn.
Các chính khách thông minh đã phát hiện được rằng chính chính thể chuyên chế đã đẻ ra chủ nghĩa khủng bố, nếu muốn loại trừ được tận gốc chủ nghĩa khủng bố thì trước hết cần phải loại trừ tất cả các nhà nước chuyên chế.
Chính thể chuyên chế đòi hỏi phải hợp lý hoá sự cai trị độc đoán của thiểu số đối với đa số bằng những luận điệu dối trá nhất. Cái yêu cầu tất yếu này làm cho nhà cầm quyền chuyên chế rất giỏi nói năng dối trá, dối trá đến mức vừa thản nhiên vừa trơ trẽn; cứ mở miệng nói năng họ liền dối trá ngay lập tức với dân chúng để vừa lừa bịp dân chúng vừa thần thánh hoá chính mình. Lừa bịp dân chúng đồng thời thần thánh hoá chính mình, đó là mục đích phát ngôn của họ. Họ thực hiện mục đích này để theo đuổi mục đích khác, tức là hợp lý hoá sự cai trị độc đoán của mình đối với dân chúng bằng những luận điệu dối trá. Dối trá, dối trá, đại dối trá! Đó là nguyên tắc phát ngôn của họ. Nguyên tắc này làm cho nhà cầm quyền chuyên chế trở nên vĩ đại phi thường đối với dân chúng bị mất hết lý trí đến nỗi mà họ cảm thấy nhà cầm quyền chuyên chế có vẻ giống như thần thánh rồi tôn vinh nhà cầm quyền này lên tận trời cao bằng những danh từ rất thiêng liêng, như thiên tử, người cha của các dân tộc, cha già dân tộc, v. v.. Vả lại, sự khiếp sợ được gây nên bởi chính thể chuyên chế cũng thúc đẩy đa số dân chúng nịnh bợ hoặc tâng bốc nhà cầm quyền chuyên chế để được sống yên thân làm cho nhà cầm quyền này trở nên vĩ đại phi thường như đã nói ở trên, đồng thời làm cho đa số dân chúng trở nên gian ngoan. Thật vậy, nhà cầm quyền chuyên chế dối trá làm cho đa số dân chúng cũng dối trá theo. Một mặt do bản chất của chính thể này bắt buộc họ phải dối trá: bụng dạ rất căm ghét nhưng mồm miệng vẫn cứ phải nói yêu mến để khỏi bị hãm hại bởi nhà cầm quyền kia, nên thói quen nói năng dối trá ăn sâu vào đa số dân chúng; mặt khác do trực tiếp nhiễm phải thói quen dối trá của nhà cầm quyền chuyên chế nên mỗi người dân cũng dối trá để đề phòng hoặc ngăn chặn người khác hãm hại mình. Cứ như thế, sự dối trá trở nên phổ biến làm cho nhiều người dễ dàng ngộ nhận mình cũng có thể được hạnh phúc ngay cả trong chính thể này. Thành thử, hầu hết mọi người đều dối trá như nhau để lừa dối người khác đồng thời lừa dối luôn cả chính mình! Cái hệ quả này không chỉ làm cho đời sống chính trị bị sa đoạ cùng cực mà còn làm cho đạo đức xã hội bị băng hoại nghiêm trọng, đúng như C. S. Montesquieu đã từng nói:
“Nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng mà nắm luôn cả ba quyền lực nói trên (lập pháp, hành pháp và tư pháp) thì tất cả sẽ bị mất hết109).
Do không bị kiểm sát bởi bất cứ một thế lực nào trong xã hội nên nhà cầm quyền chuyên chế tha hồ phá hoại theo đúng bản tính vị kỷ của nhân loại. Ở đây, chính thể chuyên chế làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa, bản tính này thúc đẩy nhà cầm quyền chuyên chế ra sức phá hoại để trục lợi đồng thời thúc đẩy dân chúng miễn cưỡng phục tùng để tồn tại. Thật vậy, do hoạt động trong cơ chế tập trung quyền lực như vậy nên các tổ chức xã hội dù có ý muốn trở thành các tổ chức độc lập – để làm đại diện cho các thành phần khác nhau trong dân chúng – cũng vẫn có thể dễ dàng trở thành các tổ chức phụ thuộc. Độc quyền quyết định mọi thứ sẽ cho phép nhà nước chuyên chế thâu tóm các tổ chức đó hoặc biến các tổ chức đó thành các tổ chức phụ thuộc, sẽ không tránh khỏi việc “đi đêm” giữa các tổ chức đó với các nhà cầm quyền chuyên chế. Từ đó sẽ không tránh khỏi sự cạnh tranh gian trá giữa các tổ chức đó với nhau. Liên kết cộng đồng trở nên mơ hồ.
Nếu phải nói đến ưu điểm thì chính thể chuyên chế chỉ giỏi làm chiến tranh mà thôi. Nhưng chiến tranh lại chỉ gây nên chết chóc đau thương cho nhân loại. Vậy nếu chỉ giỏi làm chiến tranh thì liệu chính thể chuyên chế có đáng được tồn tại hay không! Đây là vấn đề nghiêm túc không chỉ dành cho các triết gia mà thực tế còn dành cho tất cả mọi người.
Nói chung chính thể chuyên chế làm cho đời sống chính trị luôn luôn bị sa đoạ với vô số âm mưu cực kỳ nguy hiểm mà các bậc tài năng lỗi lạc phải xa lánh để né tránh tai họa, còn dân chúng phải chịu đựng tất cả những hệ quả tai ác phát sinh từ chính thể này, bất kể họ có hay không quan tâm đến đời sống chính trị. Ở đây, dân chúng khổ sở đã đành nhưng ngay cả nhà cầm quyền chuyên chế cũng khổ sở, lúc nào họ cũng lo sợ bị hãm hại bởi vô số âm mưu nguy hiểm luôn luôn rình rập xung quanh mình. Không một người nào được hạnh phúc thật sự trong chính thể chuyên chế. Đó là một sự thật đau đớn, nhưng vẫn còn một sự thật đau đớn hơn mà nếu nói ra thì có thể làm cho nhiều người giật mình: không một người nào được tự do trong chính thể chuyên chế! G. W. F. Hegel cho rằng chỉ một cá nhân duy nhất được tự do trong chính thể chuyên chế, đó là Vua. Nhưng tự do đã được định nghĩa ở chương XXII lại cho thấy G. W. F. Hegel đã lầm lẫn tự do với tuỳ tiện. Thực tế cho thấy vua cũng không hề được tự dochỉ được tuỳ tiện, tức là chỉ được tuỳ ý hành động hoặc chỉ được hành động tuỳ ý. Chính vì chỉ được tuỳ tiện mà không hề được tự do nên vua thường làm hại nhiều người với nhiều lý do. Nếu được tự do thì vua làm việc gì cũng sẽ làm lợi cho thần dân. Tuy nhiên, chính thể chuyên chế lại không hề có chuyện đó.
Những dấu hiệu nào cho thấy chính thể chuyên chế sắp sửa tan rã? Thứ nhất, có quá nhiều phe đảng tồn tại rồi ngấm ngầm chống đối nhau trong nhà nước chuyên chế. Thứ hai, cấp trên ra lệnh cho cấp dưới mà cấp dưới không tuân lệnh. Thứ ba, tước đoạt quá nhiều đối với dân chúng làm cho dân chúng không thể chịu đựng được nữa. Thứ tư, dân chúng khinh nhờn quan chức làm cho quan chức phải co mình lại. Thứ năm, xã hội có điều tệ nạn nhiều hơn điều tử tế, v. v.. Tất cả các dấu hiệu đều biểu hiện tập trung vào công thức này: điều cấm kỵ lại tồn tại hiện hữu!
Những điều kiện nào để chính thể chuyên chế tan rã? Thứ nhất, kinh tế hàng hoá phải phát triển đến một mức độ nhất định đủ để tạo ra nhiều giai cấp khác nhau với nhiều thành phần khác nhau, từ đó có nhiều quan điểm khác nhau tương ứng với nhiều lợi ích khác nhau, không chấp nhận một quan điểm nào chiếm giữ địa vị độc tôn. Thứ hai, mâu thuẫn giai cấp phải gia tăng đến một mức độ nhất định khiến nhà cầm quyền chuyên chế không thể kiểm soát được bằng bạo lực, từ đó bắt buộc tất cả các giai cấp khác nhau phải thoả hiệp với nhau để giải quyết mâu thuẫn đó bằng một chính thể mới phù hợp với tất cả các giai cấp ấy (ở đây cần phân biệt thoả hiệp với cam chịu, cam chịu đối lập hoàn toàn với thoả hiệp!). Thứ ba, quan trọng nhất, văn hoá phải phát triển đến một trình độ nhất định đủ để làm cho toàn thể dân chúng hiểu biết được chính mình, hiểu biết được cả những nguyên nhân dẫn đến những tai hoạ đang làm khổ mình lẫn những giải pháp khả thi giúp mình thoát khỏi những tai hoạ đó.

