Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Bắt giữ lô hàng vũ khí quân dụng lớn nhất từ trước đến nay tại sân bay

Bắt lô hàng vũ khí quân dụng lớn nhất từ trước đến nay tại sân bay

Dân trí 94 khẩu súng ngắn quân dụng và 472 băng đạn chưa qua sử dụng từ Cộng hòa Séc thẩm lậu vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất vừa bị các đơn vị liên quan bắt giữ. Đây là vụ bắt giữ lượng vũ khí quân dụng lớn nhất từ trước đến nay tại sân bay.

Ngày 31/7, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (TPHCM) cho biết vừa phối hợp với Cục An ninh Kinh tế tổng hợp (A85) và các lực lượng chức năng của Bộ Công an, phát hiện, bắt giữ số lượng lớn vũ khí quân dụng từ Cộng hòa Séc thẩm lậu vào lãnh thổ Việt Nam.
2-d85561-29d42
Số vũ khí quân dụng từ Cộng hòa Séc thẩm lậu vào lãnh thổ Việt Nam bị phát hiện, bắt giữ
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành khám xét đột xuất chuyến bay từ Thổ Nhĩ Kỳ đến sân bay Tân Sơn Nhất.
Qua kiểm tra thực tế, các cơ quan chức năng phát hiện số lượng lớn vũ khí gồm: 94 khẩu súng ngắn quân dụng và 472 băng đạn chưa qua sử dụng được cất giấu tinh vi.
Vụ việc này mang tính chất cực kỳ nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

3-32d48
472 băng đạn chưa qua sử dụng
4-1e7125-1d324
Lô hàng được cất giấu rất tinh vi
Hiện Cục Hải quan TPHCM đang tiếp tục phối hợp cùng Cục A85 điều tra làm rõ.
Đình Thảo

Phản ứng về việc Tướng Vịnh đề cao hợp tác với Tàu quốc

Phản ứng về việc Tướng Vịnh đề cao hợp tác Trung Quốc


Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-31


123402512013060718312393-622.jpg
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Ảnh minh họa chụp trước đây.
Courtesy photo

Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định quan hệ Việt Trung không bao giờ thay đổi và Trung Quốc luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Đảng. Ông Vịnh đã phát biểu như vừa nói vào tối 28/7 vừa qua nhân dịp Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức chiêu đãi kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Hòa hiếu hay thần phục?

