Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Thế nào là thể chế tổng thống, thể chế đại nghị, thể chế bán - tổng thống?

Ngô Linh Sơn

Ông Nguyễn Sĩ Dũng.
Ngày 10/4/2017, ông tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã cho đăng bài “Đổi mới 2.0” trên Tạp chí Tia Sáng là báo của Nhà nước, thuộc Bộ Khoa học công nghệ Việt Nam.
Ngày 19/4/2017, trên Tạp chí Tia Sáng, ông Dũng cho đăng bài “Nhất thể hóa: tính chất cấp thiết của vấn đề“. Bài này có đoạn: Nhất thể hóa giửa Đảng và Nhà nước có thể là cải cách quan trọng nhất của công cuộc đổi mới 2.0.
Ngày 17/5/2017, cũng trên Tạp chí Tia Sáng, ông Dũng cho đăng bài “Nhất thể hóa: phân tích để lựa chọn mô hình“. Trong bài này ông Dũng viết: Nếu nhất thể hóa là việc Đảng hóa thân vào Nhà nước thì lựa chọn mô hình để nhất thể hóa là điều đầu tiên quan trọng nhất chúng ta phải làm. Ông Dũng đưa ra 3 mô hình để lựa chọn: mô hình thể chế Tổng thống, mô hình thể chế Đại nghị và mô hình lai là thể chế Tổng thống lưỡng tính. Cuối bài ông Dũng nhấn mạnh vào 2 thể chế là thể chế Đại nghị và thể chế Tổng thống lưỡng tính.
Ngày 27/5/2017, vẫn trên Tạp chí Tia Sáng, ông Nguyễn Sĩ Dũng cho đăng tiếp bài “Vận hành nhất thể hóa theo mô hình Đại nghị“, trong đó có đoạn: Nhất thể hóa là việc Đảng hóa thân vào Nhà nước chứ không phải việc Đảng kiêm nhiệm các chức danh của Nhà nước.
Khi còn đương chức, ông Nguyễn Sĩ Dũng là người làm công tác nghiên cứu cho Quốc hội, thường viết về các vấn đề cơ chế, chính sách nên những bài ông viết vào những ngày 10/4, 19/4, 17/5 và 27/5/2017 được rất nhiều độc giả quan tâm. Nhà báo Phạm Chí Dũng cho rằng có thể đây là những tín hiệu mới, vì thời gian ông Dũng cho đăng những bài này trùng với thời gian ĐCSVN họp hội nghi trung ương 5.
Cho đến nay, các thể chế mà ông Nguyễn Sĩ Dũng nói tới đều rất xa lạ với người Việt Nam. Rất ít người biết nội dung từng thể chế đó ra sao, có điểm nào là mạnh, là yếu trong lý luận và thực tiễn kiến tạo và quản trị quốc gia. Nhưng hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chính phủ vận hành theo 1 trong 3 thể chế mà ông Dũng đã nêu ra để lựa chọn.
Tạp chí Nghiên cứu quốc tế và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã có bài giới thiệu và phân tích so sánh chế độ tổng thống và chế độ đại nghị. Nội dung các bài này bổ sung lẫn nhau cho dễ hiểu hơn.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có các bài “Thế nào là thể chế tổng thống?, “Thế nào là thể chế đại nghị?”, “Nền cộng hòa đại nghị là gì?“ và “Thế nào là chế độ bán - tổng thống?”.
Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số ra ngày 08/12/2013 có bài “So sánh chế độ tổng thống và chế độ đại nghị“ (http://nghiencuuquocte.net/2013/12/08/93-so-sanh-che-do-tong-thong-voi-che-do-dai-nghi/) , của Josept W. Robbin, Vũ Thị Hương Giang biên dịch và hiệu đính.
Theo Josept W. Robbin thì một đất nước áp dụng chế độ tổng thống hay chế độ đại nghị là khác biệt vô cùng có ý nghĩa. Cả 2 chế độ Tổng thống và Đại nghị đều có những ưu điểm và những hạn chế, do đó khi lựa chọn thể chế thì cần hiểu những khác biệt giữa các thể chế ấy, nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực tiềm ẩn đối với một đất nước nhất định. Phải biết sự khác biệt giữa các thể chế đó về cách thức bầu cử, lập ra đơn vị hành pháp và đơn vị lập pháp chính, cách 2 nhánh này tương tác với nhau và cách hình thành chính phủ, sau đó xác định sự liên quan, để hiểu những chủ đề như hoạch định chính sách, đại diện và tồn vong của nền dân chủ Josept W. Robbin nhắc nhở: Việc lựa chọn hình thức thể chế là quan trọng nhưng cần lưu ý rằng chính các điều kiện vốn có hoặc những đặc điểm nền tảng mới gây nguy hiểm cho sự ổn định nền dân chủ. Ví dụ, kinh nghiệm của nhiều nước Mỹ La tinh đã trải qua cho thấy sự có mặt một chế độ độc tài quân sự nguy hiểm hơn bất cứ việc chọn một thể chế nào.
Dưới đây là tóm tắt sơ lược nội dung những bài báo đó, giúp các bạn chưa có thời gian xem trực tiếp trên Tạp chí nghiên cứu quốc tế và Bách khoa toàn thư Wikipedia cùng tham khảo.
Nội dung tóm tắt gồm:
1 - Thế nào là thể chế tổng thống?
2 - Thế nào là thể chế đại nghị và nền cộng hòa nghị viện là gì?
3 - Những khác biệt chính giữa thể chế tổng thống và thể chế đại nghị là gì?
4 - Thế nào là thể chế bán - tổng thống?
***
1 - Thế nào là thể chế tổng thống?
Thể chế tổng thống tiếng Anh là Presidential System, còn gọi là Tổng thống chế hoặc Hệ thống tổng thống.
Đó là một hệ thống có những đặc điểm sau:
1 - Về cơ bản, có 1 Tổng thống duy nhất do dân bầu trực tiếp, làm đại diện ủy quyền cho cả nước, không phụ thuộc vào Quốc hội có ủng hộ hay không.
Riêng ở Hoa kỳ, việc bầu Tổng thống không phải là trực tiếp, cũng không phải là gián tiếp mà bầu thông qua 1 đại cử tri đoàn.
Lưu ý về danh xưng Tổng thống: có trường hợp 1 kẻ độc tài không được dân bầu chính thức vẫn tự xưng là Tổng thống. Tổng thống này không là đại diện ủy quyền của dân chúng cả nước như trong thể chế tổng thống.
2 - Nguyên lý trung tâm của hệ thống tổng thống là ngành lập pháp và ngành hành pháp phải phân lập. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu ngành hành pháp. Tổng thống không có quyền bãi nhiệm và ra lệnh cho các quan tòa.
3 - Tổng thống không đề nghị các đạo luật nhưng có quyền phủ quyết các đạo luật của ngành lập pháp. Ngành lập pháp có thể vô hiệu hóa sự phủ quyết của Tổng thống bằng một đa số phiếu.
4 - Nhiệm kỳ phục vụ của Tổng thống là cố định. Trong nhiệm kỳ, Tổng thống không thể bị đưa ra bỏ phiếu bất
tín nhiệm. Có ngoại lệ: ở một số quốc gia theo thể chế tổng thống, Tổng thống có thể bị luận tội và bị phế truất nếu bị xét xử là phạm luật (ví dụ ở Nam Hàn)
Thể chế tổng thống có những ưu điểm và những hạn chế nào?
Theo ý kiến những người ủng hộ thì thể chế tổng thống có 4 ưu điểm:
1 - Tổng thống được dân bầu trực tiếp, thể hiện tính đại diện cho toàn thể dân chúng cả nước.
Trước khi đi bỏ lá phiếu cuối cùng, cử tri đã được cho biết chương trình hành động của Tổng thống, cử tri có thể xác định ai sẽ là Tổng thống của họ, ai sẽ là người dẫn dắt chính phủ.
2 - Có sự phân lập quyền lực giữa Tổng thống đứng đầu ngành hành pháp và Quốc hội thuộc ngành lập pháp thành 2 cơ cấu song song, tạo ra sự kiểm soát và cân bằng đặc thù, còn gọi là kiềm chế và đối trọng trong chính phủ, để hạn chế sự lạm quyền. Tuy nhiên 1 số học giả lại cho rằng chính cách phân lập quyền lực như thế có thể dẫn đến sự bế tắc chính trị, kéo theo sự sụp đổ nền dân chủ, nếu Tổng thống và đa số thành viên Quốc hội thuộc về 2 đảng khác nhau, đối lập nhau, tranh giành đặc quyền đặc lợi cho đảng mình. Tình trạng này đã từng xảy ra ở một số quốc gia theo thể chế tổng thống, như Brasil, Chile... Năm 2013, hệ thống của Hoa Kỳ đã bị tê liệt vì nguyên nhân này.
3 - Tổng thống có quyền lực lớn nên có thể thực thi nhanh chóng những thay đổi. Nhưng 1 số học giả cho rằng chính điều này có thể dẫn đến độc tài.
4 - Tổng thống có nhiệm kỳ phục vụ cố định nên có thể tạo ra sự ổn định cho chính phủ trong nhiệm kỳ đó.
Nhưng 1 số học giả lại cho rằng điều này gây khó khăn cho sự thay đổi lãnh đạo khi Tổng thống đã mất sự tín nhiệm của dân chúng nhưng chưa hết nhiệm kỳ, vì vậy có thể dẫn đến bế tắc và nguy cơ xảy ra đảo chính quân sự như đã từng xảy ra ở Mỹ La tinh.
2 - Thế nào là thể chế đại nghị?
Thể chế đại nghị (còn gọi là Đại nghị chế) có đặc điểm là nhánh hành pháp của chính phủ phụ thuộc vào sự hậu thuẫn (trực tiếp hoặc gián tiếp) của Quốc hội là nhánh lập pháp.
Từ đó dẫn đến những ưu điểm và những hạn chế của thể chế đại nghị là:
1 - Không có sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, đưa đến tình trạng thiếu sự giám sát và cân bằng quyền lực trong chính phủ. Đây là điều khác với thể chế tổng thống.
2 - Do hiếm xảy ra đối đầu giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, việc thông qua các dự luật có nhiều thuận lợi.
3 - Có tính linh hoạt và nhanh nhạy trước những phản ứng của công luận
4 - Mặc dù chính phủ được quy định thời hạn nhiệm kỳ (4 hoặc 5 năm) nhưng thể chế đại nghị có khả năng tạo ra được những cuộc tranh luận nghiêm túc, cho phép sự chuyển đổi quyền lực mà không cần tổ chức bầu cử và không giới hạn việc tổ chức bầu cử theo những thời hạn cố định như ở thể chế tổng thống. Điều này giúp hạn chế những biến động chính trị có thể dẫn đến sụp đổ chế độ cầm quyền.
Bằng chứng là sau thế chiến thứ 2, hai phần ba (2/3) các quốc gia thuộc thế giới thứ 3 theo thể chế đại nghị đã chuyển đổi thành công sang nền dân chủ. Trong khi đó không quốc gia nào thuộc thế giới thứ 3 theo thể chế tổng thống đã chuyển đổi thành công sang nền dân chủ mà không trải qua đảo chính hay thay đổi Hiến pháp. Theo thống kê của Bruce Ackerman thì đã có 30 quốc gia theo chế độ tổng thống phải trải qua tình trạng bế tắc và khó khăn này.
5 - Phân biệt rõ ràng chức danh đứng đầu Nhà nước (thường là một nhân vật được bổ nhiệm, có thể là một quân vương, như ở Nhật Bản, Anh, Thụy Điển, Nepal) và chức danh đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Đây cũng là điều khác với thể chế tổng thống.
Trường hợp riêng biệt:
- Một số quốc gia theo thể chế đại nghị có chức vụ Tổng thống do dân bầu là người đứng đầu Nhà nước, có một số thẩm quyền, nhằm duy trì thế cân bằng quyền lực cho hệ thống chính trị.
6 - Theo ngân hàng thế giới các quốc gia theo thể chế đại nghị đã làm được tốt việc kiềm chế nạn tham nhũng.