2. Tình hình nữ giới.

Việc phân tích chính thể chuyên chế tất nhiên cũng đòi hỏi tôi phải phân tích một đối tượng đặc biệt có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đó là nữ giới.
Xã hội nào cũng có gia đình nhưng gia đình có tính chất ra sao lại phụ thuộc vào xã hội được tổ chức theo chính thể nào. Nếu, một khi, xã hội được tổ chức theo chính thể chuyên chế thì gia đình sẽ cấu thành đơn vị nền tảng cho chính thể đó, khi đó gia đình sẽ tồn tại phổ biến với các tính chất đặc thù như sau: 1/ Con cái phụ thuộc tuyệt đối vào cha mẹ; 2/ Vợ phụ thuộc tuyệt đối vào chồng; 3/ Em phụ thuộc tuyệt đối vào anh hoặc chị. Tóm lại, một người đàn ông gia trưởng làm chủ đối với tất cả các thành viên khác, tất cả các thành viên khác làm nô lệ cho người đàn ông nào làm gia trưởng bằng quyền lực gia trưởng. Nhà nước chuyên chế chỉ cần nắm chặt người đàn ông này cũng sẽ khống chế được cả xã hội chuyên chế. Tôi nhận thấy các tính chất đó rất điển hình cho gia đình trong chính thể chuyên chế lấy Nho giáo làm nền tảng tinh thần cho mình. Nho giáo đã củng cố chắc chắn cho các tính chất đó bằng Tam Cương làm cho nữ giới phải chịu đựng mọi hệ quả đau đớn nhất.
Nữ giới chiếm khoảng một nửa nhân loại; cùng với nam giới, nữ giới tạo nên nhân loại rồi làm cho nhân loại trường tồn trên địa cầu. Điều tự nhiên này làm cho nữ giới bình đẳng tự nhiên với nam giới. Tuy nhiên nữ giới lại có những đặc điểm đặc biệt phân biệt họ với nam giới, đó là cấu trúc thể chất, cấu trúc này cho phép họ dễ dàng nhận biết được mình đã đẻ ra những đứa trẻ con nào trong khi nam giới lại không dễ dàng nhận biết được như vậy. Chính vì có ưu điểm như vậy nên nữ giới thường được quy thành nguồn gốc sinh ra tình yêu cùng với tất cả những gì cao đẹp nhất thuộc về nhân loại, như đạo vị tha, đức hiến dâng, lòng trắc ẩn, v. v., khiến nam giới từ thế hệ này sang thế hệ khác phải xoay quanh họ.
Nhưng thật đáng tiếc: trong chính thể chuyên chế, nữ giới luôn luôn phải ở vào địa vị phụ thuộc hoặc phải làm nô lệ cho nam giới.
Do chính thể chuyên chế chỉ có thiểu số dùng bạo lực để cai trị đa số nên nữ giới bị nô dịch bởi chính nam giới. Dựa vào sức mạnh thể chất của mình lớn hơn sức mạnh thể chất của nữ giới, nam giới áp đặt chế độ nô lệ cho nữ giới để bảo đảm chắc chắn rằng những đứa con được đẻ ra bởi những nô lệ nữ giới cũng được đẻ ra bởi chính những chủ nô nam giới đang làm chủ đối với những nô lệ kia, tức là nữ giới phải trở thành công cụ sinh đẻ đơn thuần cho nam giới trong chính thể chuyên chế.
Đặc biệt việc cai trị bằng bạo lực trong chính thể chuyên chế đã làm cho mọi cá nhân đều chỉ coi trọng sức mạnh thể xác hơn sức mạnh tinh thần, từ đó làm cho võ thuật phát triển mạnh mẽ hơn văn chương. Ở nam giới, những mâu thuẫn thường được giải quyết bằng vũ lực nhiều hơn được giải quyết bằng lý lẽ, từ đó ắt phải dẫn đến một quan niệm trái tự nhiên về nam giới lý tưởng, quan niệm này cho rằng, nam giới lý tưởng phải thứ nhất đẹp mã, thứ hai giàu có (bao gồm cả tiền bạc lẫn quyền lực), thứ ba có thể còn phải có thêm nhiều tiêu chuẩn nữa nhưng trí tuệ phải được xếp cuối cùng; những người đàn ông thông minh trác việt thường bị gán cho những danh hiệu hết sức thảm hại, như điên điên, khùng khùng, loạn óc, dở hơi, thành phần bị bỏ rơi trong mọi thời đại, v. v., những danh hiệu này nảy sinh từ ý đồ thâm độc của nhà cầm quyền chuyên chế vốn có khuynh hướng muốn cô lập những người đàn ông kia để những người đàn ông kia vừa phải bị lụi tàn trí tuệ vừa không thể vận động dân chúng chống lại nhà cầm quyền chuyên chế! Thuở nhỏ, tôi thường được nghe một ân nhân cứu mạng ở cùng làng với tôi hay nói chơi rằng: “con là chủ nợ, vợ là kẻ thù, thầy u là gián điệp!?”. Thầy u được nói đến ở đây bao gồm cả cha mẹ bên nhà vợ lẫn cha mẹ bên nhà chồng. Thuở đó, vì còn ngây thơ nên đôi khi tôi cũng nói theo như vậy cho vui miệng mà không hiểu câu nói đó có ý nghĩa gì. Lớn lên, tôi không biết chắc chắn câu nói đó xuất sinh từ sự kiện nào mà chỉ có thể phỏng đoán nó xuất sinh từ Vụ án Nhân văn Giai phẩm xảy ra vào cuối thập niên 1950. Qua nhiều năm trải nghiệm trường đời, tôi dần dần nhận thấy câu nói đó rất hiệu nghiệm với một số tài năng xuất chúng thuộc nam giới sống trong chính thể chuyên chế. Chẳng hạn các nạn nhân đáng kính trong Vụ án Nhân văn Giai phẩm có nhiều khả năng tất yếu được lấy làm đối tượng phản ánh cho câu nói đó hoặc một số trí thức uyên bác cũng có thể thường bị vây hãm tàn nhẫn bởi chính các thân nhân ngay trong gia đình mình. Chính ý thức mê hoặc vốn được nuôi dưỡng bởi chính thể chuyên chế luôn luôn biến con cái thành gánh nặng cho cha mẹ đồng thời biến vợ thành kẻ thù cho chồng cũng như biến cha mẹ thành gián điệp cho nhà cầm quyền chuyên chế để hãm hại những chàng rể tử tế nhất hoặc thậm chí còn có thể hãm hại ngay cả những đứa con trai thảo hiền nhất được sinh ra bởi chính các gián điệp. Không chỉ tổ quốc mà ngay cả gia đình cũng có thể trở thành ngục thất đối với nam giới. Ở nữ giới, tình hình xem ra còn thảm hại hơn. Ở đây có một thực trạng hết sức oái oăm, oái oăm đến nỗi không được phép tồn tại nhưng vẫn cứ tồn tại hớ hênh, thực trạng đó là trí tuệ tỷ lệ nghịch với nhan sắc. Quả thật ở đây những cô gái đẹp thường chỉ đẹp về thể xác nhưng lại rất yếu kém về trí tuệ hoặc thậm chí cả nhân cách nữa, ngược lại những cô gái yếu kém về nhan sắc lại thường có trí tuệ hơn người đồng thời có những phẩm chất rất đáng trân trọng. Ở đây những cô gái đẹp thường chỉ quan tâm chăm sóc sắc đẹp của mình mà không quan tâm bồi dưỡng trí óc của mình làm cho trí óc của họ bị teo mòn dần dần theo quá trình trưởng thành về thể xác của họ. Vả lại, dù họ có ý muốn bồi dưỡng trí óc của mình cũng khó mà thực hiện được ý muốn đó, cánh đàn ông háo sắc đông như bầy ruồi giữa mùa nhiệt hạch vốn cũng chỉ coi trọng vẻ đẹp thể xác hơn vẻ đẹp tinh thần, luôn luôn tìm mọi cách hoặc dùng mọi phương tiện có thể có để quyến rũ hoặc lôi cuốn họ vào những cuộc truy hoan tốn kém thì giờ làm cho họ không còn thì giờ để quan tâm bồi dưỡng trí óc của mình nữa nhưng lại có rất nhiều thì giờ để làm vui lòng cánh đàn ông kia. Lúc nào cũng chỉ quan tâm làm vui lòng cánh đàn ông kia làm sao mà họ có thể phát triển trí óc được. Lại thêm nền giáo dục chuyên chế vận hành theo cơ chế xiêu lệch hoặc cơ chế bất bình đẳng vốn chỉ quan tâm dạy bảo cho người ta phục tùng hơn quan tâm chỉ dẫn cho người ta sáng tạo, chẳng hạn như có học mà không hành, có được học mà không được vận dụng kiến thức, có học vấn mà không được trưng dụng, v. v., làm cho họ chỉ quan tâm bồi dưỡng thể xác mà không quan tâm phát triển tinh thần, thậm chí còn phó mặc tinh thần cho bản năng chi phối nữa kia! Bản năng chi phối tinh thần làm cho tinh thần chỉ phát triển thành những ham muốn tầm thường, những ham muốn này chưa bao giờ vượt quá tiện nghi hàng ngày. Ở đây nhu cầu vật tính làm chủ nhu cầu nhân tính. Sự thể này đặc biệt đúng đối với các nước chuyên chế lấy tôn giáo vô thần hoặc chủ nghĩa duy vật làm hệ tư tưởng chính thống, khiến người ta chỉ coi trọng của cải vật chất mà xem nhẹ các giá trị tinh thần, lại càng coi rẻ các giá trị đạo đức. Ở đây, những người sống bằng các giá trị tinh thần thường bị xem như những kẻ lập dị, quái đản, ngược đời, v. v., tức là những cái bình thường bị coi như những cái bất bình thường, còn những cái bất bình thường lại được coi như những cái bình thường!
Tóm lại chính thể chuyên chế làm cho nữ giới bị biến dạng quay quắt: cái đẹp phải lẩn trốn vào những vỏ bọc xấu xí xù xì còn cái xấu lại tự phô trương bằng những vỏ bọc hào nhoáng mỹ miều đến nỗi nữ giới tài sắc vẹn toàn thường rất khan hiếm y như sao buối sáng vậy, ở đây thật khó mà tìm kiếm được những nữ lưu nổi bật như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Dương Thu Hương, v. v., nhưng nữ giới vừa xấu vừa xa lại rất dồi dào y như thảo mộc trong rừng vậy. Cái mâu thuẫn này phân chia nữ giới thành hai loại như đã nói ở trên mà người ta thường mô tả bằng khái niệm “bù trừ”.
Đối với những cô gái yêu kiều nhưng đức hạnh khả nghi, cái mâu thuẫn nói trên biểu hiện hết giới hạn của nó làm cho họ có những nhược điểm rất khó hiểu, phải nhạy cảm lắm mới nhận thấy được, như thực dụng quay quắt, xa hoa phù phiếm, suy nghĩ hời hợt, lười nhác thái quá, a dua lố bịch, v. v.. Trong tình yêu, họ thường soi xét tình nhân thuộc giai cấp nào, có bao nhiêu tài sản, có hay không có quyền lực để che chở họ, v. v., tóm lại họ thường có ý thức thụ động hoặc thường có tâm lý dựa dẫm, họ thường lựa chọn những tình nhân thuộc tầng lớp cai trị để được thụ hưởng mà không phải cống hiến. Tuy nhiên do chính thể chuyên chế chỉ có một số rất ít nam giới giàu có thuộc tầng lớp cai trị nên chỉ có thiểu số nữ giới đạt được mục đích, còn lại đa số họ bị lừa gạt rồi vỡ mộng mà sa ngã vào những tệ nạn đen bạc nhất. Thật vậy, việc biến nữ giới thành hàng hoá xảy ra rất phổ biến ở các nước chuyên chế. Hãy nghiên cứu tình trạng buôn bán nữ giới trên thế giới, người ta sẽ thấy ngay các nạn nhân chủ yếu xuất thân từ các nước chuyên chế, nơi mà họ không được bảo vệ bởi bất cứ cái gì; người ta cũng thấy ngay rằng nếu không có các đầu mối buôn bán nữ giới ở các nước chuyên chế thì nữ giới ở đó sẽ không thể bị buôn bán nhiều như thế. Tình trạng nghèo túng được gây nên bởi chính thể chuyên chế cũng đẩy nhiều nữ giới vào những tệ nạn ấy. Việc mua bán “tình yêu” cũng như việc ngoại tình xảy ra phổ biến đến mức ngày càng trần trụi hơn.
Đối với nữ giới, tình yêu có ý nghĩa quan trọng nhất. Nhưng chính thể chuyên chế lại giết chết tình yêu hoặc ít nhất cũng bóp méo tình yêu. Do phải sống theo chính thể chuyên chế vốn có những nhược điểm nói trên nên họ thường dễ dàng đánh mất tình yêu. Thường thường họ đi vào hôn nhân mà không có hoặc chỉ có rất ít tình yêu, chỉ có những ý đồ na ná tình yêu. Trong hôn nhân, nữ giới bị đặt thấp hơn nam giới khiến họ chỉ có ý thức về sự phục tùng hoặc nhiều lắm cũng chỉ có ý thức về sự bình đẳng cực đoan, nếu chồng “đập bát” thì mình phải “đập mâm” hoặc nếu ông “ăn chả” thì bà “ăn nem” cho cân bằng! Hoặc nữa, vợ chồng cứ việc bàn bạc nhưng quyết định cuối cùng lại luôn luôn phải thuộc về chồng, nếu ở đây mà nói đến bình đẳng giới tính thì thật ngây thơ! Chính cái trật tự bất bình đẳng như vậy đã đẻ ra thái độ trọng nam khinh nữ khiến người ta chọn nuôi những hài nhi nam đồng thời giết bỏ những hài nhi nữ ngay trong bụng mẹ hoặc ngay khi mới lọt lòng mẹ, từ đó làm cho nữ giới luôn luôn bị hao mòn về cả số lượng lẫn chất lượng: về số lượng, nữ giới chiếm một tỷ lệ ngày càng nhỏ hơn so với nam giới; về chất lượng, nữ giới bị sa đoạ ngày càng trầm trọng hơn về cả thể xác lẫn tinh thần. Hiện tượng này chỉ tồn tại được trong chính thể chuyên chế mà thôi.
Trong chính thể chuyên chế, muốn bảo đảm trật tự êm đềm cho gia đình, nữ giới phải hy sinh tất cả những gì thuộc về mình, cả tâm hồn lẫn thể xác. Nếu cứ đòi hỏi bình đẳng với nam giới thì sẽ rất nguy hiểm cho nữ giới. Muốn giải phóng nữ giới hoặc trả lại tự do cho nữ giới để họ bình đẳng với nam giới, cần phải xoá bỏ chính thể chuyên chế bằng việc thay đổi hiến pháp làm cho hiến pháp phải lấy nguyên tắc bình đẳng làm cơ sở chứ không phải chỉ đưa ra hoặc sửa đổi vài ba đạo luật nào đó liên quan đến nữ giới, nếu chỉ làm cái việc nhỏ mọn này thôi thì chỉ đưa đến sự lạm dụng nữ giới chứ không thể giải phóng được nữ giới đâu.