Nam Nguyên phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nhà bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam từ 40 năm qua. Từ Hà Nội, trước hết TS Nguyễn Thanh Giang nhận định:
TS Nguyễn Thanh Giang: Tôi cho rằng, Việt Nam rất không may mắn có vị trí địa dư nằm sát với Trung Quốc, ở bên cạnh một anh khổng lồ mà rất không tử tế. Anh ấy không chỉ không tử tế đối với Việt Nam mà anh ấy đang cố gắng trỗi dậy bằng những thủ đoạn xấu xa, một khi đã trỗi dậy thì anh ấy sẽ không tử tế với nhiều dân tộc trên thế giới. Cho nên đấy là cái họa của dân tộc Việt Nam. Nhưng vì đã trót ở bên cạnh anh ấy rồi cho nên cũng đành phải hòa hiếu với anh ấy. Lâu nay tôi vẫn nói rằng, Việt Nam nếu muốn có thể tồn tại bên cạnh Trung Quốc thì Việt Nam phải vận dụng sức ủng hộ mạnh mẽ của thế giới đặc biệt của Hoa Kỳ. Cho nên Việt Nam trước hết phải xiết chặt được giao hảo tốt đẹp với Hoa Kỳ. Tôi cho rằng đáng lẽ lần đi vừa qua của ông Nguyễn Phú Trọng sang Hoa Kỳ, thì ông phải làm được việc nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược nhưng ông ấy đã không làm được việc rất cần thiết này cho dân tộc.
Họ không chỉ giữ tinh thần muốn hòa hiếu với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ mà họ còn muốn tuyên truyền cho một thứ gọi là thần phục Trung Quốc, coi Trung Quốc là bậc thầy, coi Trung Quốc là Thiên tử mà mình phải rắp tâm cung phụng và theo họ.
-TS Nguyễn Thanh Giang
Nhưng mà bên cạnh giao hảo hữu nghị với Hoa Kỳ, tôi nghĩ cũng vẫn cần hữu nghị với Trung Quốc. Nhưng tôi đặc biệt căm giận những ai mà có tư tưởng thần phục Trung Quốc và muốn đẩy dân tộc này vào ách đô hộ mềm của Trung Quốc. Nói giao hảo hữu nghị là cần thiết đấy không nên đối địch với họ, nhưng tôi rất không ưng một số người trong đó có ông Nguyễn Chí Vịnh, trong đó có những người như ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, như là Bộ trưởng Phùng Quang Thanh… họ không chỉ giữ tinh thần muốn hòa hiếu với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ mà họ còn muốn tuyên truyền cho một thứ gọi là thần phục Trung Quốc, coi Trung Quốc là bậc thầy, coi Trung Quốc là Thiên tử mà mình phải rắp tâm cung phụng và theo họ.
Nam Nguyên: Chính sách đi dây của Việt Nam như nhiều nhà bình luận nói. Theo Tiến sĩ có còn thích hợp hay không, nhất là khi Trung Quốc đã thể hiện tham vọng chiếm trọn Biển Đông.
TS Nguyễn Thanh Giang: Việt Nam ở một thế kẹt như vậy, thì vẫn phải giữ trạng thái đu dây giữa hai thế lực lớn là Trung Quốc và Hoa Kỳ . Nhưng mà cách đu dây như thế nào lại là một cái tài của nhà lãnh đạo, đu dây mà không phải là đu dây. Đu dây mà thực chất vẫn phải nghiêng về phía Hoa Kỳ để cho có thể tạo được một sức mạnh có thể đương đầu được với Trung Quốc. Những người lãnh đạo phải hiểu cho được là làm sao phải thực hiện cho được các đường lối chủ trương của mình, làm sao phải thực sự coi Hoa Kỳ bây giờ là người bạn mà mình thực sự dựa vào, để mình giữ lấy toàn vẹn lãnh thổ.
nguyen-chi-vinh-400.jpg
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh gặp Đại tướng Martin Depsey hồi nam 2014. Courtesy photo.
Đu dây không có nghĩa là cân bằng bên này một tí bên kia một tí, mà trong tình hình này phải thấy Trung Quốc là kẻ thù thực sự rồi. Trước đây ta quan niệm Mỹ là kẻ thù, không bằng cớ, Mỹ không có âm mưu xâm chiếm nước ta, không chiếm đoạt đất đai tài nguyên của chúng ta. Mà lúc bấy giờ chỉ là cuộc chiến tranh vô nghĩa, đi theo cái gọi là ý thức hệ. Còn bây giờ Trung Quốc nó là một kẻ xâm lược thực sự, nó đã xâm lược Việt Nam, nó đang xâm lược Việt Nam, nó không chỉ xâm lăng ở Bản Giốc, ở Ải Nam Quan, nó thực sự xâm lăng Hoàng Sa, nó đang xâm lăng Trường Sa và xâm lăng trên toàn bộ mặt biển.
Cho nên mình phải nuốt hận vào lòng mà nói ‘hảo hảo’với nó, nhưng thực chất phải xem nó là kẻ thù. Hảo hảo với nó không có nghĩa sợ nó mà làm sao để ngược lại Trung Quốc phải sợ mình. Trung Quốc sợ mình thì có hai điều kiện. Một là mình làm cho nội lực dân tộc mình mạnh mẽ lên. Hai là mình phải dựa vào được sự bảo trợ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt là Mỹ và xung quanh đây là Nhật, Úc và khối Đông Nam Á.
Nam Nguyên: Thưa Tiến sĩ, hồi tháng 5 vừa qua, theo tin ghi nhận khi Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh họp với tướng Thường Vạn Toàn của Trung Quốc ở Lào Cai, ông Thanh đã đảm bảo sự tin cậy chính trị với Trung Quốc. Bây giờ Tướng Vịnh nhấn mạnh, các nhà lãnh đạo cấp cao của hai lực lượng vũ trang sẽ tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác quốc phòng vào chiều sâu và chiều rộng. Điều này có là nguy hiểm hay không? Khi mà TQ đang tiến hành âm mưu chiếm trọn Biển Đông?
Còn để cho những nhân vật như là Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh thao túng nền quân sự, nền chính trị của Việt Nam thì đấy rõ ràng là một hiểm họa hết sức to lớn cho dân tộc. 
-TS Nguyễn Thanh Giang
TS Nguyễn Thanh Giang: Còn để cho những nhân vật như là Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh thao túng nền quân sự, nền chính trị của Việt Nam thì đấy rõ ràng là một hiểm họa hết sức to lớn cho dân tộc. Tôi nghĩ chúng ta phải hết sức cảnh giác đối với những con người đó. Nhưng tôi cho là hệ thống ý kiến của Nguyễn Chí Vịnh trong thời gian qua mà nhiều lần tôi đả kích, tôi vẫn nghi ngờ đó là cánh tay thân thiết của tình báo Hoa Nam, đặc biệt trong thời gian mà Nguyễn Chí Vịnh còn nắm Tổng Cục 2.
Nam Nguyên: Thưa, nghiên cứu quốc tế cho biết Trung Quốc là mối bận tâm hàng đầu của người Việt Nam, nhưng Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn nhấn mạnh rằng quan hệ hai nước hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa. Việt Nam đã cho mở Viện Khổng Tử ở Đại học Quốc gia Hà Nội, điều này tạo thêm mối lo sợ là sau kinh tế, chính trị, quân sự bây giờ lại thêm ảnh hưởng nhiều quá vào văn hóa Trung Quốc?
TS Nguyễn Thanh Giang: Lâu nay chúng ta ngộ nhận, cứ ca ngợi nền văn hóa của hai nước tương đồng nhau. Thực ra đạo Nho cũng có giá trị trong thời gian lịch sử nhất định. Trước đây nó cũng ảnh hưởng được vào trí thức, vào nền văn hóa nước ta làm cho trí thức của nước ta cũng có được một nếp sống đạo lý và đặc biệt tập hợp được lực lượng để chống cường quyền, chống ngoại xâm. Lúc bấy giờ có một giai đoạn lịch sử nó ảnh hưởng tích cực đến nền văn hóa và tâm lý dân tộc. Nhưng hiện nay, phải nói đạo Nho và cái văn hóa chính trị mà nói chung Trung Quốc dựa vào cho đến bây giờ, là thứ văn hóa chính trị lạc hậu, chỉ để giữ đời sống con người không thể vươn tới được nhân quyền và tự do dân chủ.
Nam Nguyên: Cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đã trả lời phỏng vấn.
RFA
NÓI THẾ THÔI, VIỆT CỘNG CŨNG RÂT CẢNH GIÁC VỚI TÀU CỘNG, TRỪ MỘT SỐ ÍT VIỆT CỘNG QUÁ NGU VẪN SÙNG BÁI VĂN HÓA TÀU!
http://www.ijavn.org/2015/08/phan-ung-ve-viec-tuong-vinh-e-cao-hop.html

Tàu quốc : Tỉnh Chiết giang bắt tháo dỡ tất cả thánh giá ở giáo đường

Trung Quốc : Tỉnh Chiết Giang bắt tháo dỡ tất cả thánh giá ở nhà thờ


mediaNgười Công giáo Trung Quốc tại một nhà thờ ở Bắc Kinh.