Sự lựa chọn loại hình chính phủ và hệ thống bầu cử của các quốc gia theo thể chế đại nghị:
Từ một cuộc bầu cử ban đầu, các cử tri quyết định phân bổ bao nhiêu ghế trong Quốc hội cho các chính đảng khác nhau đã tham gia tranh cử. Các đại diện được bầu sẽ được giao trách nhiệm hình thành chính phủ. Họ phải tổ chức cả nhánh hành pháp và nhánh lập pháp. Các quan chức lập pháp xác định ai là Thủ tướng đứng đầu chính phủ. Trong tình huống không có chính đảng nào chiếm đa số thì đảng nào chiếm nhiều ghế nhất chịu trách nhiệm xây dựng một Liên minh cầm quyền. Các đảng tham gia liên minh sẽ xác định Thủ tướng.
Khi Thủ tướng không còn sự ủng hộ của nhánh lập pháp (thể hiện qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở Quốc hội) thì phải tổ chức cuộc bầu cử mới.
- Phần lớn các quốc gia theo thể chế đại nghị ở Châu Âu được cai trị bởi 1 liên minh cầm quyền, cấu thành bởi nhiều chính đảng, được bầu theo hệ thống bầu đại diện theo tỷ lệ (proportional réprésentation, viết tắt là PR). Theo cách bầu cử PR thường không có chính đảng nào giành được thế đa số nên các chính phủ đại nghị thường dẫn đến sự hợp tác, hình thành liên minh cầm quyền. Ở thể chế này sự hợp tác giữa các chính trị gia rất quan trọng. Nếu thiếu sự hợp tác giữa các đảng thì chính phủ liên minh có thể sụp đổ.
Thể chế đại nghị với Liên minh cầm quyền đặc biệt hấp dẫn với những xã hội bị phân rẽ cao vì các nguyên nhân về chủng tộc, màu da, ý thức hệ vì nó có nhiều khả năng đại diện cho các lợi ích khác nhau trong xã hội.
- Một số quốc gia (Liên hiệp Vương quốc Anh, Bắc Ireland, Canada, Australia, Ấn Độ thuộc mô hình Westminter) theo thể chế đại nghị, dùng hệ thống bầu cử đa số chọn một đại biểu cho mỗi đơn vị bầu cử (single member district, viết tắt là SMD). Cách bầu cử SMD thường dẫn đến chính phủ được thành lập bởi một chính đảng (ví dụ ở Anh, đảng Lao động và đảng Bảo thủ thường thay nhau cầm quyền).
Nền Cộng hòa nghị viện là gì?
Cộng hòa nghị viện (hoặc Cộng hòa đại nghị) là một hình thức cộng hòa mà nguyên thủ quốc gia được dân bầu ra và quốc gia đó có một Nghị viện mạnh. Các thành viên chính của nhánh hành pháp được chọn từ Nghị viện này. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia không có quyền hành pháp rộng. Nhiều quyền hành pháp được trao cho Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ.
Ngoại lệ:
- Ở một số quốc gia cộng hòa nghị viện như Phần Lan, Ireland, Tổng thống có quyền hành pháp để điều hành công việc thường ngày của chính phủ, nhưng trên thực tế Tổng thống không dùng những quyền này.
Một số yếu tố lịch sử của nền cộng hòa nghị viện:
- Những quốc gia có nền Cộng hòa nghị viện thường là những quốc gia trước đây theo chế độ quân chủ lập hiến (có Vua đứng đầu nhà nước) , chẳng hạn Malta, Phần Lan, Nepal...
- Một số quốc gia có nền Cộng hòa nghị viện trước đây là những quốc gia cộng sản ở Đông Âu và Liên bang Xô Viết, như Cộng hòa Czech, Bosnia, Albania, Estonia …
3 – Có 5 khác biệt chính giữa chế độ Tổng thống và chế độ Đại nghị
1 - Trong một hệ thống tổng thống, nguyên lý trung tâm là 2 ngành lập pháp và hành pháp phải phân lập.
Từ đó dẫn đến:
- Các cuộc bầu cử Tổng thống được tổ chức riêng. Tổng thống được bầu để phục vụ 1 nhiệm kỳ cố định, không phụ thuộc Quốc hội có ủng hộ hay không. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, tức là đứng đầu ngành hành pháp.
- Tổng thống chỉ bị phế truất khi bị luận tội và bị kết án là có tội.
- Tổng thống không cần chọn thành viên nội các để nhận được sự ủng hộ của Quốc hội.
Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: ngành hành pháp được dẫn dắt bởi 1 Hội đồng bộ trưởng do 1 Thủ tướng đứng đầu. Hội đồng bộ trưởng này chịu trách nhiệm trực tiếp trước Quốc hội.
2 - Trong hệ thống Tổng thống, ngành lập pháp cũng có nhiệm kỳ cố định và không thể bị giải tán trước thời hạn. Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: ngành lập pháp có thể bị nguyên thủ quốc gia giải tán trước thời hạn, theo lời đề nghị của Thủ tướng và nội các hoặc của nội các.
3 - Trong hệ thống tổng thống, Tổng thống có quyền lực đặc biệt trong việc thông qua các đạo luật chính yếu, dựa vào quyền phủ quyết đối với các đạo luật. Tuy nhiên, trong 1 số trường hợp, quyền phủ quyết của Tổng thống bị áp lực từ ngành lập pháp, dùng số phiếu biểu quyết đa số, có thể đánh bại quyền phủ quyết cuả Tổng thống. Trong hệ thống đại nghị không có vấn đề này.
4 - Trong hệ thống tổng thống, Tổng thống có thể được trao một số lớn quyền lực hiến định để thực thi chức vụ Tổng tư lệnh.
5 - Trong hệ thống tổng thống thường có ít đảng phái tư tưởng hơn so với hệ thống đại nghị. Trong hệ thống đại nghị, những cuộc đua bầu cử dựa trên hệ thống bỏ phiếu bầu đại diện theo tỷ lệ (PR) kích thích hệ thống đa đảng.
Những nhân tố ngược nhau giữa thể chế Tổng thống và thể chế Đại nghị
- Trong hệ thống tổng thống, ngành lập pháp có thể có quyền lực xem xét sự bổ nhiệm và đôi khi có thể ngăn chặn sự bổ nhiệm quan chức cao cấp của ngành hành pháp. Tại Hoa Kỳ, nhiều quan chức được đề cử vào những vị trí cao trong ngành hành pháp phải được Thượng nghị viện xác nhận trước khi nhận chức.
- Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: Nội các có thể lợi dụng các viên chức tổ chức đảng trong Quốc hội, buộc đảng viên thuộc đảng đó bỏ phiếu theo ý của đảng, để kiểm soát và chi phối Quốc hội, làm giảm khả năng Quốc hội kiểm soát chính phủ.
Sự ra đời của thể chế lai
Theo thống kê công bố trên Bách khoa toàn thư Wikipedia, hiện nay có khoảng 40 nước cộng hòa có chính phủ theo thể chế tổng thống, trong đó có Hoa Kỳ, Brasil, Venezuela, Indonesia, Philippine, Hàn Quốc, Kazakhstan (trước đây thuộc Liên Xô). Nhưng tính trên toàn thế giới thì số lượng các quốc gia theo thể chế đại nghị nhiều vượt xa số lượng các quốc gia theo thể chế tổng thống.
Thể chế Tổng thống và thể chế Đại nghị đều có những khía cạnh hấp dẫn và những hạn chế, do đó một số quốc gia, trong đó có Pháp (kể từ nền cộng hòa thứ năm) và một số nhà nước trước kia là nhà nước cộng sản, như Ba Lan, Croatia, Ukraina, Lithuania... từ năm 1991 đã áp dụng thể chế lai là thể chế bán - tổng thống, có người gọi là thể chế tổng thống lưỡng tính. Thể chế lai này không còn nguyên dạng thể chế tổng thống và thể chế đại nghị nữa, nhằm tận dụng những ưu điểm và giảm thiểu những hạn chế của cả 2 thể chế Tổng thống và Đại nghị.
4 - Thế nào là thể chế bán - tổng thống?
Thể chế bán - tổng thống (tiếng Anh là semi - presidential system, tiếng Pháp là régime semi - présidentiel) là một hệ thống chính phủ, trong đó có 1 Tổng thống và 1 Thủ tướng. Cả 2 đều tham dự vào việc điều hành chính sự quốc gia thường ngày. Điểm này khác với thể chế tổng thống và thể chế đại nghị.
Thể chế lai này có đặc điểm là bị giới hạn bởi quyền lực của Quốc hội.
Hiến pháp nước Pháp liệt kê rõ những vấn đề mà Quốc hội được phép làm luật và chỉ cho phép Quốc hội có số Ủy ban không quá 8, để giảm bớt sức tải công việc lên Quốc hội. Điều này khác so với các Quốc hội theo thể chế tổng thống, số lượng Ủy ban của Quốc hội có thể rất lớn.
Ở thể chế bán - tổng thống, cách phân chia quyền lực giữa Tổng thống và Thủ tướng có thể rất khác nhau, không giống như cách phân chia quyền lực trong thể chế tổng thống. Điều này khác với hệ thống cộng hòa nghị viện ở chỗ Tổng thống (như ở Đức) được dân bầu là nguyên thủ quốc gia nhưng chỉ là nguyên thủ biểu tượng nghi thức. Điều này cũng khác với hệ thống tổng thống ở chỗ nội các trong thể chế bán - tổng thống được Tổng thống bổ nhiệm nhưng phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Quốc hội có thể buộc nội các từ chức thông qua 1 cuộc biểu quyết bất tín nhiệm.
“Chính phủ đồng sinh” trong thể chế bán - tổng thống
Khi Tổng thống và Thủ tướng thuộc các đảng phái chính trị khác nhau và đối lập nhau thì Chính phủ được gọi là “Chính phủ đồng sinh “ (cohabitation) , có nghĩa là cùng chung sống. Tình trạng đồng sinh có thể tạo ra 1 hệ thống hữu hiệu về kiểm soát và cân bằng quyền lực, nhưng cũng có thể tạo ra 1 thời kỳ căng thẳng, tùy thuộc thái độ của Tổng thống và Thủ tướng, vào tư tưởng các đảng của họ hoặc từ đòi hỏi của các cử tri. /.

https://www.danluan.org/tin-tuc/20170613/the-nao-la-the-che-tong-thong-the-che-dai-nghi-the-che-ban-tong-thong

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở Á châu (14)

Bill Hayton

Phan Văn Song dịch
Hoàng Việt hiệu đính
Chương 6
Kèn trống và Biểu tượng: Chủ nghĩa Dân tộc

(Drums and Symbols: Nationalism)
Đám đông tụ tập ở gần Nhà hát lớn Hà Nội không lớn nhưng phẫn nộ. Đáng chú ý là việc họ đã tụ tập được. Trong mấy ngày trước đó, Facebook đã ong ve với những tiếng giận dữ nhưng nhà chức trách VN cũng bận rộn. Đã hơn một tuần kể từ khi tàu TQ lại cắt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 lần thứ hai và một tháng kể từ khi Bắc Kinh công bố hộ chiếu mới có in chìm bản đồ yêu sách “đường chữ U” ở Biển Đông. Nhưng có rất nhiều trói buộc trong việc bày tỏ sự căm phẫn của công chúng ở VN. Dân phòng để mắt trên các ngỏ ngách phố, các tổng biên tập soi rọi các trang báo của mình và “các cơ quan giám sát” dõi mắt theo tất cả các tổ chức dân sự. Mọi người trò chuyện, mọi người càu nhàu, nhưng nói chung không ai xuống đường thách thức quyền cai trị của Đảng Cộng sản.
Mạng là một thế giới khác. Đặc biệt là Facebook cho phép bất bình nhân lên. Đảng cũng quan sát thế giới này, nhưng họ vạch ra một lằn ranh rõ ràng phân biệt giữa nói và làm. Ngày 9 tháng 12 năm 2012, lằn ranh này bị vượt qua. Các blogger và chatter đồng ý rằng cần phải làm một cái gì đó công khai. Gần như đúng 5 năm sau cuộc biểu tình công khai đầu tiên của VN về Biển Đông, họ quyết định xuống đường một lần nữa. Họ định tổ chức cuộc biểu tình tại các bậc thềm của nhà hát cũ xây dựng thời Pháp nhưng Đoàn TNCS cũng đã nhanh nhẩu thông báo tổ chức văn nghệ tại cùng địa điểm. Với một sân khấu được xây dựng ở quảng trường, họ buộc phải xúm lại quanh một góc dọc theo đại lộ thuộc địa cũ bây giờ được gọi là Phố Tràng Tiền. Trong thời tiết lạnh của tháng 12, họ đi diễu qua các cửa hàng nhỏ và quán cà phê, bờ hồ Hoàn Kiếm và các biệt thự cũ lớn trên đường Điện Biên Phủ – rồi đi thẳng tới Toà Đại Sứ TQ.