3. Tình hình dân số.

Mới hình dung, người ta sẽ lầm tưởng rằng chính thể chuyên chế làm cho dân số ngày càng giảm sút. Để chứng minh cho sự thể đó, người ta có thể lập luận rằng: vì chỉ dùng bạo lực để cai trị dẫn đến sự giết chóc hoặc bức hại lẫn nhau giữa người với người nên hình như chính thể chuyên chế phải làm cho dân số giảm sút. Nếu chỉ hình dung được như vậy thôi thì thật ra mới chỉ giải đáp được một nửa vấn đề. Thực tế chính thể chuyên chế làm cho dân số gia tăng chứ không làm cho dân số giảm sút như mới hình dung. Ở đây nhà cầm quyền dùng bạo lực để cai trị dân chúng làm cho dân chúng phải khiếp sợ mà phục tùng. Lúc nào cũng lo sợ bị bức hại bởi nhà cầm quyền khiến dân chúng rất coi trọng việc sinh đẻ để bảo tồn mình. Lại thêm tình trạng nghèo đói phổ biến được gây nên bởi chính thể chuyên chế luôn luôn đe doạ sinh mạng của đa số dân chúng cũng kích thích dân chúng sinh đẻ thật nhiều để bảo tồn mình. Dân chúng nghèo khổ đến nỗi nhiều khi không có gì để ăn nhưng vẫn cứ sinh đẻ thật nhiều để bảo tồn nòi giống, ngộ nhỡ nếu mình gặp tai hoạ mà chết thì vẫn còn người nối dõi trên đời. Mỗi cặp vợ chồng thường đẻ rất nhiều con, mỗi quan chức nam giới thường có nhiều vợ (bao gồm cả vợ chính thức lẫn vợ không chính thức) mà mỗi vợ trong đó lại đẻ rất nhiều con. Ở đây bản năng sinh tồn đã biểu hiện thành bản năng sinh sản, bản năng sinh tồn càng mạnh mẽ bao nhiêu sẽ làm cho bản năng sinh sản cũng càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Vì tất cả các cá nhân đều rất coi trọng việc sinh đẻ như vậy nên dù có xảy ra can qua chết chóc như thế nào đi chăng nữa nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, số sinh lại vượt quá số tử làm cho dân số lại gia tăng. Vậy chính thể chuyên chế chỉ làm cho dân số gia tăng chứ không làm cho dân số giảm sút.
Dân số gia tăng nhanh chóng lại gây nên áp lực to lớn về nhà ở, y tế, giáo dục, việc làm, môi trường, v. v.. Áp lực này lại làm cho chính thể chuyên chế căng thẳng hơn nữa với tình trạng sa đoạ ngày càng phổ biến hơn.
Chính thể chuyên chế không chỉ làm cho dân số gia tăng mà còn làm cho cơ cấu dân số bị xiêu lệch ngày càng trầm trọng như đã nói ở đoạn văn nói về nữ giới, theo đó nữ giới chiếm một tỷ lệ ngày càng nhỏ hơn so với nam giới. Cơ cấu dân số bị xiêu lệch ngày càng trầm trọng như vậy tất yếu phải dẫn đến chiến tranh triền miên nhằm tranh giành nữ giới giữa nam giới với nhau, trong đó người đàn ông nào mạnh nhất (lắm của, nhiều quyền) sẽ chiếm hữu được nhiều nhất phụ nữ vừa đẹp nhất vừa ... gian ngoan nhất, còn người đàn ông nào yếu nhất (ít của, ít quyền; hoặc vô sản, vô quyền) sẽ chỉ chiếm hữu được ít nhất phụ nữ vừa xấu nhất vừa ngu nhất, hoặc thậm chí không chiếm hữu được người phụ nữ nào cả!
Nếu còn nghi ngờ sự thể này thì quý độc giả hãy kiểm tra tình hình dân số ở các nước chuyên chế rồi so sánh với tình hình dân số ở các nước dân chủ để kiểm chứng xem tôi nói đúng hay sai!
Vì không xuất phát từ tính chất của chế độ chính trị mà chỉ xuất phát từ mối tương quan hời hợt giữa số lượng nhân khẩu với số lượng thực phẩm để nghiên cứu dân số nên ông Thomas Robert Malthus đã không thể giải thích được đúng đắn tại sao dân số trong các giai cấp nô lệ cũng như ở các nước có chính thể chuyên chế lại gia tăng nhanh chóng trong khi đó dân số trong các giai cấp tự do cũng như ở các nước có chính thể dân chủ lại chững lại hoặc thậm chí còn giảm sút. Ở các nước dân chủ, thực phẩm thường rất dồi dào lại có chất lượng rất tốt nhưng dân số lại chững lại hoặc thậm chí còn giảm sút, trong khi đó ở các nước chuyên chế thực phẩm thường rất khan hiếm lại có chất lượng rất xấu nhưng dân số lại gia tăng nhanh chóng đến mức đáng sợ. Cái thực trạng đó đã bác bỏ thẳng thừng cái định luật bất hủ được xác lập bởi T. R. Malthus cho rằng số lượng nhân khẩu được quyết định bởi số lượng thực phẩm hoặc hai cái đó tỷ lệ thuận với nhau.
Lý thuyết dân số của T. R. Malthus đã từng bị phê phán quyết liệt bởi rất nhiều tác giả khác nhau, trong đó có K. Marx. Nhưng thực tế K. Marx cũng chẳng hơn gì T. R. Malthus. K. Marx cho rằng sự gia tăng dân số bắt nguồn trực tiếp từ việc tích luỹ tư bản, rằng việc tích luỹ tư bản làm cho tư bản vừa gia tăng về quy mô vừa gia tăng về cơ cấu, rằng tư bản gia tăng về cơ cấu đã đẩy hàng loạt công nhân ra khỏi quá trình sản xuất rồi rơi vào tình trạng thất nghiệp, mà chính tình trạng này đã làm cho dân số gia tăng. Với lập luận như vậy, K. Marx chỉ nói lên được một phần sự thật, theo đó chính sự chuyên chế của giai cấp tư bản đối với giai cấp làm thuê đã đẻ ra nhân khẩu thừa hoặc làm cho dân số gia tăng trong giai cấp làm thuê. Về vấn đề dân số, K. Marx chỉ có giá trị như thế thôi, ông không thể hình dung được rằng dân số đã từng bùng nổ hoặc gia tăng dữ dội ở cả những nơi chưa có hoặc không có nền sản xuất tư bản cũng như trong tất cả những thời kỳ chưa có hoặc không có nền sản xuất đó. Sự thể này khiến tôi hình dung được rằng chính chính thể chuyên chế ở mọi nơi vào mọi lúc đã làm cho dân số gia tăng dữ dội bất chấp chính thể này dựa vào nền kinh tế nào.
Ở xứ sở nào có chính thể dân chủ, các giai cấp tự do thường có dân số ổn định hoặc giảm sút, người ta thường khuyến khích sinh đẻ nhiều bằng các chính sách phúc lợi như Thuỵ điển ngày nay chẳng hạn, hoặc khuyến khích sinh đẻ nhiều bằng sự khích lệ tinh thần hết sức phong phú. Bài thơ “Ôi Thần Vệ nữ, mẹ của tình yêu!” với đoạn trích sau đây đã biểu lộ sự thể đó:

Khi sao Vệ nữ chiếu sáng trần gian
Gió hiu hiu thởTình yêu chứa chan!
Mặt đất bừng lênmuôn vàn ánh sáng.
Cùng khí trời thơm dịu bởi muôn hoa … !
Chim vỗ cánh theo Nữ thần quyến rũ.
Trong yêu đươngríu rít muôn lời ca
Nhảy cuồng lên, những chàng bò mộng
Theo gót Nữ thần trên những cánh đồng xa
Đây nhân loại từ rừng sâu núi thẳm
Từ biển, sông, đồng nội, … muôn nhà
Tất cả cháy bừng tình yêu dục vọng
Vui sinh sôikhoái cảm chan hoà
Vệ nữ ơi! Ta theo Người trong vương quốc bao la
Người ban phát cho trần gian bao điều mỹ lệ ...” 110).

Đối với các cộng đồng chưa được khai hoá, chính thể chuyên chế còn đẩy người ta vào hôn nhân cận huyết thống hoặc thậm chí cả hôn nhân cùng huyết thống nữa. Vì sự cai trị độc đoán làm cho người ta chỉ còn có thể tin cậy vào những người thân thuộc xung quanh trong gia đình hoặc cùng gia tộc mà không thể tin cậy vào những người xa lạ ngoài gia đình hoặc khác gia tộc nên hôn nhân rất khó có thể nảy sinh giữa nam giới thuộc huyết thống này với nữ giới thuộc huyết thống khác nhưng lại rất dễ dàng nảy sinh giữa nam giới với nữ giới trong cùng một huyết thống (cùng một gia tộc hoặc thậm chí cùng một gia đình) mà không có gì chắc chắn để bảo đảm rằng không có sự loạn luân trong đó. Hôn nhân cận huyết thống cũng như hôn nhân cùng huyết thống lại làm cho cả nòi giống lẫn đạo đức đều bị thoái hoá. Vậy chính thể chuyên chế không chỉ huỷ diệt nhân loại về mặt nhân văn mà còn huỷ diệt nhân loại về cả mặt tự nhiên nữa!

III – CHÍNH THỂ CHUYÊN CHẾ QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ĐỜI SỐNG TINH THẦN: KHOA HỌC, NGHỆ THUẬT, TÔN GIÁO, V. V..