Hôm qua, 30/07/2015, các tín đồ Thiên Chúa giáo ở thành phố Ôn Châu, Chiết Giang, cho biết, chính quyền yêu cầu trong vài tuần lễ, tất cả các nhà thờ tại đây phải rút bỏ cây thánh giá.
Từ năm 2014 đến nay, chính quyền Trung Quốc đã bắt tháo gỡ hơn 1200 thánh giá tại các nhà thờ ở tỉnh này. Cộng đồng Thiên Chúa giáo tại Trung Quốc có khoảng một triệu tín đồ và Ôn Châu được coi như Jerusalem đối với tín đồ Thiên Chúa giáo Trung Quốc.
Theo ông Régis Anouilh, nhà báo thuộc tạp chí Giáo hội Châu Á (Eglise d’Asie), các hành động này thể hiện quyết tâm của Bắc Kinh muốn kìm hãm sự phát triển của Thiên Chúa giáo ở Trung Quốc.
« Phong trào trấn áp được khởi động từ cuối năm 2013, gia tăng trong năm 2014 và trở nên khốc liệt trong năm nay. Đây là một chính sách nhắm vào các tín đồ Thiên Chúa giáo cho dù đó là Công giáo hay Tin lành. Khoảng bốn chục nhà thờ đã bị phá hủy hoàn toàn.
Như vậy, có một chính sách rất rõ ràng nhằm kìm hãm sự trỗi dậy của Thiên Chúa giáo, hiện có vai trò rất quan trọng tại tỉnh Chiết Giang. Rất khó có thể làm rõ được các lý do.
Thiên Chúa giáo hiện nay phát triển mạnh tại Trung Quốc và làm cho đảng Cộng sản Trung Quốc rất lo ngại. Họ tiến hành một chiến dịch trấn áp mà chắc chắn là chính quyền trung ương cũng biết.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nắm quyền tại Bắc Kinh và đã từng là Bí thư tỉnh ủy Chiết Giang trong giai đoạn 2002-2007. Ông ta tiếp tục chính sách trấn áp này ».
RFI
http://www.ijavn.org/2015/08/trung-quoc-tinh-chiet-giang-bat-thao-do.html

Sách Đạo Cao đài & Victor Hugo: cẩu thả, tùy tiện trong nhận định sự kiện, nhân vật, giáo lý

VNTB - Sách Đạo Cao Đài & Victor Hugo: cẩu thả, tùy tiện trong nhận định sự kiện, nhân vật, giáo lý


Trần Văn Tân (VNTB) Năm 2011 nhà xuất bản Thời Đại Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây cho xuất bản đầu sách: Đạo Cao Đài & Victor Hugo do nhà văn, nhà nghiên cứu Trần Thu Dung viết. Cuốn sách tham khảo 49 đầu sách tiếng Anh, Pháp và 24 đầu sách tiếng Việt. Những tưởng với sự đầu tư tham khảo như vậy, sách sẽ có chất lượng về mặt nghiên cứu, học thuật, theo như lời tựa mà ban biên tập đề ra: Cuốn sách nầy ra đời nhằm giúp bạn đọc hiểu được nguyên nhân phong thánh của nhà văn thiên tài nầy và một phần sự phát sinh Đạo Cao Đài ở Việt Nam.

Tuy nhiên, cuốn sách này phạm những lỗi không đáng có, từ thực chứng cho đến những nhận định về con người, sự kiện lịch sử liên quan đến đạo Cao Đài.

Những sai sót cơ bản

Ví dụ, tác giả viết “Tòa Thánh Tây Ninh chính là Vatican hay là Thánh địa của đạo Cao Đài. Trong Tòa Thánh trung ương này, ngay lối vào treo một bức tranh to rộng vẽ chân dung của ba vị thánh Victor Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tôn Dật Tiên” (trang 66 dòng 9) nhưng thật chất, tranh ba vị thánh không phải được “treo” mà được vẽ thẳng vào vách tường, bao quanh là hoa văn trang trí và bóng đèn để chiếu sáng. 

Tác giả cho rằng, “Theo Cao Đài bức tranh tam thánh miêu tả ba vị trên đang cùng nhau với Đấng Cao Đài xin Thượng Đế cho phép ân xá lần thứ ba để cứu độ nhân chúng. Hiệp ước thỏa thuận xin lập đạo Tam kỳ Phổ độ. Ba ông ký chịu trách nhiệm trước Thượng Đế trách nhiệm dìu đắt con người đi theo con đường của Đấng Cao Đài dạy bảo” (trang 66).


Nhưng Giáo lý ĐĐTKPĐ dạy rõ: Ngọc Hoàng Thượng Đế (Trời) tá danh Cao Đài khai mở ĐĐTKPĐ. Như vậy, Thượng Đế chính là Đấng Cao Đài. Vậy thì làm sao có việc Đấng Cao Đài xin Thượng Đế cho phép ân xá lần thứ ba?

Nữa là, Đấng Cao Đài mở ĐĐTKPĐ năm 1926 thì sau đó mới có việc Tam Thánh đại diện cho nhân loại ký hòa ước với Đức Chí Tôn (góc phải bên dưới bức tranh có ghi Tòa Thánh 1947 - Họa Sĩ Lê Minh Tòng). Nghĩa là có ĐĐTKPĐ rồi nhiều năm sau mới có bức tranh Tam Thánh ký hòa ước, hoàn toàn không có việc Tam Thánh xin lập đạo Tam kỳ Phổ độ. 

Sai thứ ba là, Thượng Đế tá danh Cao Đài để hoằng khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (06 chữ) hay Đạo Cao Đài (03 chữ). Hiến Chương năm 1965 Hội Thánh Cao Đài ghi rõ tại điều thứ nhất: Danh hiệu là: Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, gọi tắt là (Đạo Cao Đài).