Thành một đoàn, không thuần nhất nhưng tổ chức tốt. Hai trăm người là con số tham dự cao cho bất kỳ loại biểu tình nào ở VN. Họ mang biểu ngữ lớn kẻ khẩu hiệu chuyên nghiệp bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh, nhiều người mặc áo thun in một bản đồ “đường chữ U” lớn, họ đều tốt tiếng. Một số là ủng hộ viên của Câu Lạc Bộ “No U” (No U FC), một nhóm những người hoạt động chống TQ, khó chịu về sự quấy rối của các cơ quan chức năng, đã thành lập một câu lạc bộ bóng đá để có thể gặp nhau một cách hợp pháp. Tên câu lạc bộ là một cách tấn công vào đường “chữ U” với FC là viết tắt cho cả “Football Club” (câu lạc bộ bóng đá) lẫn “Fuck China” (ĐM TQ). Trong khi một số khua trống, nghệ sĩ violin Tạ Trí Hải 74 tuổi, một ủng hộ viên đã chơi những bài hát phản kháng yêu nước cho các người đi cùng thưởng thức. Tuy nhiên, một số gương mặt nổi tiếng không tham gia được. Nhà hoạt động chống tham nhũng Lê Hiền Đức, chẳng hạn, đã bị các cán bộ Công An đến viếng từ sáng sớm và bị buộc phải ở nhà tiếp họ.
Công an có mặt nhiều hơn dọc khắp Phố Tràng Tiền để ngăn ngừa sự bùng phát của hoạt động chống đối xã hội. Nhiều công an mặc đồng phục màu xanh lá cây, nhưng nhiều công an khác mặc thường phục. Một xe công an cố vượt qua đám đông nhưng những người biểu tình kiên quyết. Họ hô vang khẩu hiệu chống TQ xâm lược, tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VN và yêu cầu chính phủ hành động đúng mức hơn để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Một nhóm nhỏ nhà báo nước ngoài cũng có mặt tại chỗ phóng to tiếng nói của họ ra thế giới nhưng trở nên rõ ràng rằng những người biểu tình sẽ không được cho phép để đi hết cuộc dạo Chủ Nhật đó.
Công an yêu cầu người biểu tình giải tán. Những người biểu tình yêu cầu công an giải tán nhưng công an mạnh hơn. Trong khi những công an đồng phục đứng yên bên ngoài, những kẻ mặc thường phục lại cưỡng ép khoảng 20 người biểu tình lên xe buýt do thành phố trưng dụng và chở họ đi tới trại giam Lộc Hà cách trung tâm thủ đô 15 km. Những người biểu tình còn lại nắm được thông điệp. Toà Đại Sứ TQ vẫn chẳng bị quấy rầy bởi các tiếng ồn yêu nước. Tin tức và hình ảnh của cuộc biểu tình này, và một cuộc biểu tình tương tự tại thành phố Hồ Chí Minh ở miền Nam, đã được chuyển tải trên toàn thế giới. Như một biên tập viên nói, đó là một “câu chuyện hay bằng hình ảnh”.
Sáng ngày hôm sau, Thứ Ba, tại cuộc họp hàng tuần của Bộ Thông Tin và Truyền Thông, Tổng biên tập của tờ VN đã bị trách mắng vì đăng tin về mối quan hệ của VN với TQ. Họ bị phê phán là đã tiêm cấy “tình cảm chống TQ” trong các bài báo về sự kiện Bình Minh – phớt lờ chỉ thị trước đó là “bám sát vào các sự kiện”. Đất nước bị khuấy động là hoàn toàn do lỗi của họ. Vấn đề đối với nhà chức trách VN là bất kể có bao nhiêu báo mà họ bịt miệng hoặc bất đồng chính kiến mà họ bắt giữ, tình cảm chống TQ dường như vẫn ngày càng tăng. Không thể đo lường công khai hay chính xác những điều như vậy ở VN nhưng Biển Đông đã mang các đám đông nhỏ xuống đường ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ít nhất một chục lần tính từ năm 2007. Nếu có một ít người chẳng e ngại việc bị bắt giữ và trừng phạt thì nhất định sẽ có nhiều người cũng chia sẻ tình cảm đó nhưng chưa đủ can đảm để tham gia biểu tình có tổ chức. Số phận của Biển Đông và những cáo buộc về âm mưu của TQ phá hoại đất nước này thường kích động sự bột phát lòng căm thù dân tộc chủ nghĩa.
Hơn 30 năm trước đây, nhà sử học về Đông Nam Á, Benedict Anderson, đưa ra cách giải thích cho sự xuất hiện của chủ nghĩa dân tộc ở thế kỷ XIX và XX. Ông nói về việc tạo ra các cộng đồng tưởng tượng trong đó các công dân với ý thức quốc gia mới bắt đầu cảm thấy một mối quan hệ với đồng bào mà họ chưa bao giờ gặp, một mối quan hệ mạnh mẽ đến nỗi họ sẵn sàng bắn giết và liều thân để bảo vệ nó. Ông gán sự trỗi dậy của các cộng đồng tưởng tượng này cho sự phát triển kinh tế và cho các khả năng của việc tự xác định cá nhân mà sự phát triển đó tạo ra, cho việc phát minh ra phương tiện truyền thông quốc gia và cho sự kiên cố hoá cảm giác về khác biệt đối với những người nói tiếng nói khác và theo tục lệ khác.
Trong những năm đầu thế kỷ XXI xung quanh bờ Biển Đông làn sóng mới chủ nghĩa dân tộc đang tạo ra các cộng đồng tưởng tượng mới. Phát triển kinh tế, công nghệ truyền thông mới, các ham muốn mới trong thể hiện bản thân – giống như những động lực đằng sau chủ nghĩa dân tộc chống thực dân của thế kỷ trước – đang thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc hồi sinh. Tuy nhiên, lần này những kẻ khác mà các cộng đồng này đối chiếu để xác định mình không phải là những tên đế quốc từ xa đến mà các láng giềng trong khu vực từng có quan hệ từ thời xa xưa. Cư dân mạng tuyên bố họ sẵn sàng chết vì vinh quang của đất nước và vì vận mệnh của một số mỏm đá gần như không có người ở. Trên toàn khu vực hàng triệu người đã đi đến việc tin rằng bản sắc của họ với tư cách một con người chỉ có thể trọn vẹn nếu cộng đồng tưởng tượng mà họ cảm thấy thuộc về có vẻ mạnh hơn cộng đồng của các đối thủ. Chủ nghĩa dân tộc chắc chắn mạnh mẽ – nhưng nó đang thực sự lôi kéo các tranh chấp đến mức nào? Việc xem xét các biểu hiện của xúc cảm dân túy sẽ cho thấy bức tranh phức tạp hơn.
Chủ nghĩa dân tộc VN hiện đại ít nhiều tự xác định mình là đối kháng với TQ. Hầu hết đường phố chính của các thành phố lớn nhỏ VN đều được đặt theo tên những nhân vật (có thật hay huyền thoại) từng chiến đấu chống lại những kẻ xuất phát từ nơi mà bây giờ được gọi là TQ: Hai Bà Trưng, lãnh đạo cuộc nổi dậy năm 40; Ngô Quyền, được người VN coi là vị vua đầu tiên tách đất nước ra khỏi TQ vào năm 938; Lý Thường Kiệt, đánh Tống năm 1076; Trần Hưng Đạo, đánh bại quân Mông Cổ vào năm 1284; Lê Lợi (còn gọi là Lê Thái Tổ), thắng quân Minh năm 1428; và Nguyễn Huệ (còn gọi là Quang Trung), đánh thắng quân Thanh năm 1789. Hầu hết trong số này là huyền thoại lỗi thời. Hai nước với biên giới hiện tại đi đến đánh nhau lần đầu tiên là vào năm 1979. Những cuộc xung đột xưa kia là giữa các thủ lĩnh địa phương, phiến quân, lãnh chúa, người bảo trợ và những kẻ hãnh tiến. Ngôn ngữ mà họ nói lúc đó không giống như ngôn ngữ tương ứng hiện đại mà cũng không nhất thiết khác với ngôn ngữ của kẻ thù của họ. Tuy nhiên, tất cả những trận đánh lớn này hiện nay đang được VN coi như là bằng chứng về lịch sử vẻ vang lâu dài kháng chiến thành công chống các ý đồ đế quốc của “Trung Quốc” – “vương quốc trung tâm” phía Bắc.
Từ kiến trúc đến việc nấu nướng, mối liên hệ văn hóa giữa hai nước là rõ ràng; nhưng ở cơ sở, nỗi nghi ngờ về những người được cho là “Tàu” (một từ có ý coi thường có thể dịch sang tiếng Anh là “Chink”) vẫn còn mạnh mẽ. Định kiến xuất phát từ nỗi sợ hãi. Người Việt xem mình là sáng tạo và có văn hóa hơn người Hoa, nhưng không thể cạnh tranh với mạng lưới kinh doanh bất khả thâm nhập của họ. Cộng đồng dường như khép kín này được cho là có các vòi vươn khắp Đông Nam Á dường như có sứ mệnh tóm lấy nước này và cả khu vực.
Một cái nhìn ít định kiến về lịch sử VN có thể nhận ra tầm quan trọng các mối liên hệ với “TQ” từ thời những người Nusantao đầu tiên, thông qua sự xuất hiện của các thương nhân biển từ Phúc Kiến cho đến các khoản đầu tư đầu tiên của nhóm thiểu số người Hoa từ khắp khu vực Đông Nam Á trong thập niên 1980 khi VN bắt đầu dỡ bỏ chủ nghĩa Stalin. Chế độ cộng sản VN tồn tại được nhờ vào việc TQ cho chỗ né tránh và viện trợ hầu như suốt thế kỷ XX. Ý thức hệ, tên lửa và gạo từ các nguồn cung cấp TQ ở Bắc Kinh đổ về phía Nam làm nền móng cho việc Hà Nội chiến thắng Sài Gòn vào năm 1975.
Món nợ chính trị đó đối với Bắc Kinh là một phần hiệu triệu quan trọng trong thông điệp “chống TQ” đối với nhiều người VN: nó hàm ý “chống đảng”. Biểu hiện công khai chống lại Đảng Cộng sản ở trung tâm Hà Nội dễ dẫn tới một án tù dài. Tuy nhiên, qua việc chỉ trích các hành động của TQ, những người biểu tình sẽ mang vẻ yêu nước trong khi gián tiếp chất vấn về tính hợp pháp của Đảng Cộng sản vốn lên nắm quyền nhờ hậu thuẫn của TQ và vẫn còn cùng chung ý thức hệ và có các liên hệ thực tế mạnh mẽ với ông anh lớn ở Bắc Kinh. Nhưng ngay cả những đảng viên trung thành khác cũng rất nhức nhối về ảnh hưởng của TQ. Đối với một số người, đó là vấn đề về yêu nước, nhưng chơi “con bài TQ” cũng có thể là một cách để hạ đối thủ. Qua việc chỉ trích TQ, họ cũng chỉ trích một bộ phận của Đảng vốn vẫn còn các liên hệ ý thức hệ mạnh mẽ với Bắc Kinh, vẫn còn ủng hộ việc kiểm soát xã hội chặt chẽ hơn, ủng hộ sự thống trị tiếp tục của kinh tế quốc doanh và có thái độ thù địch với phương Tây.