1. Khoa học.

Khoa học là một hệ thống tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan bao gồm nhân loại cùng với thế giới xung quanh, cho phép mỗi cá nhân có thể hiểu biết được bản chất của các hiện tượng thuộc về hiện thực đó.
Nói đến khoa học nói chung phải nói đến cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học nhân văn.
Do bản chất của nó nên khoa học nói chung không thể dung hoà được với chính thể chuyên chế cũng như chính thể chuyên chế không thể dung hoà được với khoa học nói chung.
Chính thể chuyên chế gây nên sự khiếp sợ, mà sự khiếp sợ lại đòi hỏi phải thủ tiêu mọi sự hiểu biết để duy trì sự ngu dốt phổ biến cho dân chúng, nó cũng đòi hỏi phải thủ tiêu mọi sự hiểu biết trong hệ thống quan chức chuyên chế làm cho hầu hết tất cả đều ngu dốt như nhau. Điều tất yếu này làm cho khoa học nói chung không được phép phát triển. Nếu có học giả nào mà cố gắng thực hiện những phát minh lớn lao thì chắc chẵn sẽ bị bức hại như thế nào đó rồi phải chết như thế nào đó. Sự thể này đã được chứng minh rất thực tế bởi lịch sử của chính thể chuyên chế. Dưới chính thể chuyên chế phong kiến ở Âu châu, hầu hết các học giả lỗi lạc đều bị bức hại bởi Giáo hội Công giáo lúc đó đang nắm giữ quyền lực chuyên chế (mà thực chất, nhà nước phong kiến đội lốt Giáo hội Công giáo) làm cho ngay cả Kinh thánh cũng không được phổ biến nghiêm chỉnh mà thường bị xuyên tạc theo quan điểm của một số ít chức sắc có ảnh hưởng lớn trong giáo hội này vào thời kỳ đó (câu chuyện về Thánh Augustin được nghe thấy Thiên thần hiện thân thành một em bé bảo rằng đừng nhọc công suy nghĩ về một mầu nhiệm vượt quá trí khôn nhân loại, tức là Mầu nhiệm Ba Ngôi, đã cho thấy thái độ bài bác đối với việc tìm hiểu Chúa bằng khoa học) nhưng đến cuối thế kỷ XX, Chúa đã soi sáng cho Đức Giáo hoàng Jean Paul II lên tiếng xin lỗi cộng đồng khoa học trên khắp thế giới vào năm 1997 về những sai lầm trong quá khứ. Sự kiện này đã xác lập một dấu mốc chói lọi cho thấy Chúa giáo chính thức đồng hành với khoa học đồng thời cũng phân biệt dứt khoát Giáo hội Công giáo với nhà nước chuyên chế: Giáo hội Công giáo có thể sửa mình nhưng nhà nước chuyên chế lại không thể sửa mình! Dưới chính thể chuyên chế fascist ở Đức, Italia, v. v., hàng ngàn học giả đã bị giết hại bởi bàn tay đẫm máu của A. Hitler, B. Mussolini, v. v.. A. Hitler đã treo giải thưởng trị giá hàng triệu Mark Đức cho kẻ nào giết được A. Einstein, một học giả lỗi lạc nhất đối với mọi thời đại. Dưới chính thể chuyên chế cộng sản ở Liên bang Soviet cũng như các nước chuyên chế cộng sản xung quanh nó, hàng vạn học giả đã bị bức hại bí mật, ngoài ra còn có hàng ngàn học giả khác phải chạy trốn đến các nước dân chủ tự do để sống lưu vong. Trong số các học giả đã bị bức hại nhiều lần phải kể đến Lev Davidovitch Landau, một nhà vật lý học hàng đầu thế giới vào thời kỳ đó. Sinh thời, Joseph Staline đã ra lệnh bắt giam L. D. Landau nhiều lần chỉ với một lý do hết sức quái đản, lý do đó là học giả này có những phát minh trái ngược với những quan điểm triết học của Chủ nghĩa Marx – Lenin. Đến cuối thập niên 1960, L. D. Landau đã bị hãm hại bởi một tai nạn giao thông cực kỳ mờ ám.
Do lo sợ bị hãm hại như vậy nên các học giả không dám sáng tạo nữa. Thay cho việc tìm kiếm chân lý, tuyệt đại đa số học giả chỉ tạo ra vô số giả lý để làm vừa lòng nhà cầm quyền chuyên chế dẫn đến thui chột mọi tài năng sáng tạo. Thay cho việc tận tâm nghiên cứu khoa học, đa số học giả chỉ bon chen chui luồn để ngoi lên làm thầy hoặc làm chủ kẻ khác, mà việc bon chen chui luồn lại đòi hỏi phải dối trá; làm khoa học mà dối trá chỉ có thể trở thành trí thức lưu manh hoặc lưu manh giả danh trí thức mà thôi, thiểu số học giả muốn giữ lấy lương tâm khoa học lại thường tìm đường để chạy trốn ra nước ngoài dẫn đến chảy máu chất xám. Thay cho việc nâng đỡ tài năng, người ta thường tìm cách để vùi dập tài năng, làm cho tài năng không thể nảy nở được. Bị quản lý theo nguyên tắc chuyên chế, hoạt động khoa học bị biến dạng nghiêm trọng, nhà cầm quyền chuyên chế trong hoạt động này muốn chiếm giữ được lâu dài cái địa vị lãnh đạo cho mình ắt phải kìm hãm hoặc hãm hại tất cả các đồng sự làm cho khoa học không thể tiến triển được. Chẳng hạn ở Liên bang Soviet, nhà nước chuyên chế đã bổ nhiệm Trofim Denisovich Lyschenko (sinh năm 1890) làm Chủ tịch cho Viện Hàn lâm Khoa học, nhân vật này đã làm cho nền khoa học ở các nước soviet bị lạc hậu khoảng 30 năm so với nền khoa học ở các nước dân chủ.
Do bản chất của nó nên chính thể chuyên chế rất khó hoặc thậm chí không thể phát sinh được những tư tưởng chân thực mà chỉ có thể phát sinh được những tư tưởng hư ảo với những kiến thức sai lầm hoặc phản ánh sai lạc thế giới hiện thực, tức là chính thể chuyên chế chỉ tạo ra ý thức mê hoặc mà thôi, ý thức này chỉ thích hợp với tôn giáo chứ hoàn toàn không thích hợp với khoa học, nó kìm hãm hoặc cản trở khoa học phát triển nhưng lại kích thích tôn giáo phát triển mạnh mẽ theo xu hướng mê lầm khiến mọi người đều rất khó hoặc thậm chí không thể nhận thức được đúng đắn đời sống hiện thực, lại càng rất khó hoặc thậm chí không thể nhận thức được chính mình nữa! Hoặc nói theo kiểu marxist cũng được: nhân loại bị tha hoá bởi chính những tư tưởng mê hoặc của mình!
Chính thể chuyên chế làm cho các nguyên tắc nhận thức luôn luôn bị vi phạm hoặc bị đảo ngược hoặc bị xuyên tạc đến tận gốc rễ để từ đó tạo ra các kiến thức sai lầm làm cho tuyệt đại đa số người không chỉ nhận thức sai lầm về bản thân mà còn nhận thức sai lầm về cả thế giới xung quanh nữa.
Nếu trong chính thể chuyên chế mà khoa học nảy nở xum xuê như đã từng xảy ra ở nước Pháp với Phái Bách khoa Toàn thư trong năm mươi năm trước cuộc Cách mạng 1789 chẳng hạn thì sự thể đó chỉ chứng tỏ rằng chính thể chuyên chế đã rệu rã sắp sụp đổ đến nơi rồi.

2. Nghệ thuật.

Nghệ thuật là sự tạo tác cái đẹp mang cá tính của người tạo tác, bao gồm nhiều loại hình khác nhau, như văn học, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, ảnh điện, v. v..
Do bắt buộc mỗi cá nhân phải mài tròn bản thân theo hình ảnh của nhà cầm quyền chuyên chế nên chính thể chuyên chế cũng không dung nạp được toàn bộ nghệ thuật nói chung.
Sống trong chính thể chuyên chế, người ta phải mất hết ý niệm về tự do để chỉ còn lại ý thức về sự phục tùng mà thôi, phải lấy lãnh tụ chuyên chế làm hình mẫu lý tưởng cho mình để hoà tan mình vào đó, chớ có làm gì để biểu lộ cá tính độc đáo của mình kẻo làm cho nhà cầm quyền chuyên chế cảm thấy chướng tai gai mắt mà chuốc lấy tai hoạ vào thân. Ở đây nghệ thuật cũng rơi vào sự dối trá phổ biến làm cho tài năng xuất chúng trở thành một hiện tượng cũng cực kỳ hiếm hoi.
Nghệ thuật, về bản chất, là sự tạo tác thế giới tự do để vừa khẳng định tự do vừa hướng tới tự do bằng các phương pháp hoặc con đường tự do, thế mà chính thể chuyên chế lại tiêu diệt tự do! Vậy hai cái đó tuyệt đối không thể dung hoà được với nhau. Nếu sáng tạo được những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc hoặc có giá trị lớn lao thì nghệ sỹ vô tình hay hữu ý đã chống lại chính thể chuyên chế, mà như vậy sẽ gặp tai hoạ: nếu vô tình thì nghệ sỹ sẽ bị bức hại ngay lập tức, còn nếu hữu ý thì nghệ sỹ phải phổ biến bí mật những tác phẩm đó. Chúng ta đã biết rằng trong mọi nền chuyên chế nói chung, các tác phẩm xuất sắc thường không có tên tác giả. Việc lấy nghệ thuật chân chính làm sự nghiệp cá nhân cũng sẽ không tránh khỏi tai hoạ: chỉ vì được nhận Giải thưởng Nobel về Văn học bởi tiểu thuyết “Bác sỹ Givago” nên Boris Leonidorovitch Pasternak đã bị bức hại rất tàn nhẫn bởi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Liên bang Soviet 111).
Tất cả các tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang tư tưởng chống chuyên chế. Chính vì vậy cho nên tất cả các nghệ sỹ lớn đều luôn luôn bị bức hại bởi nhà cầm quyền chuyên chế, như Weigang Mosart, Charlot Chaplin, Boris Leonidorvitch Pasternak, v. v.. Sự thể này làm cho nghệ thuật chân chính rất khó nảy nở trong chính thể chuyên chế. Thay cho nghệ thuật chân chính, chỉ có một thứ nghệ thuật giả hiệu rất phát triển để ca tụng hoặc tâng bốc cái hiện trạng nô lệ cùng cực. Chẳng hạn có một thi sỹ nào đó đã ca tụng Liên bang Soviet như sau:

Thủa Anh chưa ra đời

Địa cầu còn nức nở

Nhân loại chửa thành người
Đêm ngàn năm man rợ...”(!)

Chữ “Anh” được viết hoa để chỉ nhà nước chuyên chế cộng sản ở Liên bang Soviet ra đời ngày 07 Tháng Mười Một 1917. Theo tác giả bài thơ này: trước ngày 07 Tháng Mười Một 1917, nhân loại đều man rợ cả; Homère, Virgile, Lý Bạch, Đỗ Phủ, William Shakespeare, Honoré de Balzac, Alexandre Pushkine, Lev Dostoyevsky, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, v. v., có lẽ vẫn chưa thành người (!) Khi biết J. Staline chết, chính tác giả bài thơ nêu trên đã ca tụng kẻ sát nhân không gớm máu bằng những câu thơ cực kỳ ty tiện như sau:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình, thương một; thương Ông, thương mười “(!)

Thương kẻ sát nhân tàn bạo gấp mười lần thương mình!? Thật không thể tưởng tượng nổi lại có thể có một thứ tình cảm trái ngược tự nhiên đến như thế! Thương kẻ sát nhân tàn bạo gấp mười lần thương người thân ruột thịt!? Thật không thể tưởng tượng nổi lại có thể có một thứ tình cảm man rợ đến như thế! Nhưng vẫn còn nữa:

Yêu biết mấy khi con tập nói,
Tiếng đầu lòng, con gọi J. Staline “(!)

Trẻ con tập nói thường gọi mẹ cha để thể hiện nhân tính, biết quái gì về J. Staline mà gọi J. Staline! Những câu thơ thuộc loại đó thật sự đã tước bỏ hết nhân tính của nhân loại!
Lại còn những vần thơ khát máu đến điên loạn được tung hô dữ dội trong Cải cách Điền địa từ năm 1953 đến năm 1955 mà có lẽ chỉ thích hợp với những kẻ mất hết nhân tính như Adolf Hitler hoặc Pol Pot khiến chỉ một số ít kẻ như thế mới có thể yêu thích:

Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong!
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng!
Thờ Mao Chủ tịch, thờ J. Staline bất diệt!”.

