Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Tấn công bằng dao tại Y viện Quân đội: 7 người thiệt mạng


Bệnh viện quân đội 301 ở Bắc Kinh, ngày 20/11/2014, một đầu bếp làm việc trong một bệnh viện quân đội ở tỉnh Hà Bắc đâm đã tử vong 6 y tá và 1 quản lý. (Ảnh: Liu Jin/Getty Images)
Đầu bếp, 27 tuổi, đã tấn công một bệnh viện quân đội ở tỉnh Hà Bắc, miền Bắc Trung Quốc vào hôm 20/11, khiến 6 y tá và 1 quản lý tử vong, theo báo cáo của chính quyền địa phương và các phương tiện truyền thông nhà nước.

Theo thông tin từ cảnh sát, Lý Tiểu Long đã bị bắt ngay sau khi gây ra vụ tấn công tại ký túc xá nữ của một bệnh viện. Lý đã sử dụng một con dao để đâm 8 nạn nhân, khiến 7 người thiệt mạng do viết thương. Là một đầu bếp của bệnh viện, Lý biết cách sử dụng dao và tấn công điên cuồng vào phần thân bên trái nạn nhân. 

Thay vì chạy trốn, Lý trở về phòng ký túc xá của mình sau vụ tàn sát.

Ngoài bản chất tàn bạo của vụ việc, cư dân mạng cho rằng Lý có tên giống như Buce Lee (Lý Tiểu Long), bậc thầy môn võ thuật huyền thoại ở Hồng Kông.

Nơi xảy ra vụ việc là Bệnh viện Quân đội Giải phóng Nhân dân 281 nằm ở bờ biển thành phố nghỉ mát của Bắc Hải ở Tần Hoàng Đảo. Văn phòng Công an thành phố cho hay, Lý được cho là có tiền sử mắc bệnh tâm thần.

Dường như, không có xung đột nào trước đó giữa Lý và các nạn nhân, tuyên bố cho biết thêm.

Tình trạng bạo lực leo thang tại các bệnh viện Trung Quốc trong những năm gần đây phản ánh thực trạng hệ thống y tế của quốc gia này. Bệnh nhân thường không hài lòng với dịch vụ và phương cách điều trị, cùng với những khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp.

Số vụ bạo lực trung bình xảy ra ở bệnh viện là 27,3 vụ vào năm 2012, cao hơn so với năm 2008 là 20.6 vụ, theo một cuộc khảo sát của Hiệp hội Bệnh viện Trung Quốc.

Thậm chí, nhân viên y tế còn được huấn luyện võ thuật để tự vệ trước các bệnh nhân hung dữ.

Chính quyền Trung Quốc duy trì kiểm soát chặt chẽ việc phân phối vũ khí, nhưng điều đó không ngăn chặn nhiều vụ tấn công bằng dao. Chỉ tính riêng trong năm 2010, đã có bốn vụ tấn công bằng dao nhằm vào mục tiêu các trường học và trường mầm non khiến 21 người thiệt mạng, hầu hết là trẻ em.

   Leo Timm

(Đại Kỷ Nguyên)
http://www.ijavn.org/2014/11/tan-cong-bang-dao-tai-benh-vien-quan-y.html

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Chiếm đèo Hải Vân, kẻ xấu có thể chia đôi đất nước