Năm 1968, lãnh đạo Đảng Cộng Sản VN có một trận đấu đá nội bộ dữ dội mà bây giờ được tô vẽ lại như một tranh luận về việc nước này nên theo TQ hay theo Liên Xô. Hàng chục nhân vật cao cấp bị thanh trừng hoặc bị bỏ tù. Nhưng đấu đá về chính trị là vỏ bọc cho các tranh luận khác: về chiến lược chiến tranh, tốc độ đi lên CNXH và một loạt các vấn đề trong nước. Kể từ đó, “TQ” là một vấn đề có mặt trong tất cả các cuộc tranh luận lớn về tương lai của VN – một mật hiệu mà các trận đấu đá khác đều đấu theo đó. Ngay cả trước khi Hà Nội đậu xe tăng trên bãi cỏ trong dinh tổng thống ở Sài Gòn, lãnh đạo Đảng Cộng Sản ở Bắc Kinh và Hà Nội đã bắt đầu có sứt mẻ. Trong mắt người TQ, VN là bọn trẻ hư vô ơn không có lòng trung phải có với bậc cha mẹ rộng lượng của mình. Đối với các lãnh đạo VN, họ vừa giải phóng đất nước khỏi xâm lược nước ngoài thì thái độ của TQ mang vẻ cao ngạo của vương triều. Họ không muốn trở thành một nước chư hầu. Quan hệ xấu đến nỗi tháng 2 năm 1979, TQ (với sự hậu thuẫn chính trị và tình báo của Mỹ) quyết định “dạy cho VN một bài học” và tiến hành xâm lược. Quân đội của họ bị đánh trả tả tơi nhưng nhiều thị trấn biên giới Việt Nam cũng bị tang hoang. Mãi cho đến năm 1991, hai phía lãnh đạo vẫn chưa làm hòa với nhau.
Những đấu đá nằm trong đấu đá này vẫn còn đang diễn ra hiện nay – một cái gì đó trở nên hiển nhiên đến tàn nhẫn là chỉ một vài ngày sau cuộc diễu hành trên Phố Tràng Tiền thì một băng ghi âm lan man dài một giờ về một bài nói chuyện bí mật đã tìm đường lên YouTube. Ngôi sao thiếu may mắn trong băng ghi âm này là Đại Tá Trần Đăng Thanh, một giảng viên về vấn đề Biển Đông tại Học Viện Chính Trị Bộ Quốc Phòng VN. Bài phát biểu này được đưa ra trong cuộc họp các đảng viên cộng sản đang lãnh đạo các trường đại học tại Hà Nội (ở VN khó giữ một vị trí cao nếu không là đảng viên). Đại Tá Thanh đưa ra một thông điệp thẳng thừng: có quá nhiều cuộc biểu tình và phải dừng các cuộc biểu tình này lại. “Đảng trông đợi các đồng chí quản lý sinh viên của mình. Nếu chúng tôi thấy học sinh trường các đồng chí tham gia vào các cuộc biểu tình, các đồng chí có thể chắc chắn đó sẽ là một vết đen trong hồ sơ của mình”, ông khuyên nhủ các trưởng khoa, các giáo sư.
Bản rã băng ghi âm cung cấp một cái nhìn độc đáo đi sâu vào những suy nghĩ thầm kín của những bộ phận này trong cơ quan an ninh VN vốn thường giữ kín đối với truyền thông. Ông bắt đầu với một cảnh báo: nếu chế độ cộng sản đi xuống, ông nói với các giáo sư, mức sống của đồng chí sẽ xuống theo. “bảo vệ tổ quốc Việt Nam và ý thức hệ XHCN có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu”. Sau khi gợi đến lợi ích cá nhân cơ bản ông vạch ra một điều thẳng thừng là không được làm mếch lòng TQ – ông lưu ý rằng “họ” có 1,3 tỷ người, còn “chúng ta” chỉ có 90 triệu. Dù không bao giờ quên việc họ xâm chiếm chúng ta hết lần này đến lần khác, ông tiếp tục, “chúng ta không được tỏ ra vô ơn” đối với sự hi sinh to lớn của TQ cho VN trong thời gian trước đây. Ông đổ lỗi các hành động gần đây của TQ là do thừa kế “ước muốn cháy bỏng” của Đặng Tiểu Bình muốn làm chủ Biển Đông, do nhu cầu bảo vệ biển của TQ cũng như do sự quyến rũ của dầu khí. Nhiệm vụ của VN bây giờ, ông nói, không những là bảo vệ độc lập cho đất nước mà còn duy trì hòa bình và ổn định. Cách duy nhất để làm điều đó, ông lập luận, là tránh đối đầu và giữ gìn tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước VN và TQ.
Đối với một lãnh đạo phải ngai ngái về việc tạo ra cả triệu việc làm mới mỗi năm để đáp ứng nguyện vọng ngày càng cao của dân số đang tăng, các tranh chấp chủ quyền là điều gây phân tâm đến điên người. Đảng cố hết sức tránh kích động sự đối kháng với Bắc Kinh. Một vài tuần sau bài giảng của Đại Tá Thanh, ngày 6 tháng 1 năm 2013, một người được phong anh hùng đã được cải táng về quê ở Tỉnh Thanh Hoá, phía Nam Hà Nội. Báo chí nhà nước đăng tải chi tiết việc này nhưng lạ lùng là không một bài nào nói ra được người anh hùng này chết cách nào, còn những kẻ giết anh chỉ được mô tả đơn giản là “bọn côn đồ” – không nêu quốc tịch. Lê Đình Chinh thật ra đã bị lính biên phòng TQ giết chết vào ngày 25 tháng 8 năm 1978 khi những căng thẳng sau chiến tranh giữa hai nước bắt đầu leo thang. VN đang trong quá trình trục xuất hàng chục ngàn Hoa Kiều, dẫn đến cuộc đối đầu ở một cửa khầu biên giới có cái tên kém phù hợp là “Cửa Khẩu Hữu Nghị”. Các trận đánh nổ ra giữa lực lượng dân quân vũ trang với gậy và dao. Bốn người TQ và hai người VN thiệt mạng, trong đó có Lê Đình Chinh 18 tuổi.
Hơn một thập kỷ sau, mối quan hệ giữa hai nước chuyển từ xấu thành tệ hại hơn, Lê Đình Chinh đã được nâng thành anh hùng. Bốn tháng sau cuộc đụng độ, nhà xuất bản nhà nước đã phát hành một cuốn sách ca tụng cuộc sống hào hùng và cái chết yêu nước của anh. Tên anh được đặt cho trường học, đường phố và trẻ em được khuyến khích thi đua noi theo gương anh. Nhưng khi mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh được cải thiện sau năm 1990, câu chuyện về Lê Đình Chinh đã trở nên kém hữu ích trong việc động viên dân chúng và dần dần làm chính quyền Hà Nội thêm khó xử. Quốc tịch của những kẻ giết anh đã bị xóa khỏi bộ nhớ chính thức.
Việc người chết được cải táng là chuyện bình thường ở VN. Một vài năm sau khi chôn cất, xương được đào lên, làm sạch và cải táng với những nghi lễ phù hợp. Tuy nhiên, việc cải táng diễn ra sau 35 năm là hiếm có. Với báo chí rõ ràng được chỉ đạo không được dùng từ “Trung Quốc” trong các bài nói về của cái chết của anh, những tin đồn và những lý thuyết âm mưu bắt đầu lan truyền trên mạng về lý do vì sao Lê Đình Chinh được cải táng. Chúng được khuếch đại qua một câu chuyện đã bắt đầu lan truyền 18 tháng trước đó về việc đục phá một bia tưởng niệm chiến tranh gần Khánh Khê ở tỉnh biên giới Lạng Sơn. Bia tưởng niệm là một khối đá lớn, có khắc tên những người lính của Sư đoàn 337 đã “kiên cường ngăn chặn cuộc xâm lăng của TQ” năm 1979.
Tháng 8 năm 2011, các blogger chuyển cho nhau một bức ảnh bia tưởng niệm trong đó các từ “Trung Quốc xâm lược” dường như đã bị đục mất. Tuy nhiên bức ảnh đó bị cắt xén rất nhiều. Ảnh đầy đủ cho thấy bia đá đó nằm giữa một dự án công trình dân dụng – một con đường mới và cầu đang được xây xung quanh nó. Có khả năng bia tưởng niệm bị hư hỏng trong quá trình xây dựng. Nhưng vì nhà chức trách không đưa ra ý kiến chính thức, nên trên mạng khẳng định rất tự tin rằng chính phủ VN hèn yếu, do hàm ơn Bắc Kinh, đã ra lệnh làm việc phá hoại đó.
Việc cải táng Lê Đình Chinh, ở nơi cách chỗ táng ban đầu gần biên giới mấy trăm cây số về phía Nam, khiến một blogger nổi tiếng có bút danh “Anh Ba Sàm” trước kia là công an Nguyễn Hữu Vinh, cáo buộc rằng Nhà nước đã dời đi dần tất cả các biểu tượng có vẻ là phản kháng yêu nước ra cách xa khu vực biên giới. Thật ra, điều này có thể đúng mà cũng có thể không. Vấn đề đối với nhà chức trách VN là khi nói đến quan hệ với TQ, rất ít người tin họ nữa. Chỉ thị của họ cho báo chí và các giáo sư ngăn chặn cuộc thảo luận về vấn đề này chỉ làm tăng sự lây lan của thuyết âm mưu. Mọi thứ họ nói và làm bất kể với ý định gì đều bị quy là do động cơ bất chính.
Dù khôn khéo và thông minh về nhiều mặt, Đảng có vẻ không đáp ứng được với những thách thức này ngoại trừ theo kiểu cách đã quen dùng. Họ đã thông qua luật mới để kiểm soát việc viết blog (dù cũng không hiệu quả như luật cũ) và truy bức các nhà hoạt động có chung mục đích với các tổ chức chống cộng ở nước ngoài. Đã có hàng chục vụ “xử công khai” trong vài năm qua. Các cơ quan an ninh có vẻ vui mừng vượt qua những lời chỉ trích không thể tránh khỏi của quốc tế – qua việc dùng các vụ xử về xúi giục kẻ khác. Một số người cho rằng các lực lượng thân TQ trong Đảng thực tế khá hài lòng với những lời chỉ trích này vì nó ngăn không cho chính phủ các nước phương Tây trở nên quá gần gũi với VN và cũng giúp họ tiếp tục nắm quyền cai trị đất nước.
Như thế giới đã thấy rõ vào tháng 5 năm 2014, khi các cuộc biểu tình chống lại việc TQ đưa giàn khoan dầu gần Quần đảo Hoàng Sa trở thành bạo loạn, chắc chắn có những tình cảm dân tộc, chống TQ ở VN gây ra các khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, những điều này không buộc Đảng phải theo hướng đối đầu với TQ mà buộc họ vào cuộc đối đầu với một bộ phận nhân dân. Đảng sợ các cuộc biểu tình do có thông điệp chống Đảng tiềm ẩn trong đó và khả năng chúng có thể leo thang thành một cái gì đó có thể đe dọa sự cai trị của họ. Ưu tiên của họ là sự ổn định của các vấn đề trong nước lẫn quốc tế chứ không phải là tự do bày tỏ. Nhưng những người ủng hộ tự do bày tỏ và tự do cá nhân trong nước cũng là những người ủng hộ lớn tiếng nhất việc đối đầu với nước ngoài. Một bên ủng hộ hòa bình, bên kia ủng hộ tự do. Không bên nào ủng hộ cả hai.
**********
Ở một thành phố khác, nhưng lần này hai đám đông ồn ào với hai chương trình hành động đối nghịch. Sáng sớm Thứ Hai 16 tháng 4 năm 2012, một cuộc biểu tình chớp nhoáng trên con đường đi dạo cạnh bờ biển ở Manila, Roxas Boulevard, đặt theo tên của tổng thống đầu tiên của nước Philippines độc lập. Khoảng 70 ủng hộ viên thuộc Liên Đoàn Sinh Viên Philippines đổ xô tới bức tường Toà Đại Sứ Hoa Kì. Toà nhà phức hợp này được xây dựng chắc chắn trên đất bồi đắp từ Vịnh Manila, vùng nước mà vào năm 1898 Hoa Kỳ đánh bại Hải Quân Tây Ban Nha để trở thành cường quốc thế giới. Các nhà hoạt động này thấy viên cảnh sát phụ trách trông coi bên ngoài nằm ngủ trong xe tuần tra, và thích thú với vận may của mình, họ bắt tay tiến hành công việc trên những biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc. Họ ném bom sơn xanh đỏ vào tường, xịt sơn vẽ khẩu hiệu trên đó và thực hiện nghi thức truyền thống đốt cờ Mỹ. Một vài chiến binh nhảy qua rào và làm việc với bảng tên bằng đồng của Toà Đại Sứ. Lúc cảnh sát chống bạo động tới nơi, tòa nhà đã bị đổi tên thành “.m.as.. of the .ni.ed S.ates of .merica” [thay vì Embassy of the United States – ND]. Những người biểu tình lẫn vào các đường phố bên không có các lực lượng thực thi pháp luật và trật tự cản trở – có lẽ là để tranh cãi về điểm Scrabble [trò chơi xếp chữ] tối đa mà họ có thể đạt được với tám con chữ họ vừa lấy cắp. Mãi đến khi mọi việc xong xuôi, viên cảnh sát đang ngủ mới thức dậy và lái xe đi, dường như chẳng biết chút gì về việc xảy ra. Anh ta và cấp trên trực tiếp sau này đều bị buộc tội không làm đúng chức trách.