Tuy nhiên, A. Hitler chỉ thờ nòi giống Aryan của mình chứ không thờ các lãnh tụ cách mạng ngoại bang. Ngày nay thật khó mà tin rằng ngày xưa lại có thể có những vần thơ như thế! Người ta có thể sẽ viện dẫn lòng bác ái vốn được xác lập bởi Chúa giáo, nhưng nếu có lòng bác ái thì người ta đã chẳng hô hoán nhau giết chóc đồng loại như chính những câu thơ trên đây đã tố giác họ.
Trong chính thể chuyên chế, nếu muốn sáng tạo được những tác phẩm kiệt xuất thì nghệ sỹ phải giữ được khoảng cách tinh thần ngày càng lớn với nhà cầm quyền chuyên chế. Khi mà nghệ sỹ nhận được quá nhiều lời ngợi khen từ nhà cầm quyền chuyên chế vừa bạc nhược vừa hung bạo, chính là khi mà tài năng của nghệ sỹ có thể đang xuống dốc rồi. Lịch sử nghệ thuật của các nhà nước chuyên chế đã chứng minh cho sự thể đó: tất cả các nghệ sỹ vĩ đại đều chẳng ưa thích gì các nhà cầm quyền chuyên chế vừa hung bạo vừa ngu muội. Ludwig van Beethoven đã rút lại lời đề tặng một nhạc phẩm cho Napoléon Bonapartes vào năm 1804 khi biết nhân vật này đã thiết lập nền độc tài quân sự cho nước Pháp. Nếu yêu thích nhà cầm quyền chuyên chế thì nghệ sỹ sẽ rơi vào sự dối trá phổ biến, như Evgheny Alexandrovich Evtushenko chẳng hạn 112), nếu không bợ đỡ nhà cầm quyền này thì làm sao mà nhà cầm quyền này ngợi khen nghệ sĩ được! Nhưng đã bợ đỡ rồi làm sao mà né tránh được sự dối trá! Kể ra, chính thể chuyên chế cũng đã từng tạo ra được một số kiệt tác nghệ thuật nhưng luôn luôn bị hạn chế bởi chính chính thể đó. Ở đây việc sáng tạo bị giới hạn vào một trong hai trường hợp sau đây: hoặc được thực hiện bởi chính nhà cầm quyền chuyên chế hoặc được thực hiện bởi một số nghệ sỹ vĩ đại mà tư tưởng luôn xa cách nhà cầm quyền kia, như W. Goeth, W. Mosart, L. Beethoven, v. v..
Đối với trường hợp thứ nhất, nhà cầm quyền chuyên chế nắm giữ độc quyền sáng tạo để sáng tạo theo những cung cách hết sức xa hoa bằng những phương tiện hết sức xa xỉ để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật chỉ biểu lộ nếp sống xa hoa của chính họ. Trong khi sáng tạo, họ phải dùng dân chúng làm “công cụ sáng tạo” để thực hiện các ý tưởng cá nhân của họ làm cho dân chúng phải hy sinh rất nhiều, những tác phẩm nghệ thuật của họ luôn luôn được đánh đổi bằng sự hy sinh to lớn của dân chúng, những tác phẩm ấy chỉ mang tên tuổi của nhà cầm quyền chuyên chế chứ không bao giờ mang tên tuổi của đám đông dân chúng mặc dù đám đông đó được dùng làm vật liệu để tạo nên những tác phẩm ấy, làm cho tất cả những người thưởng thức nghệ thuật chỉ thấy được tâm hồn của các nhà cầm quyền chuyên chế trong những tác phẩm ấy mà chẳng mấy khi thấy được hoặc khó mà thấy được thể xác của dân chúng trong những tác phẩm ấy. Chẳng hạn nhìn vào Kim Tự Tháp ở Ai cập, người ta có thể dễ dàng thấy được tâm hồn của các pharaon nhưng không thể biết được chính xác có bao nhiêu nô lệ đã bị hy sinh cho nó; hoặc nhìn vào Vườn Treo Babylone ở Ba tư, người ta có thể dễ dàng thấy được ngay mối tình phóng khoáng của Hoàng đế Nabuchadnezzar dành cho Hoàng hậu Amitiser, tức Công chúa của xứ Mèdes, nhưng không thể biết được có bao nhiêu nô lệ đã bị hy sinh cho nó; hoặc nhìn vào Lăng mộ Taj Mahan ở Ấn độ, người ta có thể dễ dàng hình dung được mối tình thuỷ chung của Hoàng đế Shah Jehan đối với Hoàng hậu Argiuman Bano Belgum, nhưng không thể biết được có bao nhiêu nô lệ đã bị hy sinh cho nó, v. v..
Đối với trường hợp thứ hai, các nghệ sỹ thường phải hy sinh rất nhiều cho những tác phẩm kiệt xuất của mình. Để sáng tạo được những tác phẩm ấy, các nghệ sỹ phải sống cuộc đời khắc khổ hoặc thiếu thốn cùng cực, ngoài ra lại còn bị dị nghị hoặc bị quy chụp bởi những định kiến, những thành kiến, những thiến kiến, v. v., đến từ nhiều phía mà phía nào cũng ngu muội như nhau. Ví dụ những người yêu thích cầm ca thường bị quy chụp thành những kẻ xướng ca vô loài; hoặc Miguel de Cervantes Vaadra với tác phẩm “Don Quixote” đã bị tung lên rồi lại bị dìm xuống rất thảm hại bởi cái thiên kiến cho rằng: “nếu sự nghèo túng làm cho M. Cervantes Vaadra sáng tác được hay như thế thì cần phải làm cho ông ta nghèo túng hơn nữa để ông ta sáng tác được hay hơn nữa!”; hoặc W. Mosart đã phải sống khắc khổ như thế nào mới sáng tác được những kiệt tác âm nhạc cho nhận loại, v. v.. Nhưng quan trọng hơn, các nghệ sỹ vĩ đại thường phải giữ một khoảng cách ngày càng lớn về tư tưởng với các nhà cầm quyền chuyên chế mới có thể sáng tác được những cái đẹp vĩ đại.
Khi quan sát kiến trúc ở các nước chuyên chế, tôi thấy người ta xây dựng nhà ở như xây dựng pháo đài. Hầu như toà nhà nào cũng có cái vẻ bề ngoài hết sức u ám nhưng cấu trúc bên trong lại mang đầy động cơ phòng thủ. Sự thể đó chứng tỏ rằng trong chính thể chuyên chế, kiến trúc luôn luôn mang đầy nỗi khiếp sợ vốn được quy định bởi chính chính thể này. Do hầu hết dân chúng bị tước đoạt hết điền địa bởi giới cầm quyền khiến hầu hết dân chúng không có quyền sở hữu đối với điền địa nên các nước chuyên chế thường không có hoặc rất khan hiếm công trình kiến trúc to đẹp mà chỉ có các công trình kiến trúc nhỏ xấu với một kết cấu tạm bợ, nếu có các công trình kiến trúc to đẹp thì các công trình kiến trúc đó lại chủ yếu chỉ được sở hữu bởi giới cầm quyền hoặc những kẻ theo đóm ăn tàn đồng thời dễ dàng bị huỷ phá triệt để bởi các biến động chính trị. Chính vì các lý do đó nên ít người hoặc thậm chí chẳng mấy ai quan tâm đầu tư cho kiến trúc. Thay cho kiến trúc dân sinh, kiến trúc quân sự thường được ưu tiên đặc biệt.