QUỐC TOẢN
(GDVN) -Trung tướng Nguyễn Quốc Thước kịch liệt phản đối cấp phép cho dự án khu du lịch tại khu vực đèo Hải Vân bởi vị trí đặc biệt quan trọng về An ninh – Quốc phòng.
Việc UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp phép cho Công ty CP Thế Diệu (thuộc Công ty TNHH World Shine Hong Kong) triển khai dự án Khu Du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine ở khu vực Cửa Khẽm – vị trí nằm trên đèo Hải Vân, đã tạo nên những phản ứng trái chiều.
Sự đơn phương cấp phép này đã gây ra sự bất bình trong dư luận nói chung và sự phản đối quyết liệt từ phía các ban, ngành, chức năng thành phố Đà Nẵng. Lý do được đưa ra là dự án đã được cấp phép ngay trên khu vực chưa thống nhất phân định địa giới hành chính giữa tỉnh Thừa Thiên – Huế và thành phố Đà Nẵng. Mặt khác nơi đây được đánh giá khu vực có vị trí trọng yếu về An ninh - Quốc phòng.
Khu vực mà BQL Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế) cấp giấy phép đầu tư dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine cho Công ty CP Thế Diệu
Về việc này, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tư lệnh Quân khu IV đã bày tỏ quan điểm kịch liệt phản đối việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án, đồng thời cho rằng, khu vực Cửa Khẽm – vị trí nằm trên đèo Hải Vân là nơi có tầm đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ An ninh – Quốc phòng của đất nước.
“Tôi nghe các đồng chí chính quyền Thừa Thiên - Huế nói đây là khu vực đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho tỉnh làm kinh tế. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc trao dự án cho người nước ngoài ở một khu vực xung yếu, có vị trí chiến lược về An ninh – Quốc phòng để họ làm kinh tế. Làm kinh tế mà để ảnh hưởng đến An ninh - Quốc phòng thì nhất quyết là không được”, Tướng Thước nêu quan điểm.
Nói về vị trí và tầm chiến lược của khu vực đèo Hải Vân trong các giai đoạn lịch sử, nguyên tư lệnh Quân khu IV phân tích: "Đèo Hải Vân trong đó có núi Bạch Mã với độ cao hơn 1.000m, là khu vực hành chính tiếp giáp giữa Quân khu IV và Quân khu V. Đây cũng là khu vực mang tính chất quân sự, một vị trí chiến lược hiểm yếu trong hệ thống phòng thủ của đất nước".
Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước 
Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước nhấn mạnh thêm: “Khu phức hợp du lịch nghỉ dưỡng Lăng Cô-Việt Nam nằm trong khu vực Cửa Khẽm, không chỉ đơn thuần chỉ là dự án về kinh tế, mà sâu xa hơn là mục đích chính trị lâu dài, nhất là trong thời điểm giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có những bất đồng liên quan đến vấn đề biển đảo. Do vậy, hơn bất cứ lúc nào, bằng mọi giá cũng không thể giao vị trí trên cho chủ đầu tư Trung Quốc hay bất cứ nước nào, tham gia hoạt động kinh tế tại khu vực trọng yếu về An ninh - Quốc phòng này được". 
“Bài học lịch sử 2 lần dân tộc ta bị chia cắt vẫn còn đó. Thời nhà Nguyễn bị chia cắt ở sông Gianh, đến thời Pháp là khu vực sông Bến Hải. Lúc đó, nhân dân ta cực kỳ đau sót và phải đổ biết bao sương máu, thời gian mới giành lại được toàn vẹn lãnh thổ. Như vậy, đặt trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, nếu bên nào chiếm được khu vực đèo Hải Vân thì sẽ chia cắt toàn bộ lãnh thổ đất nước thành 2 phần, khi đó thì rất khó thống nhất”, Tướng Thước nêu bài học lịch sử.
Từ những phân tích mang tính chiến lược về An ninh – Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đưa ra đề nghị hủy quyết định cấp phép đầu tư dự án, đồng thời cho rằng, cần đề cao cảnh giác trước ý đồ sâu xa của người nước ngoài trong việc cấp phép đầu tư dự án tại vị trí nói trên: “Phải tìm cách hủy quyết định phê duyệt đầu tư dự án. Đừng có thấy lợi trước mắt về kinh tế mà để lại hậu họa cho con cháu về sau…”
Nguồn: Giáo dục Việt Nam
http://www.ijavn.org/2014/11/tuong-thuoc-chiem-eo-hai-van-ke-xau-co.html

Vì sao dối trá ?