Danh hiệu 06 chữ ĐĐTKPĐ là danh hiệu một tôn giáo do Đấng Cao Đài lập ra. Đấng Cao Đài (là Trời) có trước rồi mãi về sau mới có ĐĐTKPĐ. 

Đấng Cao Đài lập ra ĐĐTKPĐ chớ chẳng phải ĐĐTKPĐ lập ra Đấng Cao Đài. Cho nên người có hiểu biết tường tận viết ĐĐTKPĐ hay Đạo Cao Đài chứ không bài giờ viết ngược lại là Đạo Cao Đài hay ĐĐTKPĐ. Nói rõ như vậy để thấy rằng không có tôn giáo nào có danh hiệu đạo Tam kỳ Phổ độ như tác giả viết.

Chưa kể, tác giả tìm cách xuyên tạc Tân Luật khi tại trang 45, tự tiện thêm vào câu “cấm quan hệ tình dục”, dù rằng, Tân luật Phần Đạo pháp không có câu đó, giáo lý đạo Cao Đài không có khoản nào kêu gọi người đạo phải tuyệt dục hay diệt dục. 

“Thượng thừa cao hơn hạ thừa, bao gồm tất cả những ai cống hiến cuộc đời cho đạo như các chức sắc và các tín đồ, họ bắt buộc ăn chay trường, mặc quần áo theo sắc phục qui định của đạo và cấm quan hệ tình dục.” (trang 45) 

Tại trang 48: “Hộ Pháp Phạm Công Tắc không thừa nhận cơ bút chỉ định Nguyễn Ngọc Tương thay Lê Văn Trung làm Giáo tông. Nguyễn Ngọc Tương bỏ về Bến Tre lập Ban Chỉnh Đạo.” 

Rồi trang 79, 80 lại nhấn mạnh: “Phủ nhận phong sắc Giáo tông cho Nguyễn Ngọc Tương. Vì thế ông đã từ bỏ Tây Ninh về Bến Tre lập đạo.” 

Sự thật là ông Tương tách khỏi Tây Ninh rồi sau đó mới cầu cơ ở Bến Tre tự thăng lên Giáo Tông của Ban Chỉnh Đạo. Cả hai đều sai với sự thật. 

Trang 102 ghi rằng: “Nguyễn Văn Tương (tín đồ đầu tiên và được tấn phong Thượng Đầu Sư sau bỏ ra làm Giáo Tông Ban Chỉnh Đạo Cao Đài Bến Tre)... đã hé một phần sự thật: sau bỏ ra làm Giáo Tông Ban Chỉnh Đạo Cao Đài Bến Tre.” 

Nhưng lại sai ở hai điểm khác, một là chữ lót của ông Tương là chữ Ngọc (còn chữ Văn là Ngài Thượng Chưởng Pháp: Nguyễn Văn Tương. Cả hai ông cùng có thánh danh là Thượng Tương Thanh). Thứ hai Ông Nguyễn Ngọc Tương được tấn phong Chánh Phối Sư phái Thượng. Khi Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt lên Giáo Tông Ngài Tương mới được phong Thượng Đầu Sư). 

Trang 177 dòng 10: Được bầu thay thế Giáo tông Lê Văn Trung, nhưng bị lật đổ và cấm vào Tòa Thánh Tây Ninh. (Phụ lục về Nguyễn Ngọc Tương). 

Sự thật là ông Tương lật đổ Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt không được rồi mới lui về Bến Tre hiệp với ông Lê Bá Trang (Chánh Ngọc Phối Sư lên Chưởng Pháp phái Bến Tre) lập ra chi phái Bến Tre (Ban Chỉnh Đạo). Sau đó ông Tương mới tập hợp số người ủng hộ ông bầu ông làm Giáo Tông của chi phái Bến Tre. 

Sau đó Ông Lê Bá Trang mất ông Trang đưa về Tòa Thánh Tây Ninh. Ông mặc thiên phục theo phẩm Giáo Tông của chi phái Bến Tre vào Đền Thánh để hợp thức hóa phẩm mới của ông. Ban nghi lễ và trật tự phát hiện yêu cầu ông phải mặc thiên phục đúng hàng phẩm; ông từ chối không vào chớ chẳng có ai cấm ông vào Tòa Thánh được hết. 

Về nguyên tắc phẩm trật chức sắc là do thiêng liêng ban thì chỉ có thiêng liêng mới có quyền rút phẩm. Thiêng liêng chưa xuống lịnh rút phẩm lại thì không một quyền nào có thể cấm họ mặc thiên phục vào đảnh lễ Đức Chí Tôn cả. 

Tóm lại, do ông Tương không chịu mặc thiên phục đúng hàng phẩm để kỉnh lể Đức Chí Tôn nên không được vào chớ chẳng có ai cấm ông Tương hết. Tác giả không hiểu nên viết cấm ông Tương vào Tòa Thánh là oan cho đạo. 

Bịa ra nhân vật để bôi xấu hộ pháp Phạm Công Tắc

Nhà nghiên cứu Trần Thu Dung tác giả cuốn sách Đạo Cao Đài & Victor Hugo viết: 

....Vidal càng trở nên thân tín và chỉ đạo Hộ Pháp Phạm Công Tắc, khi kết hôn Phạm Thị Tốt – con gái của Phạm Công Tắc. Phạm Thị Tốt vừa là thành viên của FB3 vừa là Đầu Sư của Đạo Cao Đài. Chức Đầu Sư là chức sắc lớn nhất của phái Nữ trong Đạo Cao Đài. Bà đã biến Phạm Môn thành nơi tập hợp kín của các thành viên FB3. Hộ Pháp Phạm Công Tắc chẳng nhẽ không có mặt ở Phạm Môn hàng ngày làm việc, không biết gì về hoạt động của tổ chức bí mật này (trang 151).