3. Tôn giáo.

Tôn giáo nói chung là toàn bộ đời sống tâm linh của nhân loại biểu hiện thành những niềm tin tuyệt đối đòi hỏi phải loại bỏ mọi sự nghi ngờ vào những tư tưởng tiền định, nó bao gồm ba loại cơ bản: tôn giáo vô thần, tôn giáo hữu thần và tôn giáo trung dung.
Tôn giáo vô thần tin tưởng rằng nhân loại có bản tính vị tha rồi nhờ bản tính này mà sẽ đến một ngày nào đó nhân loại sẽ không cần đến sở hữu tư nhân nữa hoặc sẽ xoá bỏ được sở hữu tư nhân, xoá bỏ được giai cấp, xoá bỏ được cả nhà nước nữa; nhân loại sẽ xây dựng được một thiên đường ngay trên địa cầu, v. v., điển hình nhất cho tôn giáo này thuộc về Chủ nghĩa Marx – Lenin (Marxism – Leninism); ngoài ra còn có thể kể đến Nho giáo (Confucianism), v. v.. Còn tôn giáo hữu thần lại tin tưởng rằng cuộc sống của nhân loại luôn luôn bị chi phối bởi các lực lượng siêu nhiên. Niềm tin này giả định rằng nhân loại vẫn được sống ngay cả sau khi đã chết. Tôn giáo hữu thần lại có hai loại khác nhau: tôn giáo thần thánh và tôn giáo thần nhân. Tôn giáo thần thánh giả định rằng cuộc sống của nhân loại được an bài bởi các lực lượng siêu tự nhiên ở bên ngoài nhân loại, như Chúa, Jehova, Thánh Alla, v. v.. Tôn giáo thần nhân lại giả định rằng nhân loại có cả thể xác lẫn linh hồn, thể xác sẽ mất đi còn linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi, v. v..
Ngoài hai loại tôn giáo vô thần và hữu thần còn có những tôn giáo trung dung, vừa vô thần vừa hữu thần, như Phật giáo chẳng hạn, v. v.. Những tôn giáo này giả định rằng nhân loại vừa có bản nguyên vật chất vừa có bản nguyên thần thánh, rằng nếu có đầu óc sáng suốt thì người ta có thể trở thành thần thánh, rằng mọi nỗi bất hạnh đều chỉ phát sinh từ sự ngu muội mà thôi, v. v..
Nói chung có rất nhiều loại tôn giáo khác nhau nhưng tôn giáo nào cũng hướng người ta theo cái thiện mà chối bỏ cái ác. Tuy nhiên tôn giáo có đạt được mục đích của nó hay không, hoặc đạt được mục đích của nó ở mức độ nào theo khuynh hướng nào, còn phải phụ thuộc vào xã hội được tổ chức ra sao hoặc được tổ chức theo trật tự nào. Vậy chúng ta cần phải xác định mối liên quan ảnh hưởng lẫn nhau giữa chính thể với tôn giáo, xem hai cái đó sẽ tác động lẫn nhau như thế nào.
Tôn giáo nào cũng bắt nguồn từ nỗi khiếp sợ, khiếp sợ cả cái chết vui vẻ lẫn cuộc sống khổ sở. Tôn giáo vô thần bắt nguồn trực tiếp từ nỗi khiếp sợ cuộc sống khổ sở khiến người ta tin tưởng vào những tư tưởng cho rằng: rồi một ngày nào đó nhân loại sẽ xây dựng được thiên đường ngay trên địa cầu. Tôn giáo hữu thần bắt nguồn trực tiếp từ nỗi khiếp sợ cái chết, từ những cái chết vui vẻ nhất đến những cái chết khổ sở nhất khiến người ta tin tưởng vào những tư tưởng cho rằng: ngoài thế giới này còn có nhiều thế giới khác nữa, thiên đường hay địa ngục, đang chờ đón họ sau khi chết. Còn tôn giáo trung dung bắt nguồn trực tiếp từ nỗi khiếp sợ đối với cả cái chết lẫn cuộc sống mà nó cho rằng chỉ có nỗi khổ sở đầy trái oan tội lỗi, v. v.. Nói chung mọi tôn giáo đều bắt nguồn từ bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, của nhân loại, bản năng này thể hiện tính chất mong manh của đời sống khiến người ta luôn luôn khiếp sợ, không chỉ khiếp sợ cái chết mà còn khiếp sợ luôn cả cuộc sống đầy khổ sở nữa. Thế mà nỗi khiếp sợ lại được gây nên bởi chính thể chuyên chế. Vậy tôn giáo nói chung rất thích hợp với chính thể này khiến chính thể này luôn luôn lấy một tôn giáo nào đó làm hệ tư tưởng chính thống cho mình. Tất nhiên, do chỉ được điều khiển bởi một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ nên mỗi chính thể chuyên chế nhất định chỉ có thể lấy một tôn giáo nhất định làm hệ tư tưởng chính thống cho mình mà thôi, nếu lấy tôn giáo này làm hệ tư tưởng chính thống cho mình thì tất yếu phải quy tất cả các tôn giáo khác thành tà giáo, từ đó tất yếu phải dẫn đến sự xung đột thường xuyên giữa các tôn giáo khác nhau trong một nước chuyên chế. Cái tôn giáo được lấy làm hệ tư tưởng chính thống luôn luôn quy chụp tất cả các tôn giáo khác thành tà giáo để dễ bề bức hại. Chẳng hạn, chính thể chuyên chế cộng sản lấy Chủ nghĩa Marx – Lenin (một tôn giáo vô thần) làm hệ tư tưởng chính thống cho mình ắt phải quy chụp tất cả các tôn giáo khác thành tà giáo rồi truy bức hết sức dã man tất cả các tôn giáo đó, v. v..
Về mục đích, tôn giáo nào cũng nhằm hướng thiện cho mỗi cá nhân làm cho mọi cá nhân phải luôn luôn hướng tới cái thiện cũng như mọi điều tốt đẹp khác. Thế mà chính thể chuyên chế lại có quá nhiều cái ác, sự thể này làm cho chính thể chuyên chế rất cần đến tôn giáo để hạn chế nhà cầm quyền chuyên chế thực hiện những hành vi hung bạo hoặc ác độc đối với dân chúng. Nhưng lợi bất cập hại, khi hạn chế được nhà cầm quyền chuyên chế thực hiện những hành vi xấu xa đối với dân chúng, tôn giáo lại làm cho hầu hết mọi người đều yếu đuối hơn về cả thể xác lẫn tinh thần hoặc ít nhất cũng đẩy xã hội vào những điều bất cập khác. Quả thật, chính thể chuyên chế làm cho đạo đức bị phân hoá thành nhiều tiêu chuẩn loại trừ nhau rồi chống lại chính mình.
Bất luận thế nào, tôn giáo rất phát triển trong chính thể chuyên chế. Mặc dù bắt nguồn trực tiếp từ nỗi khiếp sợ rồi gia tăng thêm nỗi khiếp sợ thành nỗi khiếp sợ mới góp thêm vào nỗi khiếp sợ có sẵn, nhưng mọi tôn giáo đều hướng người ta đến cái thiện, đó là tính chất hai mặt của tôn giáo nói chung, theo đó tôn giáo nào cũng vừa có những tác dụng tích cực vừa có những tác dụng tiêu cực đối với nhân loại. Tác dụng tích cực thể hiện qua động cơ đạo đức khiến chúng hướng người ta tới điều thiện, những điều tốt đẹp, dạy bảo người ta phải biết yêu thương người khác như yêu thương chính mình; còn tác dụng tiêu cực lại thể hiện qua cơ sở xuất phát khiến chúng làm tăng thêm nỗi khiếp sợ cho nhân loại. Trong chính thể chuyên chế, tất cả các tôn giáo được dùng làm hệ tư tưởng chính thống đều chỉ phát huy được tác dụng tiêu cực, làm tăng thêm nỗi khiếp sợ cho dân chúng mà không thể phát huy được tác dụng tích cực, không thể hướng người ta đến được cái thiện. Các tín đồ thuộc về tôn giáo chính thống thường tụng niệm nhem nhẻm nhưng cũng chửi rủa nhem nhẻm, họ không hiểu mà cũng không cần hiểu giáo lý chính thống dạy bảo cái gì nhưng họ lại rất giỏi dùng giáo lý đó vào việc bôi nhọ hoặc lăng mạ lẫn nhau, chửi rủa nhau thậm tệ. Nhà nước chuyên chế có cả một hệ thống academy về tôn giáo để cho các tín đồ của mình làm những điều tồi tệ.
Ở đây tôn giáo luôn luôn bị biến tướng thành mê tín dị đoan làm cho dân chúng bạc nhược tinh thần, họ không thể chủ động tìm cách để tự cứu vớt mình mà lại chỉ thụ động phó mặc mình cho những điều ngẫu nhiên.
Cái tôn giáo được lấy làm hệ tư tưởng chính thống chỉ phát huy được tác dụng tiêu cực của nó, nó làm tăng thêm nỗi khiếp sợ cho dân chúng đồng thời làm cho tất cả các tôn giáo khác bị phân hoá thành hai phe phái đối lập nhau: một phe phái vào hùa với nhà nước chuyên chế đối lập với phe phái kia chống lại nhà nước này. Chẳng hạn ở Liên bang Soviet, chủ nghĩa cộng sản được tuyên truyền rộng rãi hàng ngày làm cho dân chúng khiếp sợ cuộc sống bần hàn nô dịch mà tin tưởng rằng nếu nhà nước chuyên chế soviet mà sụp đổ thì toàn thể nhân dân soviet sẽ bị rơi vào nanh vuốt của bọn đế quốc đủ loại hoặc bị nô dịch bởi bọn tư bản đủ loại, cả trong nước lẫn ngoài nước. Việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản như vậy làm cho toàn thể dân chúng khiếp sợ mà ra sức bảo vệ chế độ chuyên chế soviet, tức là bảo vệ cái xiềng xích chuyên chế đang trói buộc mình mà không hề hay biết. Tình hình đó làm cho tất cả các tôn giáo khác đều rơi vào tình trạng lộn xộn cùng cực: thay cho việc hướng thiện, người ta lại tuyên truyền mê tín dị đoan; việc đầu cơ trục lợi trong sinh hoạt tôn giáo xảy ra rất tự nhiên như địa cầu xoay quanh thái dương khiến những chức sắc có lương tâm cực kỳ bức xúc. Chỉ đến khi nổ ra cuộc cách mạng dân chủ tự do vào năm 1991, tình trạng nói trên mới chấm dứt. Tình trạng trên đã chấm dứt nhưng dân chúng được giải phóng khỏi chế độ chuyên chế soviet không hề bị rơi vào nanh vuốt của bất cứ bọn đế quốc nào ở bên ngoài cả.
Nói chung, chính thể chuyên chế trực tiếp đẻ ra tôn giáo hoặc ít nhất cũng tạo ra điều kiện cho tôn giáo nảy sinh rồi làm cho tôn giáo phát triển mạnh mẽ, nhưng những tôn giáo được dùng làm hệ tư tưởng chính thống chỉ phát triển theo xu hướng cực đoan thôi, làm cho dân chúng bị bại hoại về tinh thần, tức là những tôn giáo đó chỉ phát huy được tác dụng tiêu cực mà không thể phát huy được tác dụng tích cực đối với dân chúng làm cho dân chúng cam tâm chấp nhận làm nô lệ mãi mãi cho nhà cầm quyền chuyên chế; còn những tôn giáo nhân dân, tức là tôn giáo của dân chúng, lại phải cố gắng rất nhiều để làm nơi trú ẩn an toàn cho đạo đức xã hội. Nếu không có nền chuyên chế nghiệt ngã thì không thể có Phật giáoẤn độ, không thể có Chúa giáoLa mã, không thể có Hồi giáoTrung Đông, v. v..
Mặc dù đã phê phán tôn giáo nhưng K. Marx đã không thể nào hiểu được tôn giáo về cả nguồn gốc lẫn bản chất cho nó, thậm chí ông còn quy kết tôn giáo thành thuộc phiện. Quan niệm này chỉ đúng đắn đối với một số ít tôn giáo vô thần mà thôi, trong đó đương nhiên phải có cả chính Chủ nghĩa Marx!