Sau đó 6 giờ và cách đó 7 cây số, trong cảnh trí sáng sủa, sang trọng của khu thương mại Makati, một đám đông ồn ào không kém nhưng hành xử đàng hoàng hơn tụ tập bên ngoài toà lãnh sự TQ. Ở đây, viên cảnh sát tỉnh táo và được cảnh báo trước và cuộc biểu tình được bố trí một cách an toàn cách xa các bức tường, các bảng hiệu và cửa sổ kiếng. Có tổ chức hơn một chút ở đây – hoặc ít nhất là có nhiều tiền hơn. Thay vì biểu ngữ tự chế và xà beng, vài chục người biểu tình cầm những tấm biển được vẽ đàng hoàng dưới dạng dấu hiệu DỪNG (STOP)- đòi “TQ – xéo đi” và ngưng “trộm cá ở biển Phillippines”. Sự tương phản tiếp tục. Thay vì các nhà cách mạng với cặp mắt lườm lườm, những người chụp ảnh chọn các cô gái với khuôn mặt dễ mến đưa lên các trang báo ngày hôm sau, cho các biên tập viên của họ lựa chọn các hình ảnh tương phản về cuộc biểu tình và hai thế giới quan khác nhau về cơ bản.
Buổi sáng hôm đó tại Manila hai chủ nghĩa dân tộc của Philippines tự khẳng định mình. Số người tham dự hết sức nhỏ nhoi: chỉ đầy một vài xe buýt trong một đô thị có 12 triệu dân. Nhưng đối với những người khua trống và vẫy biểu ngữ, các hành động này là sự khẳng định quan trọng về tình tự dân tộc khi đối mặt với những biểu lộ đe dọa rõ ràng của quyền lực nhà nước. Các sinh viên tại Toà Đại Sứ đã vạch lịch tấn công trùng với thời gian bắt đầu của cuộc tập trận hằng năm Mỹ – Philippines có tên là Balikatan – tiếngTagalog là “vai sánh vai”. Trong một màn phô diễn dễ thấy về sự đoàn kết, hơn 6 000 lính thuỷ đánh bộ, bộ binh, phi công và lính thủy hai nước thực hành nghệ thuật chiến tranh và can thiệp nhân đạo trên các bãi biển và các căn cứ quân sự trên khắp đất nước. Trái lại, các cô gái dễ mến với những dấu hiệu STOP đã tức giận về việc nhà chức trách TQ cố sáp nhập bãi cạn Scarborough, ngoài khơi cách bờ biển Luzon 230 km. Việc Philippines bắt giữ 8 tàu TQ bị nghi đánh cá bất hợp pháp, 8 ngày trước đó, đã trở thành một thất bại thảm hại. Tàu hải giám TQ đã ló mặt, ngăn không cho Hải Quân và Tuần Duyên Philippines thực hiện bất cứ hành động nào đối với những ngư dân đã thu lượm được hàng trăm con trai khổng lồ và một lượng lớn san hô, bất chấp các quy định bảo tồn. Sự bất lực của chính quyền Manila khi đối mặt với sức mạnh của Bắc Kinh đã bị phô ra một cách tàn tệ.
Nhưng đối với những kẻ quậy phá Tòa Đại Sứ Mỹ, sự bất lực đó của Manila là kết quả của một thế kỷ bị Mỹ thống trị. Trong mắt nhóm Bayan – liên minh phe tả cực đoan trong đó có Liên Đoàn Sinh Viên Philippines – thì sự thống trị của Mỹ đặt ra một mối đe dọa đối với tương lai của đất nước lớn hơn nhiều so với các tàu TQ ở ngoài khơi. Từ bayan có nghĩa là “dân tộc/quốc gia” trong tiếng Tagalog và, khi được yêu cầu mô tả phong trào này tranh đấu cho điều gì, Tổng Thư Ký của nó là Renato Reyes nêu rõ: tả (left), dân tộc, chống đế quốc. Tôi gặp Reyes tại một gian của Americana, Quán Pizza Yellow Cab trên bờ biển Manila. Ông chọn vị trí thuận tiện: gần địa điểm của một cuộc biểu tình khác nữa bên ngoài Toà Đại Sứ và không xa bệnh viện nơi ông sắp đi tới để ủng hộ các nhân viên y tế đình công.
Qua trò chuyện, đối với Reyes cách mà chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc hòa quyện vào nhau như thế nào đã trở nên rõ ràng. Có một cảm giác lòng tự hào bị xúc phạm, cảm nhận rằng đất nước không thể đứng cao lên được chừng nào mà nó còn sống dưới bóng của Hoa Kì, và rằng tình trạng hạng hai này được – hoặc phải được – cảm nhận như một sự nỗi nhục cá nhân cho mỗi một người dân Philippines. “Một thượng nghị sĩ từ lâu đặc tả đó là một “chính sách ngoại giao ăn xin”. Anh phải luôn ăn mày đồ phế thải, luôn luôn van xin sự giúp đỡ từ ông anh lớn Hoa Kì, và trong nửa thế kỷ qua, chúng tôi chưa thực sự phát triển hay hiện đại hóa vì lý do đó”. Khi ông nhét thêm vào một lát bánh Ý-Mỹ-Philippines, Reyes phát triển quan điểm của mình: sự phụ thuộc này là sự tiếp nối của chiến lược thuộc địa để giữ Philippines như là một thị trường bị giam hãm cho hàng hóa của Mỹ trong đó tầng lớp cao Philippines gặt hái những phần thưởng của việc duy trì nguyên trạng (status quo) kinh tế và chính trị như đang có. “Chúng tôi phản đối việc TQ xâm lấn nhưng chúng tôi cảm thấy rằng trong ngắn hạn và dài hạn mối đe dọa lớn hơn vẫn là Hoa Kì. Nếu bạn xếp hạng những kẻ bắt nạt trong khu vực này thì kẻ bắt nạt lớn hơn sẽ là Hoa Kì.”
Đối lại, người tổ chức cuộc biểu tình chống TQ là một người có tinh thần dân tộc bất đắc dĩ. Trong nhiều thập kỷ Walden Bello được biết đến như là một đối thủ lớn tiếng chống chủ nghĩa tân đế quốc phương Tây. Nhưng bây giờ đảng Akbayan của ông thường xuống đường lên án nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và lãnh đạo cộng sản nước này. (Akbayan dùng lối chơi chữ dựa trên từ bayan, nhưng akbay có nghĩa đen là choàng tay qua vai ai đó, thể hiện tình cảm hay đoàn kết). “Tôi không chắc liệu có thể gọi đảng của chúng tôi có lập trường dân tộc hay không”, ông cân nhắc, “vì thực tế rằng lập trường dân tộc thường gắn liền với chủ nghĩa dân tộc phi lí”. Bello phủ nhận rằng ông đã thay đổi phía. “Không, tôi nghĩ rằng đó chỉ là một tình huống hơi phức tạp một chút. Tôi nghĩ rằng điều gây mất ổn định lớn nhất trong khu vực vào thời điểm này thực sự là việc Mỹ chuyển trục sang châu Á. Nhưng đồng thời Mỹ cũng đang lợi dụng các động thái hung hăng của TQ ở Biển Tây Philippines để làm cho họ có vẻ như một đối trọng”.
Hai nhà lãnh đạo này là hai đối thủ chính trị cay cú nhau. Đảng của Reyes mô tả Bello như là “nhân viên đặc biệt của chế độ Aquino” và Bello mô tả Reyes như bị dính cứng trong nền chính trị của thập niên 1960. Dù vậy cả hai lại có cùng quan điểm về vai trò của Hoa Kỳ trong chính trị thế giới. Như Reyes giải thích, “chúng tôi không thực sự xem TQ vào thời điểm này là có ý đồ đế quốc như Hoa Kì. Tất nhiên TQ có thể tiến tới đó, có thể họ muốn mở rộng sức mạnh kinh tế và quân sự và ảnh hưởng của mình nhưng TQ chưa đạt tới mức độ của Hoa Kì, mức độ theo đó Mỹ sẵn sàng tiến hành chiến tranh, thuộc địa hoá và chiếm các nước khác cốt chỉ để họ có thể thúc đẩy lợi ích kinh tế của họ tiến lên”. Nhưng trong khi ủng hộ lập trường chống TQ, Bello cũng cố tách Hoa Kỳ khỏi các vấn đề của Philippines: “nếu bạn đem một siêu cường vào để chống lại một siêu cường khác thì động lực siêu cường bắt đầu đẩy vấn đề này và xua giải pháp hòa bình ra ngoài lề. Tôi nghĩ rằng cân bằng quyền lực chính trị thực sự nguy hiểm vì nó thường kết thúc với việc người ta cạn kiện biện pháp kiểm soát, với những cuộc chạy đua vũ giống như thế chiến thứ nhất ở châu Âu”. Điều có vẻ rõ ràng rằng lập trường “chống Mỹ” và “chống TQ” ở Philippines không phải là hai thái độ tương phản đối với các nước lớn nhưng là một cái gì khác, bắt nguồn từ lịch sử tạp chủng của đất nước này.
Vào cuối thế kỷ XIX, hai chủ nghĩa dân tộc khác nhau đã thách thức quyền cai trị của Tây Ban Nha ở Philippines: một từ các tầng lớp bên trên và một từ tầng lớp trung lưu. Trong nhiều thế kỷ các nhà cai trị Tây Ban Nha đã phân biệt đối xử với di dân TQ và con cháu của họ. Chi tiết khá dài dòng và không vẻ vang nhưng đại khái thì những người nhập cư có được một sự lựa chọn. Những người cải đạo sang Công giáo được phép chuyển thành thường trú, kết hôn và đi lại khắp Philippines – nhưng không được quay về TQ. Những người không cải đạo có thể đi qua lại TQ nhưng nơi duy nhất họ có thể sống ở Philippines là khu ổ chuột Parian ở Manila. Họ bị cấm không được kết hôn hoặc định cư vĩnh viễn tại Philippines. Cho đến cuối thập niên 1880 người Tây Ban Nha chính thức phân loại con cái của những người cải đạo và kết hôn làmestizo- “lai”. Người mestizo đặt tên theo tiếng Tây Ban Nha, nói tiếng Tây Ban Nha (không giống như 95 % dân cư) và theo cách sống Tây Ban Nha, nhưng dù trở nên giàu có hay có học thức đến mấy họ cũng không bao giờ có thể tiến lên tầng lớp bên trên của xã hội. Từ hàng ngũ của họ mọc ra người “Ilustrado”- “người được giải thoát”. José Rizal, tác giả của cuốn tiểu thuyết mang tính dân tộc Noli Me Tángere, là ví dụ quan trọng nhất. Họ bắt đầu tự gọi mình là Filippino (người Philippines) – một từ trước đây dành cho những người Tây Ban Nha “toàn huyết” – và đòi bình đẳng.
Một phong trào khác nổi lên từ tầng lớp trung lưu thành thị, một phần để đáp ứng với phản ứng tàn bạo của Tây Ban Nha đối với người Ilustrado – chẳng hạn như họ xử tử Rizal vào năm 1896. “Ban lãnh đạo hội cao cả nhất và đáng kính nhất của con cái nhân dân”, được biết với tên Katipunan, bắt nguồn từ hàng ngũ các nhân viên văn phòng, các chủ tiệm và chủ yếu là người indio – bản địa – chứ không phải là người mestino. Trong khi người Ilustrado muốn được chấp nhận là bình đẳng với người Tây Ban Nha, Katipunan quyết liệt từ chối quyền cai trị củaTây Ban Nha và bắt tay xây dựng có ý thức một bản sắc dân tộc khác. Nhưng dự án quốc gia này cũng dựa trên chủ nghĩa sô vanh. Chủ yếu có gốc gác ở Manila, Katipunan đề cao văn hóa Luzon, đặc biệt là tiếng Tagalog, lên địa vị văn hóa dân tộc và tìm cách áp đặt nó lên phần còn lại của đất nước. Ở nhiều nơi, nó đã – và vẫn đang – bị phản kháng như sự xâm nhập ngoại lai vào cuộc sống địa phương.