Tiếp đó, trang 152 còn cho rằng: Nguyễn Phan Long phụ trách liên hòa Tổng Hội – một chi nhánh của Đạo Cao Đài là nhân chứng cho đám cưới của Vidal và Phạm Thị Tốt. Cha đở đầu của Pierre Vidal (con trai của Vidal và P.T.Tốt)

Vậy sự thật như thế nào? Ông Vidal là ai? Theo tác giả Trần Thu Dung viết tại trang 151 thì câu chuyện diễn ra từ năm 1928 đến 1946. Louis Vidal là nhân vật cao cấp của Hội Tam Điểm. Ông Vidal có thật hay không, chức vụ của ông thế nào thì chúng tôi không rõ nên không luận tới. Nên sẽ làm rõ bằng những gì chúng tôi biết chắc thật 100%.

Đó là ông Phạm Công Tắc (1890-1959) có người con gái nào tên Phạm Thị Tốt hay không?

Ông Phạm Công Tắc có 02 người con gái. Người chị tên Phạm Hồ Cầm (thường gọi là cô Ba Cầm), có lập gia đình riêng là Hiền Tài Ban Thế Đạo (ít tham gia đạo sự). Người em tên Phạm Tần Tranh (thường gọi cô Tư Tranh), không có gia đình riêng (không kết hôn lần nào). 

Năm 1954 Quốc Trưởng Bảo Đại mời Đức Hộ Pháp (là cố vấn Quốc Trưởng) đi Paris và sang Thụy Sĩ dự Hội nghị Geneve về Việt Nam năm 1954. Âu Du Ký của Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa chép công việc ngày 11/07/1954 cho thông tin. Ngài có nhận một cô gái Pháp nghèo tên Magda Purro, 28 tuổi làm con nuôi. Cô là người làm công cho Hotel Régina và là một trong số bốn người hay lên xuống bưng thức ăn cho phái đoàn. Cô mồ côi cha mẹ sớm, có ba em, Cô phải nghỉ học để đi kiếm chuyện làm lấy tiền nuôi em. Cô Magda Purro năm 1954 được 24 tuổi thì không phải là cô Phạm Thị Tốt từ năm 1928 đến 1946 trên đây. Đó là điều chắc chắn.

Tóm lại trong hai người con gái của ông Phạm Công Tắc không có ai tên Phạm Thị Tốt cả. Rõ ràng là nhà nghiên cứu Trần Thu Dung đã hô biến ra cô Phạm Thị Tốt. 

Và nếu cô dâu Tốt không có thật thì cuộc hôn nhân cũng là bịa đặt. Con gái ông Phạm Công Tắc lên đến phẩm Đầu Sư cũng là bịa ra. Ông Nguyễn Phan Long là nhân chứng cho cuộc hôn nhân nầy là bịa ra. Bé Pierre Vidal cũng là bịa ra. Nhà nghiên cứu đã vào vai người mẹ đẻ của nhiều điều không có thật chỉ cần hô biến ra cô Phạm Thị Tốt là tạo được những điều bịa trong chưa đầy một trang sách.

Nhà nghiên cứu bịa ra với dụng ý xấu hay tốt cũng đều không đáng có trong một tác phẩm nghiên cứu. Trường hợp nầy là bịa ra để nói xấu Hộ Pháp Phạm Công Tắc (chịu sự chỉ đạo của ông Louis Vidal) là điều đã rõ ràng. 

Mất phương hướng và cưỡi ngựa xem hoa

Tại trang 141 tác giả viết: ...Sự liên quan từ hội Tam Điểm còn thấy rõ, tại sao Hộ Pháp Phạm Công Tắc khi còn là công chức toan bỏ trốn đi Nhật, tổ chức sinh viên đi du học Nhật, bị bại lộ phải trốn về Tây Ninh, tuy ẩn trốn lại được nhận vào làm thư ký nhà đoan, rồi công khai ra mở đạo được là điều bí ẩn khó giải thích. 

Sự thật thế nào?

Tại trang 174 phần phụ lục cuốn sách (về Phạm Công Tắc) viết: Năm 17 tuổi bị chính quyền thuộc địa lùng bắt vì tham gia đưa sinh viên đi du học Nhật.

Phụ lục đã viết đúng sự thật nhưng chưa đủ để soi rọi hai chữ bỏ trốn hay ẩn trốn dùng cho ông Tắc trong trích đoạn trang 141 có công bằng hay không?

Tại trang 57 của cuốn sách viết rõ, năm 17 tuổi ông bỏ học tham gia một tổ chức bí mật gởi sinh viên đi du học bên Nhật. Ông cũng toan tính đi nhưng việc bị chính quyền thuộc địa phát giác, ông trốn về sống ở Tây Ninh. 

Đoạn nầy cũng không viết rõ tổ chức bí mật đó tên gì? Ai lãnh đạo để tạo môi trường thích hợp cho chữ trốn. Do đó, muốn sáng tỏ phải xác định được: việc làm đó là quyết định cá nhân hay chủ trương tổ chức? Tổ chức đó tên gì? Đưa sinh viên du học hay tư lợi? Đi du học với mục đích gì? 

Quay trở lại lịch sử, vào đầu năm 1905, chí sĩ Phan Bội Châu sang Nhật rồi quay về dấy lên một phong trào Đông Du vào năm 1905-1908. Ông đã tổ chức Công hiếu hội, tập hợp 200 lưu học sinh Việt Nam sang Nhật học tập chính trị, khoa học, quân sự. Như vậy năm 17 tuổi (1907) ông Phạm Công Tắc đi Nhật trong phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan là một nhà chí sĩ, một nhà ái quốc chân chính, danh thơm lừng lẫy như vậy đi theo tiếng gọi của cụ phải là người cùng chí hướng với cụ.... Ông Tắc đi du học hay vận động đưa sinh viên đi du học là vì công nghĩa. Động cơ là học sách lược canh tân của người Nhật, học khoa học kỷ thuật của Nhật đem về truyền bá để nâng cao dân trí cuối cùng là cởi ách độ hộ của thực dân Pháp. 