Nguyễn Thị Từ Huy

Trước những vấn nạn của đất nước, của dân tộc ngày hôm nay, những người Việt Nam nào còn một chút lương tri, còn có trách nhiệm và còn suy nghĩ đều tự đặt câu hỏi: « vì sao chúng ta đến nông nỗi này ? ». Và đã có không ít người đi tìm nguyên nhân trong căn tính của dân tộc.

Thế nhưng, nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của Phương Tây mà tôi từng có dịp tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi, nói với tôi, với những cách diễn đạt có thể khác nhau, nhưng ý tưởng đều rất thống nhất : Đừng tìm nguyên nhân trong truyền thống dân tộc của các bạn. Vấn nạn của các bạn hiện nay đến từ một mô hình chính trị mà các bạn đã nhập khẩu hoàn toàn từ Phương Tây.

mnDĩ nhiên, mô hình nhập khẩu đó chính là chủ nghĩa cộng sản.

Theo tôi, điều này rất đáng để chúng ta cùng nhau suy nghĩ một cách thấu đáo.

Ở đây, tôi đưa ra một vấn nạn thôi : sự dối trá.

Chúng ta không phủ nhận được một thực tế là dối trá đang trở thành một hiện tượng phổ biến trong toàn xã hội. Ta có thể tìm thấy sự nhận xét đồng thuận về thực tế này trên báo chí cả lề phải và lề trái, hay lề đảng và lề dân, muốn gọi cách nào thì tùy.

Vậy dối trá có phải là truyền thống của người Việt Nam không, có bắt nguồn từ truyền thống của chúng ta không ? Câu trả lời của tôi là : KHÔNG !

Chúng ta hãy đọc câu này :

« … cách mạng cộng sản luôn luôn là một sự tình cờ có tính lịch sử và một sự lừa dối vĩ đại (tôi nhấn mạnh - NTTH). Theo một nghĩa nào đó thì lí do như sau: không có cuộc cách mạng nào lại đòi hỏi những hoàn cảnh đặc biệt đến như thế và cũng không có cuộc cách mạng nào hứa nhiều như thế mà lại làm ít đến như thế.

Thói mị dân, những lời nói quanh co, không nhất quán là đặc trưng của các lãnh tụ cộng sản, nhất là khi họ buộc phải hứa hẹn một xã hội siêu lí tưởng và “thủ tiêu tất cả áp bức, bóc lột”."

Người viết đoạn văn này là một lãnh tụ cộng sản cao cấp, đã phải vào tù vì chống lại chính chủ nghĩa cộng sản, vì đã sớm nhận thức được tính phi nhân và sự sụp đổ tất yếu của mô hình cộng sản chủ nghĩa. Đó là Milovan Djilas, cựu phó tổng thống Nam Tư, mà tôi từng nhắc đến vài lần.

Tôi dùng trích dẫn này để chúng ta thấy rằng chính những người cộng sản nói về chủ nghĩa cộng sản như vậy, chính những người cộng sản đã nhìn ra rằng chủ nghĩa cộng sản và sự dối trá là một ; và để chúng ta thấy rằng dối trá là hiện tượng thuộc về bản chất của các xã hội cộng sản trên toàn thế giới. Sự dối trá ấy hoàn toàn không liên quan gì đến truyền thống dân tộc của chúng ta. Trái lại sự dối trá nhập khẩu này đang làm biến dạng tính cách dân tộc của chúng ta. Chúng ta cần cứu lấy dân tộc tính và truyền thống của mình, trước khi quá muộn.

Nếu theo dõi các phân tích mà Djilas tiến hành trong cuốn « Giai cấp mới » ( mà tôi khuyến nghị là chúng ta nên đọc, đặc biệt là Hội đồng Lý luận Trung Ương và những người làm khoa học xã hội ở Việt Nam nên đọc, để hiểu thực chất của xã hội chúng ta) thì ta sẽ không ngạc nhiên trước những biểu hiện « lừa dối vĩ đại » (tôi dùng lại chữ của Djilas) của các lãnh đạo cao cấp.