Khi Katipunan nổi dậy chống người Tây Ban Nha vào năm 1896 nhiều người Ilustrado đã cùng với họ chiến đấu chống lại kẻ thù chung. Họ đã tìm kiếm trợ giúp từ nước khác vốn cũng đã thoát khỏi xiềng xích của chế độ thực dân. Nhưng sau khi Hoa Kỳ thắng trận chiến Vịnh Manila, chỉ huy của Mỹ tiếp tục bóp nghẹt nước Cộng Hoà Philippines còn non trẻ với một chiến dịch chống nổi dậy tàn khốc. Nhiều người Ilustrado, báo động bởi sự nổi lên của người Katipunan và các nhóm quân phiệt khác, từ bỏ lợi ích “quốc gia” vì lợi ích của riêng mình: họ bước vào một mối quan hệ cộng sinh với bọn thực dân mới của đất nước. Có học thức cao, người Ilustrado (chủ yếu là con cháu người mestizo, dù không hoàn toàn) đã được ở vị trí tốt trong việc trợ giúp người Mỹ và cũng ở vị trí tốt để nhận được những phần thưởng khi “các bất động sản rộng lớn của các nhà dòng” Công giáo bị tịch thu và phân phối lại. Luật bầu cử được soạn có lợi cho những người có tài sản và có học. Trong nửa thế kỉ, quan chức Mỹ cai trị quần đảo này, đè bẹp đối lập và nâng cao quyền lực của tầng lớp bên trên. Một phần nhỏ dân Philippines – không nhiều hơn 5 % – tiếp tục khống chế toàn xã hội. Hiện nay vẫn còn như vậy. Ví dụ,  tổng thống Roxas, Laurel, Quirino, Magsaysay, Marcos, Cory Aquino và Benigno Aquino đều là con cháu người mestizo, cũng như nhiều gia đình giàu có của đất nước như Ayalas, các Aboitiz và Razons đều như vậy.
Nhưng việc nắm quyền của họ lại bị phản đối mãnh liệt bởi nhiều nhóm người tự xưng là hậu duệ chính trị của người Katipunan. Họ có mặt khắp các xu hướng chính trị: từ những nhà cách mạng cộng sản cho đến sĩ quan quân đội vỡ mộng. Điều mà họ có chung là việc tin rằng các thành viên của tầng lớp bên trên đã bán nước cho Mỹ để đổi lấy lợi ích cá nhân thì không có quyền tự gọi mình là nhà lãnh đạo của đất nước. Ở các vùng quê từ lâu đã có truyền thống vũ trang chống lại địa chủ và tình trạng mà họ kiểm soát, kể từ cuộc chiến tranh giành độc lập và thông qua các phong trào du kích Hukbalahap trong hai thập niên 1940 và 1950. Việc mở rộng nhanh chóng giáo dục ở Philippines trong thập niên 1960 đã góp phần lan truyền sự tức giận này đến các khu vực đô thị. Khi dân chúng đổ về các thành phố, con cái của họ lớn lên bị chính trị hoá bởi những bất công mà họ đã nhìn thấy xung quanh: bất bình đẳng xã hội quá độ, tham nhũng tràn lan và tàn bạo chính trị tệ hại.
Theo dấu của các nhà tư tưởng cánh tả, như nhà sử học Teodoro Agoncillo, thế hệ cấp tiến này lập luận rằng chỉ có những người Philippines thực sự mới là quần chúng – những người ở dưới đáy xã hội. Những kẻ là thành viên trên cùng của tầng lớp bên trên kiếm được địa vị qua liên minh với thực dân Mỹ – không thật sự “thuộc dân tộc”. Họ lập luận rằng ở một đất nước vốn chỉ được độc lập vào năm 1946, gồm một nhóm đảo nhiều vẻ bị ràng buộc vào một nhà nước đơn nhất nhưng ràng buộc rất ít theo cách của một nền văn hóa “dân tộc” thì khó mà đoàn kết người dân Philippines lại với nhau. Phe tả cực đoan, tiền thân của cả Bayan lẫn Akbayan với hiệu triệu của họ với công chúng dựa trên lập luận rằng người dân nói chung đã đau khổ vì sự lạm dụng phạm phải bởi một tầng lớp người trong chừng mức nào đó là ngoại lại, được hậu thuẫn của nước ngoài. Từ cốt lõi, đó là một thông điệp dân tộc. Họ đã cố gắng để tạo ra một bản sắc dân tộc cho người dân – “Filipino”- từ một bản sắc kinh tế – sự nghèo nàn. Đối với họ, là người Philippines thì phải chống Mỹ. Đó là một lập luận phổ biến lan sâu vào các khu ổ chuột đô thị và các đồn điền nông thôn. Nhưng trong khi các tiền bối chính trị của Akbayan tìm cách giành quyền kiểm soát nhà nước thông qua chính trị, tiền bối của Bayan quyết định có thể sẽ không có thỏa hiệp với một nhà nước kiểm soát bởi tầng lớp bên trên và cầm vũ khí chống lại nó – cuối cùng hình thành Quân đội Nhân dân Mới Maoist.
Do đó, việc họ có lập trường khác nhau về Biển Đông chỉ là cái mới nhất trong một chuỗi dài các tranh chấp giữa các đối thủ trong tầng lớp bên trên ở Philippines. Lúc này lúc khác, các nhóm này có thể tạo ra một câu chuyện để họ đoàn kết với nhau và cũng để giành được sự ủng hộ của dân số lớn hơn. Nhưng sức mạnh của lý lẽ chống Mỹ hoặc chống TQ không nhất quán. Tại một vài thời điểm nó có thể lôi kéo một số rất lớn xuống đường nhưng quần chúng đông đúc của Philippines thường chú ý đến các lễ hội tôn giáo và các loại kịch nhẹ giải trí nhiều hơn. Câu chuyện về việc Chúa Jesus Christ chịu khổ nạn có nhiều âm hưởng với hầu hết người Philippines hơn các lập luận rằng đất nước họ đang bị một Pontius Pilate hiện đại đóng đinh. Ba tháng trước sự kiện tháng 4 năm 2012, đám rước Black Nazarene tại Vương Cung Thánh Đường Quiapo ở ngoại ô Manila đã thu hút một đám đông ước tính vào khoảng 6 tới 8 triệu – con số mà phe tả chỉ có thể mơ ước.
Những câu chuyện chịu khổ nạn và cứu rổi của cá nhân quan trọng đối với hầu hết người Philippines nhiều hơn là câu chuyện về áp bức và giải phóng đất nước. Điều đó được tăng cường bởi một chương trình học dạy trẻ con rằng lịch sử của họ chỉ bắt đầu vào năm 1521 khi Magellan đến Philippines và thường dạy bằng cách sử dụng Hoa Kỳ như là một lý tưởng mà Philippines phải cố gắng để noi theo. Khi nhìn theo ánh sáng này không ngạc nhiên là mặc dù phải sống dưới chủ nghĩa thực dân và quan hệ bất bình đẳng cả thế kỉ, nhiều khảo sát lặp đi lặp lại chỉ ra rằng người Philippines là dân thân-Mỹ nhất trên hành tinh. Thăm dò ý kiến của Pew Global Attitudes Survey và BBC / GlobeScan 2002-2013 đều cho thấy 85-90 % dân số Philippin có thái độ tích cực đối với Mỹ. Khảo sát của Pew 2013 cũng cho thấy 85 % người Philippines tin rằng Hoa Kỳ có xem xét tới lợi ích Philippines khi xây dựng chính sách. Có một suy nghĩ chung rằng Hoa Kỳ sẽ có mặt để giúp họ trong bất cứ giờ phút cần thiết nào trong tương lai.
Điều này nằm đằng sau cái có thể có vẻ là một sự thụ động chung trong dân chúng về Biển Đông – hay biển Tây Philippines như chính thức được biết đến ở nước này từ ngày 5 tháng 9 năm 2012. Dù khảo sát Pew 2013 cho thấy rằng 90 % dân số coi tranh chấp với TQ là một “vấn đề lớn” nhưng đòi hỏi phải có hành động thì không nhiều. “Không phải người Philippines không quan tâm tới Biển Tây Philippines, chỉ là vì họ biết rằng biển này thuộc về chúng tôi – qua sự gần gũi tuyệt đối”, Jose Santos Ardivilla, một nhà quan sát chán ngán về các xu hướng này (vốn vừa là nhà vẽ tranh biếm họa của tờ Manila Star dưới bút danh “Sic N Tyred” vừa là giảng viên nhân văn tại Đại Học Philippines) lập luận. “Họ không bị nó ảnh hưởng ngay lập tức và họ có những vấn đề khác cấp bách hơn. Nhưng họ thật sự quan tâm đến chủ quyền và quyền sở hữu vì chúng tôi nghe nói rằng các đảo này là có khá nhiều khoáng sản”. Trong những ngày sau khi sự cố bãi Scarborough xảy ra, tin tặc từ cả Philippines lẫn TQ tiến hành một cuộc chiến tranh mạng thay đổi nội dung các trang web của nhau. Có những dấu hiệu cho thấy chủ nghĩa dân tộc phổ biến đang được khuấy động vào cuộc sống về các mỏm đá đó, nhưng nó lại tan biến chỉ trong vòng vài ngày. Tóm lại, có rất ít sức ép từ bên dưới thúc đẩy tầng lớp bên trên đi vào hành động đối với các tranh chấp lãnh thổ. Áp lực như vậy đúng là có tồn tại từ một lớp mỏng các nhà hoạt động chính trị và các nhà bình luận, nhưng nó ít có tác dụng: tầng lớp bên trên gần như không có khả năng đồng thuận nên khó có việc phối hợp hành động.
Một trong những nét nổi bật nhất của nền chính trị Philippines là có thật ít sự nhất trí về lợi ích quốc gia. Có rất nhiều lời hô hào về quốc gia, đặc biệt là vào thời điểm bầu cử, nhưng bản sắc vùng miền thường mạnh hơn. Vốn là một tập hợp gồm nhiều đảo có các rặng núi dốc ngăn cách bên trong nên không ngạc nhiên khi mọi người chỉ nhìn vào bên trong, hướng về các nhà cai trị địa phương chứ không nhìn hướng tới thủ đô quốc gia ở xa xôi. Cả thực dân Tây Ban Nha lẫn Mỹ đều thấy thuận tiện khi cai trị thông qua các thủ lĩnh địa phương,qua việc cố kết quyền lực của các gia đình đang nắm quyền lẫn quyền lực của chính họ. Đối với Philippines nói chung, kết quả là địa phương mạnh và quốc gia yếu. Manila yếu, các nhà cầm quyền địa phương thường xuyên hành động mà không bị trừng phạt, và thậm chí cả ở cấp quốc gia, các gia đình có thế lực có thể thực thi các chính sách tư riêng hoàn toàn vì lợi ích riêng của họ. Do họ kiểm soát các ngành kinh tế chủ chốt và chính trị, ảnh hưởng cá nhân có thể sâu sắc và gây mất ổn định. Các vụ bê bối trong các dự án NorthRail và Khảo sát Địa chấn biển chung (xem Chương 5) phơi bày cách mà các nhân vật quốc gia, lúc này lúc khác, bẩy xeo các lợi ích quốc gia và mặc cả với chính phủ nước ngoài vì lợi ích của riêng mình.
Rất hiếm khi tinh thần dân tộc trong tầng lớp bên trên có một vai trò trong chính trị quốc tế. Năm 1991, Thượng Viện gây sửng sốt Washington với việc bỏ phiếu chống việc gia hạn Hiệp định về Căn cứ Quân sự năm 1947, buộc căn cứ hải quân Mỹ rộng lớn tại Vịnh Subic phải đóng cửa. Nhưng đó là trường hợp đặc biệt. Một vài trong số 12 thượng nghị sĩ bất đồng chính kiến theo chủ nghĩa dân tộc trường phái cũ cảm thấy sự phát triển của đất nước bị kiềm hãm vì sự phụ thuộc vào chú Sam. Nhưng số lượng của họ đã phồng lên bởi việc công chúng giận dữ về vai trò của Washington trước đây trong hậu thuẫn chế độ độc tài Ferdinand Marcos (ít nhất là trong những năm đầu, cố làm giảm quyền thế của các gia đình tầng lớp bên trên cũ). Những người khác không muốn Philippines trữ vũ khí hạt nhân của Mỹ và một số tức giận về việc binh lính Mỹ càn quấy phụ nữ địa phương.
Tuy nhiên, năm 1991 là một ngoại lệ. Các quan hệ ràng buộc tầng lớp bên trên của Philippines với Hoa Kỳ – ngôn ngữ, lịch sử và triển vọng chia sẻ – đang thắt chặt. Nhưng họ ru ngủ các thành viên của mình vào tình trạng thoải mái tuỳ tiện dựa trên giả định rằng đó là cảm giác của cả hai bên với nhau. Bộ phận này của xã hội, từng cúc cung tận tuỵ Washington qua nhiều thế hệ, đã tự thuyết phục mình, như Tướng MacArthur đã làm trong năm 1944, rằng Hoa Kỳ sẽ trở lại trong những giờ phút cần đến và đương nhiên đứng về phía Philippines trong bất kỳ tranh chấp nào. Cảm giác quá mức này về tầm quan trọng của mình làm những người làm chính sách mờ mắt không thấy thực tế trong khu vực đang thay đổi: quan hệ của Washington với Bắc Kinh hiện nay là quan trọng hơn nhiều so với các nghĩa vụ của họ đối với Manila. Kết quả là nguy hiểm cho nước này nói chung và họ đã phạm sai lầm ngớ ngẩn rơi vào khủng hoảng chính sách đối ngoại, như bế tắc ở Scarborough Shoal vào năm 2012, lớn tiếng nhưng không có sức mạnh cơ bắp để hậu thuẫn. Việc mất niềm tin vào Hoa Kỳ có thể có những hậu quả rộng lớn hơn trong tương lai. Tầng lớp bên trên có thể quyết định rằng lợi ích của họ sẽ được phục vụ tốt hơn bởi các mối quan hệ gần gũi hơn với Bắc Kinh, hoặc họ có thể vẫn gắn bó với Washington và mất đi tính hợp pháp trong mắt của dân số lớn hơn nếu như Washington không luôn giúp họ trong các cuộc khủng hoảng.
Nhưng có một luồng khác của chủ nghĩa dân tộc Philippines theo hướng ác cảm – đối với cộng đồng thiểu số gốc Hoa rõ rệt. Ngược với tầng lớp mestizo bên trên vốn tìm cách che giấu nguồn gốc TQ của mình, những người nhập cư thế kỷ XX không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải công khai xác định như vậy. Trong nhiều thế kỷ người Phúc Kiến bị giữ ngoài lề xã hội Philippines. Người Tây Ban Nha phân loại họ là “Sangley” rồi “Chino”, nhà chức trách Mỹ đã thông qua “Luật Loại trừ người Hoa” để kiểm soát di trú của họ và hiệp ước 1947 đặt họ dưới quyền tài phán của Trung Hoa Dân Quốc – tình huống này chỉ kết thúc vào năm 1975 khi Manila chuyển công nhận ngoại giao sang Trung Hoa Cộng Sản và cấp quyền công dân đầy đủ cho người “Chino”. Họ làm ăn phát đạt với tư cách một cộng đồng. Mười chín trong số 40 người Philippines giàu nhất trong danh sách Tạp chí Forbes 2013 có họ TQ: Henry Sy (Thi Chí Thành) sở hữu trung tâm mua sắm, Lucio Tan (Trần Vĩnh Tài) sở hữu các doanh nghiệp bia và thuốc lá , John Gokongwei (Ngô Dịch Huy) sở hữu một hãng hàng không và bất động sản, George Ty (Trịnh Thiếu Kiên) sở hữu nhiều công ty dịch vụ tài chính – và vân vân…. Một số tài sản này đã được tăng lên qua hợp tác với các gia đình người mestino lâu đời – Sy với Ayalas và Gokongwei với Lopezes, chẳng hạn. Nhưng thành kiến với những người có tên họ ngắn vẫn kéo dài. Việc người gốc Hoa bị người Philippines khác gọi là “intsik” (côn trùng) là chuyện bình thường, mặc dù hiện nay từ này đã được một số người gốc Hoa chấp nhận để gọi chính mình một cách châm biếm. Đôi khi họ gọi những người mới từ TQ đến là người “intsik chính cống”. Ngày nay, từ được chấp nhận cho người Philippines gốc Hoa là “Tsinoy”- một từ nhạy theo từ “Pinoy”, từ Tagalog chỉ người Philippines.
Cộng đồng Tsinoy rõ nhất là ở khu Binondo thuộc Manila , chỗ mà ban đầu là một mảnh đất cho những người gốc Hoa đã cải sang đạo Thiên Chúa và cho con cái họ – người mestizo gốc. Binondo trở thành quê hương cho dân số người Hoa rộng lớn hơn trong những năm cuối thế kỷ XVIII sau khi khu ổ chuột Parian bị phá bỏ, nơi mà ban đầu những người Hoa không cải đạo bị buộc phải sống ở đó (nằm gọn trong tầm bắn của súng Tây Ban Nha trên tường thành phố). Binondo cũng chỉ cách thành phố cũ một tầm pháo nhưng ngày nay các hiểm nguy đối với cuộc sống và cơ thể không phải từ súng đạn mà từ các đường nước hôi hám đổ vào sông Pasig và các luồng khí thải độc hại choáng đầy các đường phố hẹp. Thoạt nhìn nó có vẻ đi xuống nhưng đằng sau sự rệu rã, khu này vẫn còn là một trung tâm quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Những cửa hàng nhỏ ở đó thường là mặt tiền cho các doanh nghiệp kinh doanh, phân phối lớn hơn nhiều. Các khối nhà tháp lớn vượt lên trên khoảng không ở giữa.
Một phần thông qua thừa kế và một phần thông qua mệnh lệnh hành chính, Binondo vẫn giữ sắc thái tạp chủng riêng biệt. Binondo được làm lại vào đầu thập kỷ 1970 sau khi thị trưởng Manila khẳng định rằng nó chưa đủ “Hoa”. Trong một nỗ lực để thu hút khách du lịch, các cổng chùa trang trí công phu đã được dựng lên tại các lối vào khu vực này và cộng đồng đã được yêu cầu trưng bày cáu biển hiệu TQ trên các doanh nghiệp của họ. Nhang được đốt trước bàn thờ Công giáo, DVD Hong Kong và Hollywood xen lẫn trên kệ và tiếng Anh pha trộn với tiếng Phúc Kiến. Mỗi khi căng thẳng giữa Philippines và TQ tăng cao thì lòng trung thành của dân Tsinoy lại được chú ý. Những người này có thân hoặc chống Mỹ hay TQ nhiều hơn phần còn lại của dân số chút nào không?
Trong các cửa hàng ở Binondo cảm xúc bao trùm là muốn tránh bất kỳ loại rắc rối nào. Một vài người sẽ được công khai nêu ra nhưng một chủ cửa hàng in vạch ra nét tiêu biểu của khu này: “làm ăn là làm ăn , chính trị là chính trị”. Tuy nhiên cũng có sự cảnh giác. Ông cảnh báo “những người thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội không có vấn đề gì với người Hoa, nhưng những người ít học và những người có quyền lợi cố kết có thể than phiền báo chí, truyền thông vì đã khuấy động lòng ác cảm”. Trên một con đường khác, Ka Wilson Ng, thợ làm bánh mì thành công và cựu chủ tịch của Hội Lions địa phương, điển hình hoá tính tạp chủng của ngườiTsinoy. “Nếu họ tấn công chúng tôi, tôi sẽ bảo vệ đất nước này. Nhưng nếu chúng tôi tấn công họ, tôi sẽ đứng về phía TQ”. Rõ ràng ông tự nhận mình là “chúng tôi”- người Philippines – nhưng các quan hệ vẫn ràng buộc ông vào đất nước khác. Gia đình Wilson gốc Phúc Kiến đến đây ba thế hệ trước. Ông kết hôn với một phụ nữ Philippines và họ nói tiếng Phúc Kiến ở nhà nhưng ông không chắc cháu của ông có thể bặp bẹ được hơn một vài từ thứ tiếng này không. Đó là một câu chuyện về hội nhập không cưỡng lại được.
Trên toàn dân số nói chung, thái độ đối với TQ nhìn chung là tích cực trong nhiều năm, mặc dù ít hơn so với Mỹ. Năm 2005, 54 % người Philippines đã có một cái nhìn tích cực về TQ và 30 % có một cái nhìn tiêu cực. Đến năm 2011, khi thương mại giữa hai nước tăng nhanh, tỷ lệ tích cực đã tăng đến 62 % với tiêu cực vẫn còn trên 31 %. Tuy nhiên, vào năm 2013, trong bối cảnh bế tắc Bãi Scarborough, theo Pew Global Attitudes Survey , tỷ lệ tích cực đã giảm xuống còn 48% với 39 % hiện nay xem TQ như kẻ thù nhiều hơn là một đối tác. Tuy nhiên, có vẻ không chắc rằng điều này sẽ chuyển thành lời kêu gọi hành động của toàn dân. Mặc dù mức độ lo ngại về ý đồ của TQ tăng lên, “ngọn lửa chiến tranh” định kỳ giữa các blogger trên mạng và sự hoạt bát lẫn hiệu triệu qua hình ảnh các cuộc biểu tình trên đường phố Manila, chưa ai trong số những tay chơi chính trong nền chính trị Philippines tìm cách liên kết cuộc đấu tranh về chủ quyền và nguồn năng lượng ngoài khơi với cuộc mưu sinh hàng ngày của quần chúng. Dù từ cánh tả hay cánh hữu, lập luận vẫn diễn đạt bằng ngôn ngữ cầu kỳ về chủ quyền quốc gia, và ở Philippines, các trận đấu mồm đứng ở vị trí thứ hai tụt xa phía sau cuộc đấu tranh hàng ngày để kiếm miếng ăn.
B.H.
Dịch giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/37120

CÁCH MẠNG 1989 (51)

Victor Sebestyen

Dịch giả:  Phan Trinh
CHƯƠNG 49
ĐOẠN KẾT
GIÁO HOÀNG GẶP TỔNG BÍ THƯ – THƯỢNG ĐỈNH MALTA – HAVEL, TỔNG THỐNG TIỆP KHẮC – LIÊN HOAN TƯNG BỪNG – CHÍNH QUYỀN VỀ TAY DÂN
***
Thành phố Vatican. Thứ sáu, ngày 1 tháng 12, năm 1989
GIÁO HOÀNG GẶP TỔNG BÍ THƯ
1.
Đoàn xe hơi màu đen 20 chiếc cùng đoàn mô tô mở đường đã làm náo động những phố phường chật hẹp tại thủ đô Rome hôm thứ tư 30/11/1989, khi Mikhail Gorbachev đến thăm Ý. Bất cứ nơi nào Gorbachev đến, ngoài Liên Xô, ông đều thu hút những đám đông khổng lồ và nồng nhiệt.
Lần này cũng vậy, tuy có khác. Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 1/12/1989, đoàn xe của phái đoàn Liên Xô đến Cổng vòm Chuông, bên cạnh Đền thờ Thánh Phê-rô, rồi rẽ vào cuối con đường hẹp. Chiếc xe sang trọng hiệu Zil chở Gorbachev dừng lại ngay lối vào khu Giáo hoàng lưu trú, trong khuôn viên Nhà thờ Thánh Damasus, một trong những báu vật bí mật của Vatican, vốn không mở cửa cho công chúng.
Gorbachev được đội Vệ binh Thụy Sĩ, mặc đồng phục sọc màu nâu xanh, cầm kích nghênh chào và một nhóm chức sắc Tòa thánh, với bốn vị hồng y, có mặt để đón tiếp. Cả hai phái đoàn đều đứng im vài phút như để tận hưởng sự kiện lịch sử hiếm hoi này, trong khi ban nhạc Vatican tấu bài Quốc tế ca – một bài rất lạ với ban nhạc nhưng ai cũng thấy họ chơi thật hay – và sau đó là Thánh ca Giáo hoàng. Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô và lãnh tụ Giáo hội Công giáo La Mã sắp gặp nhau lần đầu tiên*, và đại diện hai bên đều rất hiểu ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của cuộc gặp lần này.
2.