Tác giả liệt kê 73 đầu sách tham khảo trong đó rất nhiều đầu sách viết rõ ông Phạm Công Tắc tham gia phong trào Đông Du. Vậy việc che dấu hai chữ Đông Du là vô tình hay cố ý? Nhà nghiên cứu đứng trên lập trường của thực dân hay lập trường của dân tộc Việt Nam khi viết như vậy? Bà dùng chữ trốn đối với ông Phạm Công Tắc trong trường hợp nầy có công bằng hay không? Có ác ý chi không?

Ngoài ra, tác giả đã cưỡi ngựa xem hoa trong nhận định lịch sử Đạo Cao Đài. 

Đầu tiên là công khai mở đạo, chúng tôi nhận thấy có 02 cách lý giải: Cách của tôn giáo và cách của chính quyền hiện nay qua Bản Án Cao Đài ngày 20/07/1978. Nay nhà nghiên cứu Trần Thu Dung lại ban cho cách mới. Xin trình bày vắn tắc.

Cách của tôn giáo: Ngày 25/04/1926 ông Phạm Công Tắc được Đức Cao Đài phong phẩm Hộ Pháp.

Ngày 29/09/1926, ông Cựu Thượng Nghị Viện Lê Văn Trung (thọ phẩm Đầu Sư phái Thượng) theo lịnh của Đức Chí Tôn hiệp với chư Ðạo Hữu hết thảy là 247 người tại nhà ông Nguyễn Văn Tường đứng tên vào Tịch Ðạo để khai Ðạo với Chánh Phủ. Đến ngày 07/10/1926, gởi Tờ Khai Đạo lên Chánh Phủ cho quan Nguyên Soái Nam Kỳ là ông Le Fol. Trong tờ nầy có 28 người đứng tên thay mặt cho cả chư Ðạo Hữu có tên trong Tịch Ðạo. 

Trong khi đó, tại trang 177 nhà nghiên cứu viết "Đơn xin khai Đạo" là rất sai. Xin thì phải chờ chính quyền cho phép. Còn "Tờ khai Đạo" thì báo cho chính quyền biết mà không phải lệ thuộc vào sự cho phép của họ. Cách hô biến "Tờ khai Đạo" thành "Đơn xin khai Đạo" là cách thức để hạ thấp giá trị đối tượng, làm mất tính khách quan trong nghiên cứu. 

Thứ hai, tại trang 141 cho biết: ... từ năm 1926 đến năm 1940 chỉ trong vòng 14 năm đạo Cao Đài đã xây được Tòa Thánh hoành tráng ở Tây Ninh, Phnôm Pênh và một số Tỉnh khác. Ai là người đã trợ giúp ngân sách xây dựng? Việc công quả đóng góp của của các tín đồ không thể nhiều được như vậy vì người châu á vốn nghèo, việc công quả, quyên góp để xây chùa rất khó khăn. Mặc dù đại đa số người Việt Nam theo đạo Phật.

Theo tác giả thì đây là tác phẩm nghiên cứu và chỉ trình bày đúng sự thật (Lời Tựa ở trang 6). Đúng sự thật thì phải chính xác. Vậy đoạn trên có chính xác hay không?.

Đền Thánh hiện nay trước kia là Thánh Thất tạm (làm bằng gỗ). Đến năm 1936 mới khởi công xây bằng vật liệu kiên cố như hiện nay. Số tiền ban đầu là 01 đồng 46 xu (01đ46). Giá lúa lúc đó là 0đ20 một giạ (40 lít). Thời điểm đó kinh tế bắt đầu suy thoái và lan rộng để đi đến đệ nhị thế chiến (1939-1945). 

Tòa Thánh được xây dựng từ đức tin, trái tim và trí óc của người đạo mà ra. Người công quả chính thức xây Tòa Thánh phải lập thệ: trường trai và thủ trinh trong thời gian công quả. Từ tinh thần đó người công quả tạo ra vật chất không phải là nan giải. Tạo như thế nào? 

Phước Thiện và Phạm môn tổ chức làm ruộng, trồng trĩa để có lúa gạo, thực phẩm... người đi làm thuê tranh thủ kiếm mớ rau rừng đem về hiến cho công quả, sau cơm chiều Hội Thánh kêu gọi làm công quả 02 giờ (120 phút) hay 03 giờ (180 phút) được ghi một ngày công quả.

Những người làm công quả cho biết thiếu sắt thì lấy tre gai thật già, hay tầm vông thật già chen vào. Xi măng rất ít nên lấy vỏ cây ô dước đập mềm, xay nhuyễn, mật rĩ, vôi... trộn vào... xây cả tuần hay mười ngày sau mới cứng. Trí óc, bàn tay người công quả tạo nên từng viên gạch, góp nhóp từng hòn đá... Tiền bạc chỉ là phần thứ yếu trong kiến trúc Tòa Thánh (các nhà buôn cũng sẳn lòng bán thiếu cho Hội Thánh). Năm 1941 xây dựng được phần thô thì Pháp bắt Đức Hộ Pháp đày đi Madagascar. Thời gian nầy Pháp chiếm Tòa Thánh làm trại lính và nhốt ngựa ngay trong Đền Thánh. Năm 1946 tình thế thay đổi Pháp đưa Đức Hộ Pháp về và tiếp tục xây dựng Đền Thánh. 