4. Giáo dục.

Giáo dục là hoạt động có tổ chức nhằm bồi dưỡng những phẩm chất nhân văn cho mỗi cá nhân.
Cái định nghĩa giáo dục như vậy đã cho thấy giáo dục không thể dung hoà với chính thể chuyên chế. Nếu bồi dưỡng những phẩm chất nhân văn cho mỗi cá nhân thì đương nhiên đã thúc đẩy (hoặc xúi giục!) cá nhân đi tìm tự do rồi còn gì nữa, mà tự do lại không thể có được trong chính thể chuyên chế! Vậy giáo dục phải làm gì trong chính thể này? Phải làm một công cụ nô dịch để nô dịch tinh thần của dân chúng chứ còn sao nữa!
Muốn làm công cụ nô dịch để nô dịch tinh thần của dân chúng, bản thân giáo dục phải thuộc về nhà nước chuyên chế hoặc phải phụ thuộc vào nhà nước này về cả thể xác lẫn tâm hồn, cả nhà giáo dục lẫn các kiến thức giáo dục đều phải phụ thuộc vào nhà nước chuyên chế.
Nhà giáo dục phải dạy bảo cho dân chúng biết khiếp sợ mà phục tùng nhà cầm quyền chuyên chế. Muốn thế, nhà giáo dục lại phải được giáo dục bởi nhà cầm quyền chuyên chế với một chuỗi kiến thức vừa ngu muội vừa nguy hiểm, hoặc ít nhất cũng phải hình thành thông qua một cơ chế mù quáng cùng cực để có được những kiến thức nói trên.
Trong chính thể chuyên chế, nhà giáo dục chỉ cung cấp được rất ít kiến thức đúng đắn cho dân chúng mà chủ yếu phải cung cấp rất nhiều kiến thức sai lầm hoặc thậm chí ngu muội cho dân chúng, sự thể đó một phần do nhà cầm quyền chuyên chế muốn thế để duy trì sự cai trị chuyên chế của mình đối với dân chúng, một phần do chính nhà giáo dục cũng bị hạn chế bởi cái cơ chế chuyên chế để phục vụ nhà cầm quyền chuyên chế.
Hoạt động giáo dục đòi hỏi phải có phương tiện giáo dục mà phương tiện này lại luôn luôn thuộc về nhà nước chuyên chế, nếu không thuộc về nhà nước đó tất cả thì ít nhất cũng phải thuộc về nhà nước đó một phần quan trọng nhất. Những phương tiện đó bao gồm một chuỗi kiến thức nhất định cùng với một cơ chế chính trị mà nhà nước chuyên chế cần phải vận hành để truyền đạt cái chuỗi kiến thức ấy vào đầu óc của dân chúng. Trong cái chuỗi kiến thức ấy phải có thật nhiều, càng nhiều càng tốt, kiến thức về chính trị mà nhà nước chuyên chế phải giải thích theo quan điểm nào phù hợp với lợi ích của mình. Ở Pháp trước năm 1789, nền giáo dục phong kiến đã dạy bảo dân chúng hãy phục tùng vua như phục tùng Chúa, hãy kiên nhẫn mà sống cuộc đời nghiệt ngã ở thế gian này để sau khi chết sẽ được hưởng hạnh phúc bên Chúa trên Thiên đường, nếu không nhẫn nhục được mà phạm tội chống lại vua thì sẽ phải chết rồi sẽ bị đày xuống Địa ngục, v. v.. Ở Đức từ năm 1933 đến năm 1945, nền giáo dục fascist đã dạy bảo dân chúng hãy nhắm mắt mà phục tùng các thủ lĩnh fascist, hãy dũng cảm xông ra chiến trường để cai trị thế giới, v. v.. Ở Liên bang Soviet, nền giáo dục cộng sản đã dạy bảo dân chúng hãy phục tùng Đảng Cộng sản Soviet với niềm tin tưởng sắt đá cho rằng Đảng Cộng sản Soviet luôn luôn đúng đắn mà không bao giờ sai lầm, hãy nỗ lực vượt qua những khó khăn to lớn trước mắt để về sau được hưởng cuộc sống dồi dào phúc lợi chứ đừng dại dột làm cách mạng dân chủ tự do mà bị đưa vào Khách sạn Lubyanka hoặc bị đưa đi nghỉ mát dài hạn ở Sibérie!
Để truyền đạt được những luận thuyết đại loại như vậy vào đầu óc của dân chúng, cần phải có các nhà giáo dục tương ứng, các nhà giáo dục này phải ngu dốt cùng cực mới có thể uốn lưỡi thuần thục theo các luận thuyết nói trên, mà loại nhà giáo dục này lại được cung cấp rất kịp thời bởi chính cái cơ chế chuyên chế.
Chúng ta hãy hình dung một nhà giáo dục tài năng lỗi lạc sẽ chỉ gây nên những điều chướng tai gai mắt cho nhà cầm quyền chuyên chế hoặc chỉ làm cho nhà cầm quyền này lo sợ mà thôi, lo sợ nhà giáo dục kia làm cho dân chúng hiểu biết quá nhiều về cái ngu xuẩn của nhà cầm quyền chuyên chế. Thế rồi nhà giáo dục kia làm sao mà được phép bước lên bục giảng để giáo dục dân chúng. Thôi, tài năng lỗi lạc ơi, xin bái biệt nhá!
Chúng ta lại hình dung một đám đông nhà giáo dục đi xin việc làm theo cơ chế thị trường được điều khiển bởi nhà nước chuyên chế, nhà giáo dục nào có tài sản mà biết cung phụng nhà cầm quyền chuyên chế, lại giỏi uốn lưỡi theo nhà cầm quyền này, chắc chắn sẽ được tuyển dụng. Ở đây đừng cậy nhờ vào tài năng đức hạnh mà thất bại đấy! Cứ thế một đám nhà giáo dục đông đảo nhưng ngu dốt cùng cực nối đuôi nhau, người sau ngu dốt hơn người trước, lần lượt chiếm lĩnh hết tất cả các bục giảng trong nhà trường chuyên chế làm cho người học càng học càng ngu dốt hơn, mà đã ngu dốt rồi lại thường thích làm điều bậy bạ, làm điều bậy bạ mà vẫn nghĩ mình hay, mình tốt, mình đẹp, v. v., hoặc ngay cả khi không thích làm điều bậy bạ nhưng do ngu dốt nên người ta vẫn cứ làm điều đó theo bản năngkhông tự biết! Từ đó làm cho xã hội vốn đã lộn xộn rồi lại càng lộn xộn hơn. Tất nhiên vẫn còn khá nhiều nhà giáo dục tài hoa lỗi lạc nhưng do cơ chế chuyên chế tác động nên đành phải sống lẩn quất trong dân chúng hoặc khiếp nhược mà không dám tham dự đua tranh để né tránh tai hoạ, có ai không ham sống mà không sợ chết đâu!
Trong chính thể chuyên chế, mỗi người thường chịu ba loại giáo dục vừa khác nhau vừa mâu thuẫn nhau: giáo dục của cha, giáo dục của thầy giáo và giáo dục của xã hội. Những điều mà xã hội dạy bảo ta làm đảo lộn tất cả tư tưởng của cả cha ta lẫn thầy giáo ta. Cha ta luôn luôn mong muốn ta thành đạt để được sung túc hơn bà con láng giềng, còn thầy giáo ta luôn luôn mong muốn ta thành danh để được vinh dự hơn các đồng nghiệp xung quanh, nhưng xã hội lại có khuynh hướng làm hỏng tất cả những nguyện vọng bất thường ấy bằng lòng đố kỵ thường trực cùng với vô số tệ nạn khác. Về mặt nào đó, ta thấy những điều cam kết trong tôn giáo hoặc hệ tư tưởng chính thống rất tương phản với những điều cam kết trong xã hội. Nhà cầm quyền chuyên chế luôn luôn lớn tiếng cam kết rằng sẽ trọng dụng nhân tài đồng thời sẽ quan tâm bồi dưỡng tài năng, nhưng lợi ích của nhà cầm quyền này lại không cho phép nhà cầm quyền này thực hiện những điều cam kết đó đâu, nếu cao hứng mà thực hiện những điều cam kết đó thì chẳng mấy chốc mà nhà cầm quyền này đánh mất quyền lực tuyệt đối của mình. Vả lại, do vận hành theo cơ chế xiêu lệch hoặc bất bình đẳng nên nền giáo dục chuyên chế khó có thể hoặc thậm chí không thể tạo ra được nhân tài thật sự, lại càng khó mà có được tài năng đích thực. Vậy cho dù nhà cầm quyền chuyên chế có cam kết hùng hồn như thế nào đi nữa cũng không cần phải bận tâm đến việc có hay không thực hiện những điều cam kết đó.
Vì học giỏi thường hay bị đố kỵ thậm chí còn bị hãm hại nữa nên trong số người đi học thường chỉ có rất ít người học giỏi thật sự mà chỉ có người học giỏi giả dối thôi, ở đây học giỏi chỉ có giỏi làm vừa lòng người khác thôi chứ không giỏi phát kiến hoặc phát minh. Vì việc học hành không đem lại điều gì tốt đẹp cho người học hoặc học hành mà không được trưng dụng (chẳng mấy ai dùng mình đã đành nhưng ngay cả mình cũng không dùng được mình!) nên đa số dân chúng chẳng tha thiết gì với việc học hành, họ đặc biệt tin tưởng rằng “văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”, sự thể này đã giải thích cho chúng ta hiểu được tại sao trẻ con ở các nước chuyên chế thường rất lười nhác học hành nhưng lại rất ham mê chơi bời lêu lổng để rồi từ đó rất nhiều đứa sa ngã vào những tệ nạn đen bạc nhất. Vì người ta bao giờ cũng mong muốn được vui vẻ thoải mái thế mà trong chính thể chuyên chế việc chơi bời lêu lổng lại mang lại vui vẻ thoải mái nhiều hơn việc học hành, nên rất tự nhiên, trẻ con thường thích chơi bời lêu lổng hơn việc học hành; chỉ có rất ít gia đình khá giả quyết tâm lấy việc học hành làm con đường tiến thân mới gò ép con cháu của mình vào việc học hành ngay từ khi chúng còn nhỏ dại, nhưng tỷ lệ thành đạt cũng rất thấp, bọn trẻ con nhà giàu nhiều khi còn ham mê chơi bời lêu lổng hơn cả bọn trẻ con nhà nghèo. Đặc biệt bọn trẻ con nhà quan chức thường ỷ thế cậy quyền lại còn ham mê chơi bời lêu lổng nhiều hơn cũng chẳng tha thiết gì với việc học hành, cha mẹ chúng đã chuẩn bị hết mọi tiện nghi vật chất cho chúng rồi làm cho xã hội nói chung cũng như giáo dục nói riêng tiếp tục sa đoạ. Vả lại, nền giáo dục chuyên chế vận hành theo một cơ chế xiêu lệch hoặc bất bình đẳng làm cho bản thân nó trở thành đặc quyền đặc lợi chỉ rơi vào những thành phần vừa có tiền bạc vừa có quyền lực, những đứa trẻ con thông minh hiếu học nhưng nghèo túng thường bị gạt ra khỏi trường học để thay thế bằng những đứa trẻ con nhà quan chức vừa ngu độn vừa hỗn xược làm cho quá trình giáo dục gặp rất nhiều khó khăn hoặc phải hao tổn rất nhiều thứ mà kết quả chẳng được bao nhiêu.
Suy nghĩ nghiêm túc qua nhiều năm, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm sâu xa rằng: con hư hỏng tại cha mẹ, cháu hư hỏng tại ông bà, trẻ con hư hỏng tại người lớn, học trò hư hỏng tại nhà trường, nhà trường hư hỏng tại thể chế, thể chế xấu làm hư hỏng mọi hạng người trong xã hội. Muốn sửa chữa những hư hỏng cho người đời, cần phải sửa chữa những hư hỏng cho thể chế: phải thay thế thể chế xấu bằng thể chế tốt. Muốn thay thế thể chế xấu bằng thể chế tốt lại cần phải có tư tưởng tốt, tư tưởng đó đã được trình bày ở đây.
Trong nền giáo dục chuyên chế, các nhà quản lý giáo dục thường bày đặt rất nhiều dự án to lớn để bòn rút tiền bạc của dân chúng đồng thời phá hoại nền giáo dục chân chính bất chấp dư luận phản ứng ra sao, làm cho dân chúng đã ngu dốt lại càng ngu dốt hơn, ở đây giáo dục phải phục vụ tôn giáo chứ không phải tôn giáo phải phục vụ giáo dục như trong chính thể dân chủ. Việc cải cách chương trình giáo dục, việc tuyển dụng nhân lực làm giáo viên, việc tổ chức thi cử cho học sinh, v. v., đều được thúc đẩy bởi những động cơ tư riêng: vừa trục lợi vừa phá hoại, trong đó không có việc nào mà lại không bị lạm dụng bởi nhà cầm quyền chuyên chế. Trong chính thể chuyên chế, bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, chỉ thúc đẩy người ta làm điều tồi tệ mà thôi.

5. Y tế.

            Không chỉ phá hoại nhân loại về tinh thần, chính thể chuyên chế còn phá hoại nhân loại về cả thể xác nữa. Không chỉ thúc đẩy nhà giáo dục nô dịch dân chúng về mặt tinh thần, chính thể chuyên chế còn thúc đẩy nhà y thuật cưỡng bức dân chúng về cả thể xác nữa. Không chỉ làm cho dân chúng bị sa đoạ về tinh thần, chính thể chuyên chế còn làm cho dân chúng bị méo mó về cả thể xác nữa.
            Trong chính thể chuyên chế, nhà y thuật biến thành những con ma cà–rồng khát máu mà ở Tây phương người ta gọi bằng cái tên là dracula. Họ chỉ chữa bệnh khi lấy được tiền bạc càng nhiều càng tốt. Dù họ có chữa bệnh với giá cả vừa phải nhưng giá cả này vẫn quá cao đối với đa số bệnh nhân vốn chỉ có thu nhập rất thấp mà nguyên nhân lại bắt nguồn từ chính bản chất của chính thể chuyên chế. Trong chính thể này, số nhà y thuật còn giữ được chút ít y đức càng ngày càng ít nhưng số ma cà–rồng khoác áo y thuật lại càng ngày càng nhiều làm cho một số ít nhà y thuật còn y đức trở nên chướng tai gai mắt đối với chúng. Những con ma cà–rồng khoác áo y thuật không chỉ hút máu của bệnh nhân mà còn sẵn sàng ăn cả thịt của bệnh nhân nữa kia. Những con ma cà–rồng ấy không chỉ sẵn sàng ăn cắp các bộ phận lành mạnh trong cơ thể của bệnh nhân nghèo để bán cho các bệnh nhân giàu mà còn sẵn sàng bày cách cho đám nhà giàu quyền quý ăn thịt của đồng loại nữa. các nước chuyên chế, đám người quyền quý thường tẩm bổ bằng những thực phẩm được làm từ thịt người, đặc biệt là thai nhi. Ở đây, chính thể chuyên chế đã làm cho nhân loại bị tụt xuống thấp hơn cả thú vật.
Cũng như mọi lĩnh vực khác trong chính thể chuyên chế, y tế đã bị đảo ngược mục tiêu. Từ cứu chữa người, y tế chuyển sang bức hại người hoặc ít nhất cũng bức hại người nhiều hơn cứu chữa người. Những người có lương tri mà chống đối chế độ bằng cách nào đó thường bị đưa vào Y viện Tâm thần để rồi trở thành bệnh nhân tâm thần! Các y sỹ sẵn sàng vào hùa với nhà cầm quyền chuyên chế để hãm hại những người có lương tri như vậy. Hoặc những người có lương tri như vậy sẽ bị đưa vào các y viện khác để rồi bị nhồi độc dược cho chết ngay hoặc chết dần chết mòn! Do tệ nạn quan liêu tắc trách phát triển vô tội vạ bao trùm mọi lĩnh vực trong chính thể chuyên chế, nên nhiều người khác dù không chống đối chế độ cũng trở thành nạn nhân tương tự!
Tất cả các nguồn lợi lộc trong lĩnh vực y tế đều tập trung cả vào hệ thống quản lý từ những con ma cà–rồng nắm quyền quản lý độc đoán ở các cơ sở y tế thấp nhất đến nhà cầm quyền chuyên chế lớn nhất ở chót vót trên cao. Ai muốn đòi hỏi công lý hoặc đạo đức hãy leo trèo lên đó mà đòi hỏi chứ đừng kêu la hoặc khóc lóc ở các y viện kẻo làm cho người khác phải đau nhức đầu óc!

IV – KẾT LUẬN.