Bà Raisa Gorbachev gây một chút xôn xao, vì theo nghi thức khánh tiết Vatican, phụ nữ trong các cuộc yết kiến với Giáo hoàng thường phải mặc trang phục màu đen. Raisa đã biết thông lệ này vài tuần qua, nhưng hôm nay bà lại xuất hiện trong trang phục màu đỏ.
Chồng bà đã rất nôn nóng muốn đến Vatican nên cuộc gặp này đã được chèn vào giữa chuyến viếng thăm chính thức nước Ý và cuộc họp thượng đỉnh diễn ra ngày hôm sau tại Malta với Tổng thống Mỹ George Bush.
Về phần Giáo hoàng Gio an Phao-lô II, theo lời các cố vấn, ban đầu ngài đã tỏ ra ngần ngại, tuy đồng ý gặp nhưng rất lưỡng lự, vì không muốn lãnh đạo Liên Xô dùng cuộc gặp để tạo thêm tiếng vang cho cá nhân ông. Nhưng từ đó đến nay nhiều thay đổi trọng đại đã diễn ra: Một trí thức Công giáo đã trở thành Thủ tướng Ba Lan, quê hương Giáo hoàng, Bức tường Berlin đã sụp đổ và chế độ Cộng sản Tiệp Khắc cũng đã tan vỡ. Và như thế, Giáo hoàng thấy quyết định gặp Gorbachev là đúng đắn và nghĩ rằng Gorbachev xứng đáng với tiếng vang ông sẽ tạo được qua chuyến viếng thăm này.
3.
Khi bà Gorbachev xuất hiện trong bộ trang phục đỏ tươi, đủ nổi bật để cho thấy ở tuổi 56 bà vẫn thu hút, các giới chức Vatican chỉ tỏ chút ngạc nhiên và họ tiếp tục công việc như không có gì bất thường xảy ra. Bà được đưa đi tham quan bộ sưu tập nghệ thuật Vatican trong khi chồng bà được đưa vào thư viện riêng của Giáo hoàng, nơi ông và Giáo hoàng trò chuyện trong 75 phút, không ai khác có mặt, ngoài hai thông dịch viên.
Đây chính là căn phòng KGB đã đặt thiết bị nghe lén dưới thời trùm mật vụ Yuri Andropov, một trong những người đỡ đầu chính cho Gorbachev. 11 năm trước, Andropov là người dự đoán rằng việc Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đắc cử sẽ là thảm họa cho đế quốc Xô-viết. Những gì Andropov nói quả là tiên tri.
Gorbachev là một người tự tin ngoại hạng, nhưng sau này ông cho biết ông cũng “rất hồi hộp” khi chuẩn bị gặp vị Giáo hoàng. Gorbachev ít khi dùng nghịch lý trong ngôn ngữ, nhưng ông hẳn đã phải cười thầm trong bụng – tuy luôn bác bỏ điều này – về sự có mặt của ông, người lãnh đạo thế giới Cộng sản vô thần, bên cạnh một Giáo hoàng, lãnh tụ tôn giáo hàng đầu thế giới. Sau này ông nhận định rằng nếu không có Giáo hoàng Gio an Phao lô II thì đã không thể có những chuyển biến lớn lao tại Châu Âu. Dĩ nhiên nhận định này đã được diễn giải theo nhiều cách khác nhau.
Cuộc trò chuyện giữa hai người hôm đó tại Vatican lan man vào những việc chung chung và không có điều gì hệ trọng được thỏa thuận. Nhưng quan trọng không phải là họ đã nói gì, mà là họ đã có thể gặp nhau để nói chuyện. Điều này cho thế giới thấy mọi sự đã thay đổi sâu sắc đến đâu.
*
THƯỢNG ĐỈNH MALTA
4.
Tương tự, có rất ít việc hệ trọng được thỏa thuận trong Hội nghị Thượng đỉnh Malta hai ngày sau đó. Điều kỳ lạ là cuộc gặp thượng đỉnh đã diễn ra trên biển – đúng hơn là ngay ngoài cảng Valetta – trên hai chiếc tàu hải quân của Mỹ và Liên Xô, giữa một trong những cơn bão mùa đông tệ hại nhất trong vài năm qua tại vùng Địa trung Hải.
Nhiều thành viên tham dự cuộc họp thượng đỉnh, gồm các cố vấn nòng cốt của cả George H. W. Bush lẫn Mikhail Gorbachev, bị say sóng dữ dội đã không thể có mặt trong các cuộc đàm phán, dĩ nhiên cũng chẳng thể có mặt trong các buổi tiếp tân hay tiệc tối được tổ chức trong hai ngày hội nghị.**
5.
Vào đầu xuân năm 1989, Bush đã gửi thư đề nghị Gorbachev họp thượng đỉnh. Bush dự định tổ chức một cuộc họp càng thân mật càng tốt, với chỉ vài cố vấn tham dự và báo chí đưa tin ít nhất có thể. Mục tiêu là để đàm phán một loạt các vấn đề liên quan đến quan hệ Đông Tây, giải trừ vũ khí hạt nhân và đặc biệt là về tình hình Đông Âu. Đến khi hội nghị diễn ra vào cuối năm 1989 thì bản đồ chính trị Châu Âu đã thay đổi rất nhiều, và như hai bên đàm phán đều biết, chẳng còn lại bao nhiêu vấn đề để thảo luận.
Cả hai đều đồng ý Chiến tranh Lạnh đã kết thúc. Bà Condoleezza Rice, cố vấn cao cấp của Bush về Đông Âu, có mặt vào giây phút kịch tính nhất của cuộc họp thượng đỉnh, theo lời bà, giây phút ấy giúp bà nhận ra rằng “thế giới đã thay đổi toàn diện … Đó là khi Gorbachev nói một điều tôi không bao giờ tưởng tượng sẽ nghe được từ miệng một lãnh tụ Liên Xô. Ông nói thẳng tuột, không cay đắng chút nào, rằng ông xem Mỹ là một quyền lực Châu Âu, và là một đối tác của Liên Xô. Điều đó, đối với chúng tôi, là một thay đổi có tính cách mạng”.[1]
***
HAVEL, TỔNG THỐNG TIỆP KHẮC
6.
Ngày Tết Dương lịch 1/1/1990, ba ngày sau khi được bầu làm Tổng thống Tiệp Khắc, Vaclav Havel ra nói chuyện trước một công chúng phấn khởi, đông đến 250.000 người, đứng tràn ngập khu vực bên ngoài Lâu đài Praha. Đó là một màn trình bày được chuẩn bị kỹ của một người còn ít kinh nghiệm xuất hiện trước những đám đông lớn đến thế.
Khi ông bước lên bục phát biểu, tiếng đám đông hô to “Havel, Havel” vang dội khắp trung tâm thành phố. Ông bắt đầu nói, theo cách nói quen thuộc, với ngôn ngữ được cân nhắc thận trọng và lý luận chặt chẽ, nhưng điều ông nói cho thấy ông vẫn là một triết gia, hơn là một người đang tập làm chính trị.
Quần chúng hoan hô ông nồng nhiệt khi ông nói một trong những khuyết điểm lớn nhất của chế độ Cộng sản là “cái cách mà chế độ, được trang bị bởi một ý thức hệ kiêu ngạo và bất dung, đã hạ thấp con người và thiên nhiên xuống mức chỉ còn là những công cụ sản xuất … trờ thành ốc tán và đinh vít trong một guồng máy khổng lồ cực kỳ đáng sợ”.
Nhưng rồi, đến nửa bài nói chuyện của ông, tâm trạng khán giả bắt đầu thay đổi và Havel để ý thấy một số người bắt đầu tỏ thái độ không thoải mái. Ông còn nghe cả một số tiếng huýt sáo chê bai lẻ tẻ khi ông bắt đầu nói sâu vào chủ đề mà ông quan tâm, rằng: người dân Tiệp Khắc đã sống trong “một bầu không khí nhiễm độc về đạo đức. Tôi nói điều này là nói về tất cả mọi người chúng ta. Tất cả chúng ta đều trở nên quen thuộc với chế độ toàn trị và chấp nhận nó như một điều đương nhiên, không thể thay đổi được trong cuộc sống. Điều này giúp duy trì nó … Tất cả chúng ta – tuy với mức độ khác nhau – đều chịu trách nhiệm về sự vận hành của guồng máy toàn trị. Không ai trong chúng ta đơn thuần chỉ là nạn nhân. Chúng ta còn là những đồng phạm nữa”.[2]
*
LIÊN HOAN TƯNG BỪNG
7.
Khi nói như trên, Havel cho thấy ông rất thành thực như vẫn luôn thành thực. Nhưng chỉ rất ít người tại Praha, hoặc ở những vùng đất khác vừa được giải phóng khỏi cộng sản tại Trung Âu, có thể chia sẻ được nỗi dằn vặt của ông vào lúc này. Về sau họ có thể tỉnh táo hơn, nhưng không phải lúc này. Ngay bây giờ và ở đây, quần chúng không muốn đấm ngực tự vấn mà muốn liên hoan tưng bừng, trước khi công cuộc xây dựng một tương lai mới bắt đầu.
Những cuộc liên hoan vĩ đại đã liên tiếp diễn ra trong suốt tháng 12/1989 tại thủ đô các nước, nơi mấy chục năm qua người dân không có được bao nhiêu hy vọng hoặc niềm vui. Sau khi Khải hoàn môn Brandenburg ở Berlin, biểu tượng của nước Đức thống nhất, chính thức được mở trở lại vào ngày 23/12/1989, các cuộc liên hoan đã kéo dài liên tiếp ba ngày đêm. Tại Bucharest, thủ đô Rumani, một “ủy ban cách mạng” đã chiếm đóng trong mười ngày khu văn phòng trước đây dành cho Ceausescu. Vào đêm giao thừa đón chào năm mới 1990, tài sản của nhà độc tài quá cố đã được phân chia, trong một nghi lễ pha trộn giữa phấn khích hoang dại và lòng tham trần trụi.
Mọi người cũng nhận ra rằng vẫn còn rất nhiều việc chưa giải quyết xong: Người Rumani và Bulgaria không lâu sau biết rằng cuộc cách mạng của họ mới xong được một nửa; tại Đức, cứ theo cái đà những gì đang diễn ra thì việc thống nhất nước Đức là điều không thể ngăn cản được, cho dù Mikhail Gorbachev, Margaret Thatcher và Francois Mitterand tìm cách ngăn cản quá trình thống nhất. Đó là chưa kể vấn đề phải đối xử với các nhân vật lãnh đạo của chế độ cũ ra sao.
*
CHÍNH QUYỀN VỀ TAY DÂN
8.
Trở lại Praha, khoảng giữa trưa ngày 1/1/1990, nhà biên kịch nay là Tổng thống Havel đang sắp sửa kết thúc bài nói chuyện của mình. Đám đông lúc này lại đứng về phía ông sau khi ông nói đến những điều lạc quan thay vì khơi gợi mặc cảm tội lỗi. Và như Ba Lan đã làm hai ngày trước đó, Tiệp Khắc cũng sẽ lập tức bỏ nhãn hiệu “Cộng hòa Nhân dân”, và trong một hiến pháp mới, Tiệp Khắc sẽ chỉ còn là một nước Cộng hòa. Havel tuyên bố: “Đồng bào thân mến! Chính quyền nhân dân nay mới là của dân”.
———–
Dịch theo bản gốc tiếng Anh cuốn Revolution 1989 – The Fall of the Soviet Empire (Cách mạng 1989 – Đế quốc Xô-viết sụp đổ) của Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009. Bản tiếng Việt này không phục vụ mục đích thương mại.
P.T.
* Thực ra, đây là cuộc gặp gỡ thứ hai giữa một giáo hoàng và một lãnh tụ Nga. Cuộc hội kiến thứ nhất diễn ra vào tháng 12/1845, khi Sa hoàng Nicholas I đến thăm Rome và được Đức Giáo hoàng Gregory XVI dành cho một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi.
** Địa điểm này, trớ trêu thay, lại được người em của Tổng thống Mỹ, doanh nhân Billy Bush, đề nghị. Billy Bush trước đó vừa đến thăm Malta, ông có một số quyền lợi kinh doanh tại hòn đảo này và báo cho ông anh George rằng thời tiết ở đó thật tuyệt.
[1] Bản ghi nội dung Hội nghị Thượng đỉnh Malta, CWIHP (Cold War International History Project, Woodrow Wilson Center, Washington DC)
[2] Bản tin của BBC World Service, ngày 2/1/1990
Dịch giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/37116