Giai đoạn nầy Quân Đội Cao Đài đã trích phần lương ít ỏi của họ để góp phần công quả tạo tác, đến năm 1955 mới khánh thành. Đó là chấm phá vài nét việc xây dựng theo tôn giáo: Đức tin một khối tạo nên hình chính là câu thơ tả cảnh xây dựng Đền Thánh.

Bản án Cao Đài ngày 20/07/1978 trang 13 có viết rõ ràng: Nguồn viện trợ của đế quốc rất quan trọng, nó là cơ sở để có vốn mở rộng kinh doanh kinh tế, xây cất các dinh thự, đài phát thanh, viện Đại học, bệnh viện, chợ búa. Hằng năm, thu nhập hàng trăm triệu đồng tiền cũ. Dựa vào các nguồn thu thập, một số chức sắc cao cấp và trung cấp tham ô, ăn cắp để xây dựng nhà cửa, tạo ra những cơ sở kinh doanh làm giàu riêng cho mình. 

Vì vậy, tài sản, dinh thự, các cơ sở kinh doanh của Hội Thánh không phải là của riêng ai, mà là tài sản của đế quốc đã rút chạy để lại, là của nhân dân lao động đóng góp. Nhân dân lao động cần phải quản lý sử dụng đẩy mạnh sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Như vậy, dù theo cách tôn giáo hay cách của chính quyền hiện nay cũng không có chi bí ẩn.

Việc nhà văn, nhà nghiên cứu Trần Thu Dung đặt câu hỏi lập lờ kiểu, "Ai là người đã trợ giúp ngân sách xây dựng?" đến những nghi vấn sau đó, rồi lấy sự việc của Thánh Thất Cao Đài ở Cao Miên về gán cho Tòa Thánh Tây Ninh sau đó cột vào hội Tam Điểm... Cho thấy, nó không xuất phát từ một nhà nghiên cứu nghiêm túc mà nó mang màu sắc hình sự, định kiến thông qua gán ghép và áp đặt vấn đề. 

Và trong 73 đầu sách tham khảo, tác giả liệt kê không có Bản Án Cao Đài ngày 20/07/1978 nhưng cách đặc vấn đề và giải quyết nó rất gần nhau đó là ngẫu nhiên hay không ngẫu nhiên?

Và dù, tác giả cho rằng, "cuốn sách nầy ra đời nhằm giúp bạn đọc hiểu được nguyên nhân phong thánh của nhà văn thiên tài nầy và một phần sự phát sinh Đạo Cao Đài ở Việt Nam", cũng như tác giả "sẽ viết theo sự thật và dựa trên văn bản, đó là tư cách một nhà nghiên cứu." Tuy nhiên, ở một số chi tiết giáo lý và sự kiện, tác giả đã cố tình bẻ cong nó.

Vậy nội dung tác phẩm có thể hiện đúng như tác giả xác định hay là tác giả đi vào lãnh vực khác (không hề giới thiệu) là giáo lý và pháp luật hay một số sự kiện khác để bẻ cong sự việc hay ám sát nó. 

Sai sự kiện Đức Hộ Pháp sang Campuchia năm 1956

Tác giả viết: 

./ Trang 57: Năm 1956 ông ẩn trốn sang Campuchia và mất tại đó (17-05-1959) 

./ trang 77: Vì lý do chính trị, ông ẩn trốn sang Campuchia sống, nên các buổi thông linh với V. Hugo chấm dứt hoàn toàn 

./ trang 156: Thừa Sử Lê Quang Tấn người đã từng phò tá Phạm Công Tắc sang ẩn trốn ở Campuchia.

Sự thật là sau khi quốc gia hóa quân đội Cao Đài (02/05/1955) ông Ngô Đình Diệm muốn thực thi chế độ độc tài gia đình trị nên ra kế hoạch truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại. Đức Hộ Pháp là người đề xướng việc rước cựu hoàng từ Hongkong về làm Quốc Trưởng (1947) nên họ Ngô thấy rằng Ngài là trở ngại lớn trong chương trình gia đình trị. Cho nên họ Ngô phải diệt trước khi mở cuộc trưng cầu dân ý. 

Ngày 16-02-1956 Đức Hộ Pháp đi Nam Vang để tránh nạn cốt nhục tương tàn làm suy yếu miền Nam. 

Theo Âu Du Ký do Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa ghi lại sự việc ngày 05/07/1954 (lúc 19 giờ) tại Versoix (Génève) là trụ sở của phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong khi họp Đức Ngài nói thẳng với Thủ Tướng Phạm Văn Đồng rằng: "Cái công kháng-chiến của Việt Minh, quốc-dân không quên, nhưng phải làm thế nào cho cuộc giải-phóng dân-tộc cho trọn vẹn chớ đừng gở ách này rồi mang cái gông khác hay là đuổi cậu Pháp rồi rước chú Tàu về thì không ăn thua gì và quốc-dân sẽ phán-đoán việc đó)." 

Khi sang Campuchia Ngài đã công bố Cương Lĩnh Hòa Bình Chung Sống (HBCS) ngày (26/03/1956) đề xuất hai miền Nam – Bắc Việt Nam phải thực thi quyền tự quyết dân tộc bằng cuộc Tổng Tuyển Cử có sự giám sát của Liên Hiệp Quốc theo Hiệp Định Génève 1954 về Việt Nam, để tránh nạn nồi da xáo thịt. 

Sau đó Ngài gởi thư cho ông Ngô Đình Diệm, Ông Hồ Chí Minh, các tôn giáo bạn, nguyên thủ một số quốc và Liên Hiệp Quốc, để thông báo Cương Lĩnh HBCS với mong muốn việc Tổng tuyển cử được thực hiện. Ngài cũng tổ chức cho phái đoàn ông Lê Văn Thoại dựng cờ HBCS tại cầu sông Bến Hải ngày 18-5-1956. 

Một số Đài phát thanh, nhựt báo, Thông tấn xã cũng đã đến phỏng vấn Đức Ngài. Chính quyền Miền Bắc cũng gởi thư mời Ngài ra thăm... Vậy tác giả dùng chữ ẩn trốn có đúng không? Có ác ý Đức Hộ Pháp không? 

Trang 77 nhận định, “nên các buổi thông linh với V. Hugo chấm dứt hoàn toàn lại” là điều sai 100%. Văn Tịch Pháp Nhơn Luân Chi Đạo trang 68 dòng 06 cho biết ngày 19-9-1956 Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn cho Đức Hộ Pháp biết chính Ngài báo tin Apothéose (nghĩa là 07 tháng sau khi Đức Hộ Pháp di Nam Vang) và còn nhiều đàn cơ khác.

Tại trang 57 có viết: Nhưng trước đó, từ năm 1940 không thấy tổ chức cầu cơ, có thể do đi đày ải, trở về già nua bệnh tật tình hình chính trị không cho phép, nên việc cầu cơ như chấm dứt cho đến nay.

Đoạn này, cái saii lớn nhất là Đức Hộ Pháp bị thực dân bắt năm 1941 và đày đi Madagascar đến 1946 mới về (hơn 05 năm chớ không phải 04 năm như dòng 20 cùng trang viết), cũng như mâu thuẫn với trang 77.

Rồi tác giả bắt đầu nêu ra quan điểm đối với lịch sử và sự phát triển của Đạo Cao Đài rằng:

“Đạo Cao Đài ngày nay có xu hướng sẽ bị suy đi, vì nhiều lý do. Luật của Đạo đề ra, mọi việc phong phẩm vị hay phê chuẩn nhất nhất phải qua cầu cơ xin ý của Thầy. 

Các tín đồ trẻ con cháu các chức sắc Cao Đài, do hoàn cảnh chính trị không dám công khai phá vỡ luật lệ của Đạo”. (trang 171)

“Tự hào về ông cha, các tín đồ nên mạnh dạn duy trì, và đứng ra thay đổi luật đạo. Đạo nào cũng vậy, trong quá trình tiến triễn của lịch sử, nhiều luật lệ phải bổ sung và thay đổi để phù hợp với tình hình mới.” (trang 172) 

“Tại sao các tín đồ trẻ không theo gương bậc chức sắc tiền bối, cách tân luật lệ để đạo Cao Đài phát triễn và lan rộng?” (trang 173) 

Thực tế là ngày 09/05/1997 chính phủ đã giúp cho chi phái 1997 ra đời. Chi phái nầy đem banh vàng xanh đỏ vào cung Đạo thay cho cơ bút rồi nhà nghiên cứu không biết hay sao mà còn hô hào đừng chờ Thầy hay các Đấng nữa. 

Tiền bối của Đạo có 02 diện, một là tuân theo Pháp luật đạo, chấp nhận chỉ có 03 Đấng có quyền phong thưởng là Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông và Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn. Diện thứ hai tách ra để cầu cơ rồi tự phong Đạo luật Mậu Dần (1938) gọi là chi phái phản đạo. 

Nhà nghiên cứu về Đạo Cao Đài mà không biết lời minh thệ khi nhập môn cầu đạo: "Tên gì? Họ gì? Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao - Đài Ngọc - Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn - Đệ, gìn luật lệ Cao - Đài, như sau có lòng hai thì Thiên - tru, Địa - lục". 

Lời minh thệ (gìn luật lệ Cao – Đài) như một tiền đề căn bản mà mọi cái sau đó không được trái hay mâu thuẩn với nó. Lại kêu gọi phá tan pháp luật đạo thì đích thị là sự thiển cận trong nghiên cứu. 

Một nhà nghiên cứu tôn giáo mà không biết tiền đề căn bản (là lời minh thệ khi nhập môn cầu đạo) thì khác nào người học hình học phẳng mà không biết tiền đề Euclid. 

So với Bản Án Cao Đài thì tác phẩm nầy đánh phá rất tinh vi và đi vào lãnh vực mà Bản Án không tiện đề cập tới. 

Việc kêu gọi phá pháp luật đạo được chuẩn bị rất kỷ khi tác giả phê bình Ngài Victor Hugo khi sống rất giàu lòng nhân ái tha thứ hết, cớ sao khi là một vị Thánh của đạo Cao Đài lại buộc người đạo phải tuân y pháp luật đạo? 

Xin thưa bởi vì Ngài chấp nhận tiền đề cơ bản, “gìn luật lệ Cao – Đài [...] nên buộc người đạo đừng vi phạm.” 

Lời kết 

Trong tác phẩm Đạo Cao Đài và Victor Hugo có nhiều viên thuốc độc dấu rãi rác trong những chỗ kín đáo mà không phải bạn đọc nào cũng phát hiện ra. Trong trách nhiệm của một người đạo chúng tôi may mắn nhận ra và đã chứng minh rất minh bạch. 

Tác phẩm nghiên cứu mà vi phạm những nguyên tắc rất cơ bản và bịa đặt để nói xấu tôn giáo thì chúng tôi có trách nhiệm chứng minh trước công luận; tác giả nên ý thức mà chỉnh đốn. 

Là người Đạo Cao Đài chúng tôi hoan hỉ đón nhận tất cả văn bút của những hiền nhân quân tử liên quan đến tôn giáo. Văn bút có đúng, có sai là chuyện thường tình; không có chi đáng trách. Đó là một vinh dự cho đạo. Chúng tôi hoan nghinh sự phản biện của tác giả hay đọc giả về các vấn đề đã nêu ra lẫn những vấn đề chưa được

* Ông Trần Văn Tân, đại diện Ban thông tin Khối Nhơn Sanh.
http://www.ijavn.org/2015/07/vntb-sach-ao-cao-ai-victor-hugo-cau-tha.html