Dối trá trở thành nguyên lý vận hành của toàn xã hội. Các lãnh đạo, dĩ nhiên, theo phân tích của Djilas, không còn cảm thấy xấu hổ khi nói dối. Lâu dần, không chỉ có các lãnh đạo, mà đến người dân bình thường cũng bị lôi vào và thích ứng với sự dối trá. Các quan hệ xã hội được xây dựng trên sự dối trá. Thậm chí các hiện tượng xã hội cũng được xây dựng trên nguyên lý dối trá này. Các khái niệm không cần phải trùng hợp với nội dung thực tế, nhưng điều đáng nói là tất cả mọi người đều thấy chuyện đó là bình thường. Mỗi người đều thấy việc người khác nói dối là bình thường, việc mình nói dối cũng là bình thường, việc tất cả tham gia vào tấn kịch dối trá của toàn xã hội cũng là bình thường.

Một trong những cách thức để bình thường hóa cái nguyên lý dối trá này là người ta cấp cho mọi sự dối trá cái nhãn hiệu : « kiểu Việt Nam ». Ví dụ nhan nhản, ai cũng có thể cung cấp ngay lập tức. Ở đây tôi chỉ lấy một sự việc : Quốc hội kiểu Việt Nam. Quốc hội có đấy, nhưng không phải do dân chọn (đảng đâu có giấu diếm việc « đảng cử dân bầu »), không làm việc vì lợi ích của dân, cũng không làm việc vì lợi ích của đất nước (hẳn chưa ai quên được rằng trong những ngày dàn khoan Trung Quốc cắm sâu vào lòng mẹ Biển Đông của chúng ta thì Quốc hội Việt Nam không ra nổi một nghị quyết về Biển Đông, họ nhường việc đó cho Quốc hội Mỹ). Rồi bây giờ Quốc hội lại chuyển sang họp kín !!! Vậy thì còn lý do gì cho sự tồn tại của Quốc hội ? Trên thực tế chỉ có cái xác chữ « Quốc hội » tồn tại, cái xác chữ đó không có nội dung. Hàng mấy trăm « đại biểu » ấy không làm nên một Quốc hội thực sự, họ cũng chẳng cần quan tâm xem thế nào là một quốc hội thực sự. Một sự dối trá như vậy được hầu như toàn xã hội chấp nhận một cách bình thường.

Sự dối trá mà chúng ta đang phải chịu đựng hiện nay chính là bản chất của mô hình chính trị mà chúng ta nhập khẩu từ Phương Tây : mô hình chính trị độc đảng cộng sản chủ nghĩa. Mô hình này đã bị chính phương Tây loại bỏ sau khi đã chứng kiến bao nhiêu tội ác, bao nhiêu sự trì trệ, đình đốn và phản tiến bộ do nó gây ra.

Nếu không quyết liệt chống lại sự dối trá đang trở thành phổ biến hiện nay, chúng ta sẽ đánh mất dân tộc tính, đánh mất bản sắc, đánh mất truyền thống, và mất nhiều thứ khác nữa. Và muốn chống lại sự dối trá trên phạm vi toàn xã hội, thì mỗi cá nhân phải có khả năng chống lại sự dối trá đã dần dần định hình trong tính cách của mình.

Chúng ta có làm được điều đó không ?

Paris, 23/11/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

(Blog RFA)
http://www.ijavn.org/2014/11/vi-sao-doi-tra.html

Tuyên cáo Việt nam độc lập: Báo Nhân dân hay Luật sư Lê Công Định đúng?


Minh Tâm




(VNTB) - “Bởi người Việt Nam am hiểu lịch sử dân tộc đều biết ngày 11-3-1945 Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, ra tuyên bố này khác,... là do sức ép của phát-xít Nhật, qua đó chấp nhận thay thế thế lực ngoại xâm đô hộ này (Pháp) bằng thế lực ngoại xâm đô hộ khác (phát-xít Nhật)”.

Trong bài viết “Sự tráo trở của một người từng là... luật sư!”, báo Nhân Dân đã có đoạn viết như trên, và cho rằng cựu luật sư (LS) Lê Công Định đã “tự chứng tỏ anh ta hoặc là người rất kém hiểu biết lịch sử, hoặc cố tình xuyên tạc lịch sử để phủ nhận một sự kiện, một giá trị quan trọng của đất nước Việt Nam”. Sự kiện “giá trị quan trọng” mà báo Nhân Dân muốn nói đến là ngày 02-09-1945.

Cựu LS Lê Công Định thì cho rằng, ngày 11-3-1945, Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là thời điểm đáng lưu ý... xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11-3-1945.

Góc nhìn Phạm Cao Dương

Giáo sư Phạm Cao Dương, nguyên giáo sư ĐH Sư Phạm Sài Gòn trước 1975; hiện giảng dạy các lớp về Việt Nam tại Dại học University of California Los Angeles. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu sử học như: Thực Trạng Của Giới Nông Dân Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc (VN: Khai Trí, 1967); Thượng Cổ Sử Tây Phương, tập I: Tây Á và Ai Cập. (VN: Trình Bày, 1967); Phi Châu Da Đen (VN: Trình Bày, 1969); Lịch Sử Các Nền Văn Minh Thế Giới, 3 tập (VN, Trình Bày, 1970, 1973); Lược Sử Dân Tộc Việt Nam, tập I (Hoa Kỳ: Truyền Thống Việt, 1987); Vietnamese Peasants under French Domination (Hoa Kỳ, University of Berkeley and University Press of America, 1985)…

Trong khảo luận “Những nỗ lực của cựu hoàng đế Bảo Đại”, GS Phạm Cao Dương, viết:

“Thần dân cũ của ông (tức Bảo Đại) không mấy ai để ý tới sự qua đời của ông, trái với cái chết của một quốc vương khác trẻ hơn ông nhưng đồng thời với ông và cũng phải đối phó với vấn đề độc lập của quốc gia giống như ông sau này. Tôi muốn nói tới Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của xứ Căm Bốt.

Giống nhưng khác với Bảo Đại ở đường lối đấu tranh vì trong đời ông, Sihanouk đã có thời dùng bạo lực để đàn áp đối lập, đã cộng tác với Khmer Đỏ, tổ chức Cộng Sản Căm Bốt chịu ảnh hưởng của Trung Cộng của các lãnh tụ Pol Pot và Ieng Sary, một thời đã mang họa diệt chủng đến cho xứ Căm Bốt khiến cho hàng triệu người dân của xứ này bị tàn sát bằng đủ mọi phương tiện với hàng núi xương được phát hiện, cho đến nay vẫn được bảo tồn coi như di tích của một thời đen tối nhất trong lịch sử của dân tộc Khmer.

Còn Bảo Đại thì tuyệt đối không, kể cả việc ông đã từ chối không chấp nhận cho người Nhật đứng ra bảo vệ lãnh thổ, hoàng cung và an ninh cho chính ngôi vị và bản thân ông, chống lại cuộc nổi dậy của Việt Minh và những người cộng sản hồi tháng Tám năm 1945 theo trách nhiệm giữ gìn trật tự mà quốc tế giao cho họ. Lý do đơn giản là vì Bảo Đại không muốn dùng người ngoại quốc để chống lại người Việt Nam, đồng bào của ông và thần dân của ông”.

Tuyên cáo Việt Nam độc lập

Một nghiên cứu công bố của Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001, trang 83, cho biết:  

Ngày 9-3-1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương biến đổi bất lợi, Pháp chuẩn bị đón quân Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương, Đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp, tống giam nhiều quan chức và tước khí giới của quân đội Pháp tại Đông Dương.

Đại sứ Nhật tại Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Tại Huế, Đại úy Kanebo Noburu trình báo hoàng đế Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại. Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa.

Hai ngày sau, 11-3-1945, hoàng đế Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là Đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để chứng kiến việc tuyên bố Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên cáo có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Nguyễn Phúc Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính.

Ngày 12-3-1945, hoàng đế Bảo Đại lại triệu tập Đại sứ Yokoyama Masayuki và trao cho ông bản tuyên cáo. Kể từ ngày hôm sau 13-3-1945, báo giới khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đồng loạt loan tin Việt Nam độc lập.

Với Dụ số 1 ra ngày 17-3, Hoàng đế nêu khẩu hiệu “Dân vi quý” (Hán-Việt: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Ông giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được Hoàng đế vời ra Huế trao nhiệm vụ thành lập tân nội các, trở thành Thủ tướng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam. Sau đó, vào ngày 18-8-1945, Hoàng đế Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam một lần nữa.

Chính Phủ Trần Trọng Kim đã được thành lập với các bộ trưởng đều là những nhà tân học có khả năng, và đạo đức nổi tiếng đương thời đứng đầu bởi nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, tác giả của những bộ sách Giáo Khoa Thư và nhất là bộ Việt Nam Sử Lược hiện vẫn còn thông dụng, với sự cộng tác của những tên tuổi quen thuộc với học giới đương thời như GS Hoàng Xuân Hãn, LS Vũ Văn Hiền, LS kiêm nhà báo Phan Anh, LS Trần Văn Chương…

Hiệp định Élysée

GS Phạm Cao Dương cho rằng cần ghi nhận công lao của cựu Hoàng đế Bảo Đại về Hiệp định Élysée mà ông đã đạt được ngày 8-3-1949, sau một thời gian dài thương thuyết, dưới hình thức trao đổi văn kiện giữa ông và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol.

Với Hiệp định Élysée, Quốc Gia Việt Nam đã hình thành để những ai không chấp nhận chính quyền cộng sản do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo có chỗ trở về trong danh nghĩa của những công dân của một nước Việt Nam độc lập.

Bắt đầu từ thời điểm 14-6-1949, khi Nam Kỳ trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam và cho đến khi Hiệp Định Genève được thông qua và trở thành có hiệu lực, Chính quyền Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại đã chính thức và hợp pháp kiểm soát những miền đất phía trên vĩ tuyến này, từ Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái… cho tới Hà Tiên và mũi Cà Mau, từ đồng bằng cho tới các cao nguyên do người Pháp chiếm giữ trước đó và trao trả.

“Nên nhớ là với Thỏa Ước Sơ Bộ ngày 6-3-1946, ông Hồ Chí Minh ký với đại diện Cao Ủy Pháp ở Đông Dương Jean Sainteny và Tạm Ước 14 tháng 9 ký với Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet vấn đề thống nhất xứ Nam Kỳ chưa được giải quyết. Nói cách khác Nam kỳ cho tới ngày 14 tháng 6, trước khi được Bảo Đại thu hồi vẫn thuộc quyền cai quản của người Pháp theo các Hòa Ước 1862 và 1874. Sau ngày 14 tháng 6 năm 1954, xứ này mới thực sự trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam, sau này là Việt Nam Cộng Hòa và luôn luôn nằm ngoài lãnh thổ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975”.

GS Phạm Cao Dương, phân tích.

“Tất nhiên, chân lý thuộc về kẻ mạnh, nên khi thắng cuộc người ta có thể diễn giải mọi sự kiện lịch sử theo ý riêng của mình…”, cựu LS Lê Công Định đã viết như vậy, và cũng chính điều này đã khiến ông bị nhiều công kích, trong đó có bài báo “Sự tráo trở của một người từng là... luật sư!” như đã nói ở trên.


---------------------

*Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả 
http://www.ijavn.org/2014/11/tuyen-cao-viet-nam-oc-lap-bao-nhan-dan.html