Như vậy, chính thể chuyên chế không chỉ gây nên ô nhiễm cho môi trường tự nhiên mà còn gây nên ô nhiễm cho cả môi trường xã hội nữa; khi bị ô nhiễm, môi trường xã hội hầu như chỉ có các hành vi xấu xa cùng với các tư tưởng độc hại mà thôi, hai thứ đó nương tựa vào nhau để cùng nuôi dưỡng nhau làm cho mỗi cá nhân nhất định khó có thể hoặc thậm chí không thể nhận thức được bản thân, từ đó khó có thể hoặc thậm chí không thể có khả năng cần thiết để làm chủ bản thân, tâm lý sợ đấu tranh lan tràn từ cá nhân này đến cá nhân khác làm cho xã hội luôn luôn lầm đường lạc lối từ sai lầm này đến sai lầm khác.
Do chỉ có một hoặc một số ít người cai trị đám đông nên chính thể chuyên chế phải thoả mãn được ít nhất ba điều kiện sau đây mới có thể tồn tại được: thứ nhất, nhà cầm quyền phải bạo hành làm cho dân chúng khiếp sợ mà phục tùng; thứ hai, nhà cầm quyền phải cướp bóc dân chúng làm cho dân chúng nghèo túng đồng thời làm cho xã hội bị phân hóa trầm trọng thành hai cực đối lập thù địch với nhau: một cực chỉ gồm có một số ít người giàu có kếch xù đối lập thù địch với một cực gồm có đại đa số người nghèo túng cùng cực; thứ ba, nhà cầm quyền phải dối trá để hợp lý hoá sự cai trị độc đoán của mình đối với dân chúng làm cho hầu hết mọi người đều ngu dốt. Dân chúng ngu dốt đã đành nhưng ngay cả các nhà cầm quyền cũng ngày càng ngu dốt hơn. Cả ba điều kiện này đều góp phần tạo ra ý thức mê hoặc khiến hầu hết mọi người đều vừa ngu dốt vừa bạc nhược: dễ dàng tin những điều không đáng tin hoặc không tin những điều đáng tin hoặc ngờ vực những điều không đáng ngờ vực. Hầu hết mọi người đều chỉ quen suy nghĩ bằng định kiến mà chẳng mấy ai suy nghĩ bằng kiến thức.
Chính thể chuyên chế đảo ngược mọi thứ làm cho mọi thứ đều bị lộn ngược: văn hoá trở thành phản văn hoá, theo đó khoa học trở thành nguỵ khoa học, nghệ thuật trở thành phản nghệ thuật, tôn giáo trở thành nguỵ tôn giáo, v. v., tức là nó làm cho nhân loại trở thành một thế giới lộn ngược. Nói bằng giọng triết lý: chính thể chuyên chế làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa để người ta nuôi dưỡng những định kiến, những thành kiếnnhững thiên kiến về bản tính đó, tức là chính thể chuyên chế làm cho người ta chỉ có ý thức mê hoặc về bản tính vị kỷ, ý thức này làm cho người ta phải làm nô lệ cho bản tính vị kỷ để bản tính này dẫn dắt người ta đến chỗ diệt vong.
Muốn thoát khỏi tình trạng đó, người ta phải thay đổi nhận thức để thấy được tình trạng đó, người ta phải thay đổi nhận thức để thấy được bản tính vị kỷ chỉ xấu xa khi thúc đẩy người ta làm điều xấu xa hoặc chỉ tốt đẹp khi thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp, người ta phải thay đổi nhận thức để thấy được chính thể chuyên chế chỉ thúc đẩy người ta làm điều xấu xa làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa cũng như chính thể dân chủ chỉ thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính tốt đẹp, người ta phải thay đổi nhận thức để chấm dứt đấu đá lẫn nhau đồng thời tìm kiếm sự đồng thuận chính trị, người ta phải thay đổi nhận thức để thay đổi chính trị bằng giải pháp hòa bình từ chính thể chuyên chế vốn làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa chuyển biến an toàn sang chính thể dân chủ vốn làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính tốt đẹp!





103) Mặc dù trải nghiệm chính trị quá nhiều với quá nhiều cuộc phiêu lưu mạo hiểm cho sự nghiệp cách mạng vô sản, nhưng phải đến cuối đời, trước khi chết vào ngày 21 Tháng Giêng 1924, V. I. Lenin mới phát hiện được vào ngày 02 Tháng Ba 1923 một chân lý hết sức giản đơn: (a) “Quá khứ này tuy đã bị lật đổ, nhưng chưa bị tiêu diệt, nó chưa phải là một giai đoạn văn hóa đã hết thời từ lâu”; (b) “những công nhân hăng hái đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Họ chưa có đủ học thức. Họ rất muốn đem lại cho chúng ta một bộ máy tốt hơn. Nhưng họ không biết làm thế nào. Họ không thể nào làm được việc đó”; (c) “chúng ta đã cải tiến bộ máy nhà nước của mình. Nhưng đó chỉ là một hoạt động phí công; một hoạt động, qua năm năm, đã chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng hoạt động đó chỉ vô hiệu, thậm chí còn vô ích, hoặc thậm chí còn có hại nữa. Nhìn lại hoạt động phí công ấy tưởng chừng chúng ta công tác, nhưng thực tế, hoạt động đó đã làm cho những cơ quan và đầu óc của chúng ta đóng cáu lại”! Chân lý này đã từng được phát hiện từ hàng ngàn năm trước bởi Aristote rồi được lặp lại vào đầu thế kỷ XX bởi V. I. Lenin, nhưng đám học trò thân cận của V. I. Lenin đã giấu diếm hết tất cả những văn bản của V. I. Lenin liên quan đến chân lý này. Mãi đến cuối thế kỷ XX, sau Cách mạng Dân chủ Tự do ở Đông Âu châu, người ta mới tìm thấy chúng trong kho lưu trữ. Vậy đừng thần thánh hoá V. I. Lenin nữa nhá!
104) Cái hiện thực oái oăm này đã từng được mô tả rất sinh động bởi K. Marx với một phạm trù trứ danh, đó là Phương thức Sản xuất Á châu. Nhưng ông này không thể hình dung được rằng cái hiện thực oái oăm đó chỉ có thể được tạo ra trực tiếp bởi chính thể chuyên chế nghiệt ngã cùng cực, rằng nếu không có chính thể chuyên chế nghiệt ngã như vậy thì tuyệt đối không thể có được cái hiện thực oái oăm đó đâu.
105) Cái tất yếu này đã giải thích được tại sao nhà nước chuyên chế thường tổ chức dãn dân bằng các biện pháp cưỡng bức, tức là cưỡng bức một bộ phận dân chúng di cư đến những vùng lãnh thổ xa xôi hẻo lánh để “khai thác tài nguyên”. Thực tế việc cưỡng bức di cư như vậy chỉ có lý do chính trị chứ không hề có lý do kinh tế như người ta tuyên truyền. Chính vì chỉ có lý do chính trị mà không hề có lý do kinh tế nên việc cưỡng bức di cư như vậy đã bị thất bại hoặc bị phản kháng dữ dội bởi chính những người dân bị cưỡng bức di cư; chỉ sau một thời gian ngắn sống ở vùng đất mới, những người dân này lại trở về vùng đất cũ hoặc chạy trốn đến những vùng đất khác để tránh bị truy bức.
106) Hình như Phật giáo ở Ấn độ cũng như Đạo giáo ở Tàu quốc (vốn có tính chất rất ôn hoà) có lẽ đã phát sinh trực tiếp từ yêu cầu về sự cần thiết phải giữ gìn sự an bình thịnh vượng cho chính thể chuyên chế. Với những đền thờ được xây cất hòa lẫn vào thiên nhiên cùng với những nghi thức tôn giáo xảy ra trong đó, cả hai tôn giáo này đều kêu gọi mọi cá nhân hãy quay trở về với tự nhiên để sống hoà mình vào tự nhiên. Khác hẳn tư tưởng khai sáng ở Tây phương sau này kêu gọi mọi cá nhân hãy quay trở về với tự nhiên để sống theo tự nhiên. Ở đây cần phải hiểu rằng sống hoà mình vào tự nhiên khác hẳn sống theo tự nhiên. Sống hoà mình vào tự nhiên tức là sống bằng kinh tế tự túc chủ yếu dựa vào nông nghiệp mà toàn bộ thành quả phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, đồng thời phải diệt dục hoặc từ bỏ mọi ham muốn hưởng thụ khoái lạc, tức là phải chống lại bản tính vị kỷ; còn sống theo tự nhiên lại là sống bằng kinh tế hàng hoá đồng thời phải hành xử theo pháp luật, tức là sống theo chính thể dân chủ. Do không biết cái gì đã làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa đến nỗi cần phải bị tiêu diệt nên cả hai tôn giáo nói trên đều chủ trương diệt dục, tức là chống lại bản tính vị kỷ, mà không tìm cách để làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính tốt đẹp hoặc động cơ thúc đẩy người ta thực hiện những hành động vị tha.
107) Charles de Secondat Montesquieu: Sách đã dẫn, quyển XXII, chương II, trang 164.
108) Charles de Secondat Montesquieu: Sách đã dẫn, từ trang 67 đến trang 68.
109) Charles de Secondat Montesquieu: Sách đã dẫn, quyền XI, chương VI, trang 101. C. S. Montesquieu còn nói thêm ở trang đó rằng: “Hãy xem một nước cộng hoàcông dân lại ở vào cảnh ngộ này: cơ quan cẩm quyền vừa thi hành pháp luật lại vừa tự cho mình làm ra pháp luật, cơ quan đó có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ mà nếu còn làm cả việc xét xử nữa (bảo vệ pháp luật) thì cơ quan đó có thể nghiền nát mỗi công dân theo ý muốn của họ”. Tôi xin chú thích rằng đó không phải là một nước cộng hoà mà chỉ là một nước chuyên chế mặc dù có cái tên gọinước cộng hoà! C. S. Montesquieu thường diễn đạt tư tưởng của mình bằng giọng điệu hiểm hóc mà bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhưng bên trong lại châm biếm tới số.
110) Thơ được sáng tác bằng tiếng Latin bởi Lucrèce (Thi sỹ La mã (98 – 55, trước Công nguyên), theo tư tưởng triết học của Epicure), bản dịch Pháp ngữ của d’Hesnaut được trích dẫn bởi Charles de Secondat Montesquieu trong “De l’Esprit des Lois”, tức là “Tinh thần Pháp luật”, rồi lại được dịch sang Việt ngữ bởi Hoàng Thanh Đạm: Sách đã dẫn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996, trang 168. Trong nền dân chủ hiện đại, người ta còn kích thích sinh đẻ nhiều bằng nhiều phương tiện khác, như film sex chẳng hạn, v. v., film sex được sản xuất rất nhiều nhưng nhiều người ở các nước chuyên chế không hiểu được tại sao, do bị nô dịch nặng nề về tinh thần nên họ quy kết film sex thành văn hoá phẩm đồi truỵ. Đó là một định kiến tầm thường, không hơn mà cũng không kém!
111) Boris Leonidorovitch Pasternak là văn sỹ hàng đầu ở Liên bang Soviet, được nhận Giải thưởng Nobel bởi tiểu thuyết “Bác sỹ Givago”. Do được nhận giải thưởng này nên về sau B. L. Pasternak đã bị khủng bố rất tàn nhẫn, bị khai trừ khỏi Hội Văn học Soviet, bị nghi kỵ rồi bị cô lập cho đến tận lúc chết.
112) E. Evtushenko là thi sỹ soviet, chuyên sáng tác theo kiểu hô hào nhằm bợ đỡ chế độ soviet, thể hiện tính cách ham chuộng hư vinh, được ban tặng nhiều danh hiệu, huy hiệu và huy chương, v. v.. Ông bị thất sủng ngay sau cuộc Cách mạng Dân chủ ở Đông Âu châu (1989 – 1991).
J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Tư 2004)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét