Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Ngoại giao lôi kéo và tranh thủ

Phạm Kỳ Đăng

Giàn khoan Haiyang Shiyou 981 kéo vào sâu lãnh hải Biển Đông vấp phải sự chống đối quyết liệt của người dân Việt Nam. Lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước bị Trung Quốc khóa chặt các huyệt trọng yếu, cứng họng một thời gian dài, chỉ có Bộ Ngoại giao lên tiếng phản đối kịp thời và kiên quyết nhất.
Giới am hiểu thời cuộc, cho rằng ngoại giao là kênh duy nhất để tranh đấu, “Kẻ yếu thì không có bao nhiêu vũ khí trong tay, ngoại trừ việc dựa vào ngoại giao và luật quốc tế” – nhà nghiên cứu Carlyle Thayer bình luận. Các nước hầu như không can dự một lời, dẫu rằng Việt Nam đã ký hiệp ước đối tác chiến lược với 14 nhà nước gì đó, nhiều trong số đó cả cường quốc. Có điều Việt Nam, từ lâu khẳng định muốn hội nhập, đều không có tiếng nói tương thanh và những thiết chế tương ứng để giao lưu và liên thông với thế giới văn minh – dân chủ, thật vô lý cho đến hôm nay vấn cố duy trì sự lệch pha về tổ chức và nhân sự đối với các đối tác chiến lược còn lại, trừ Trung Quốc.
Các nước hợp tác ấy có muốn bắt tay với Việt Nam cũng không dám, vì các bộ các sở của họ chìa tay tới các cơ quan tương nhiệm của Việt Nam, có khả năng lớn là nắm phải bộ phận đầu Ngô mình Sở, và các quan chức của họ muốn mời chủ nhân đồng cấp sang thăm viếng, lắm khi đón phải con hoang. Thêm một cản trở cực lớn, các nhà nước đối tác với Việt Nam phải dè chừng Trung Quốc. Trung Quốc, tham lam, ngạo mạn và hung đồ không kém gì phát xít, là đối tác chiến lược uy quyền nhất mà lãnh đạo Việt Nam phải triều kiến trước khi đi lại với các nước khác.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng là một thứ đầu Ngô mình Sở đó trong thúc ước luôn luôn phải hoạt động theo cơ chế phản ánh và nhận chỉ thị. Kênh hoạt động này vô cùng hẹp, trong nhiều trường hợp có thể nói là vô tác dụng nữa. Bộ trưởng từ thời sau ông Nguyễn Mạnh Cầm thôi không còn là ủy viên Bộ chính trị, theo tôi hiểu còn đứng thấp hơn ông Trưởng ban Đối ngoại của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Thế cho nên, kiện toàn thành một bộ máy cờ xí kèn quạt rợp trời, các quan chức ngoại giao có hàm bậc cũng mũ áo cân đai, giày bóng, kính mát đủ đường, người Bộ trưởng Bộ Ngoại giao vẫn không thực hiện được đúng chức trách của một Ngoại trưởng. Như thể cơ quan này thân một nơi, đầu một nẻo, trên chặng công vụ rất dễ bị túm tóc gạt sang bên. Trong quá khứ ta đã chứng kiến ông Lê Đức Thọ bất ngờ sang Paris thay vào vị trí ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xuân Thủy bên bàn đàm phán, và gần đây nhất, Ngoại trưởng Mỹ đích danh mời Bộ trưởng Phạm Bình Minh, và thật trái khoáy, sang thăm Mỹ là ông Phạm Quang Nghị.
Và cũng chỉ là một cơ quan nhận chỉ thị, nên trong rất nhiều trường hợp như vừa qua, lời tuyên bố phản đối Trung Quốc xâm lấn lãnh hải của Bộ ngoại giao, sớm bị phản thùng bởi diễn ngôn của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại diễn đàn Shangri-La và bởi lời tuyên bố của ông đại sứ của Việt Nam Lê Hoài Trung tại Liên Hiệp Quốc đang có nhã ý làm trung gian hòa giải xung đột Trung Quốc – Việt Nam, cũng là nơi ngành ngoại giao vươn ra xa nhất. Và cất cao tiếng nói ra thế giới bên ngoài, dù có cố gắng khẩn nài tới mấy, Việt Nam vẫn bị nghi ngờ là quốc gia thiếu lòng thành thật.
Trước chuyến thăm của ông Phạm Quang Nghị, đúng trong lúc sự kiện giàn khoan trở thành sự đã rồi và có chiều hướng lắng xuống, báo chí chính thống rộ lên mấy bài về sự nghiệp và con người ngoại giao của vị Bộ trưởng giải vây Nguyễn Cơ Thạch. Có người đánh giá, đây là hành vi nâng cao vị thế bên chính phủ, của phủ Chúa hay là của một nhóm lợi ích thân Mỹ. Các cách diễn giải này đều phù hợp với hiện trạng tranh giành quyền lực trên tầng cao nhất. Nhưng tôi cho rằng, hơn thế, đây còn là nỗ lực đòi vươn tới đúng chức năng của một cơ quan cấp bộ độc lập đang đóng vai trò quan trọng, trong tình thế Việt Nam bị vây khốn chỉ có thể đấu tranh bằng luật pháp quốc tế.
Kể cũng khó đấu tranh bằng ngôn ngữ của những “lên án”, bác bỏ”, “tố cáo” cũng như “hoan nghênh”, “cổ vũ”. Và giữa những phát ngôn là tình trạng lờ đờ khó hiểu, khi nhà nước Việt Nam, từ dạo được Liên Xô và Trung Quốc công nhận về ngoại giao từ 1950, phần lớn bỏ phiếu theo Trung Quốc, và nhiều thập niên theo đuôi những nước này bỏ phiếu trống đối với các quyết định của Liên Hiệp Quốc.
Cho đến nay ngành ngoại giao luân phiên thay đổi vai tuyên giáo, lúc đóng vai công tố, lúc nó đóng vai môi giới hay tháp tùng. Lĩnh vực ngoại giao cũng được đưa lên làm mặt trận, như những mặt trận giáo dục, mặt trận văn hóa, chỉ thiếu nước giống Mặt trận Tổ quốc về mặt tổ chức. Tin tức từ mặt trận báo về dĩ nhiên toàn là thắng lợi vẻ vang.
Sau này lật lại những hồ sơ về Hội nghị Geneva, Hòa đàm Paris, v.v., người khách quan ngoài cuộc chỉ thấy được cùng lắm là những thắng lợi vớt vát, trong một cục diện thê thảm bày ở bàn cờ đại cường nhân nhượng với Trung Quốc bắt dân tộc Việt Nam trên hai miền chịu phần đớn đau, thua thiệt.
Có thể trên “mặt trận ngoại giao”, đôi khi lóe lên một vài điểm sáng nào đấy. Nhưng những điểm sáng này thường đi đôi với hỏa hoạn trên một vi mạch rằng rợ, bế tắc, phát cháy từ những mạch chập.
Ngoại giao tranh thủ lôi kéo có bao giờ được phép nói ngôn ngữ trung thực. Cũng như Đảng chỉ đạo nó xưa cướp chính quyền với lời hứa “người cày có ruộng”, rồi nuốt lời gần 70 năm nay. Hướng ra bên ngoài, ngoại giao phải khẳng định lập trường, diễn ngôn các chính sách, chỉ thị của tập thể não trạng cá sấu, u mê và độc đoán, chỉ thích nghe lời phỉnh nịnh lọt lỗ tai mình. Ở chiều ngược lại, những góp ý, phê phán từ thế giới bên ngoài cũng phải được quan chức ngoại giao bỏ đi hoặc “phiên dịch” lại cho vừa tai kẻ quyền thế, bởi thực tế, độc tài có coi ai ra gì.
Nhà ngoại giao mang tầm vóc lịch sử Metternich có câu nói sâu sắc: “Ý kiến công luận, cũng như tôn giáo, là phương tiện quyền lực mạnh nhất, tự nó xâm nhập vào góc khuất nhất, nơi các chỉ thị của chính phủ mất đi mọi ảnh hưởng”.(*)
Một nền ngoại giao loại trừ công luận, loại trừ tự do báo chí, ngôn ngữ của xã hội dân sự là một nền ngoại giao thất bại. Nhà nước đói nghèo lạc hậu, và quan trọng hơn, đàn áp nhân quyền và tự do báo chí, có gì đâu mà chào mời, quảng bá. Cho nên hành vi ứng xử của nhà nước này đối với bên trong và bên ngoài xoay trên những thao tác phù hợp với vị thế cô lập: dân vận, xin xỏ, tranh thủ và lôi kéo. Như vậy lề lối ngoại giao ra đời từ sự bế tắc của nền độc tài bạo ngược. Tiếng nói của Bộ Ngoại giao đến nơi xa nhất cũng bị gọi giật trở lại bởi chỉ đạo từ nhà ém trước ở đó bật lên phản thùng. Nói đến những bước tiến của ngoại giao ư? Bộ Ngoại giao như con giáp xác không đầu vận động loằng ngoằng, giãy giụa trong những xúc tu thò ra, cuốn giật trở lại của mình.
Làm thế nào để ngoại giao thật sự là một môi trường mở? Mở một trang Bộ Ngoại giao, tôi đọc thấy phần viết về nhiệm vụ của Bộ: “Thu thập thông tin, nghiên cứu phân tích, tổng hợp tình hình các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cánh tả, các phong trào độc lập và giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng và tiến bộ, các chính đảng và đảng cầm quyền trên thế giới; dự báo tình hình quốc tế, đề xuất kịp thời những đối sách của Đảng ta”. Nếu nhiệm vụ ngoại giao được hoạch định như vậy, tôi có cảm giác các nhà ngoại giao Việt Nam đang chăm chú xây dựng quan hệ chủ yếu với những người rơm và sự nghiệp giải vây cho Việt Nam vẫn còn ở xa phía trước.
P.K.Đ.
Tác giả gửi BVN.
Chú thích của tác giả:
(*) “Die öffentliche Meinung ist, wie die Religion, das stärkste Machtmittel, das selbst in den verborgensten Winkel dringt, wo Regierungsanweisungen jeden Einfluss verlieren” – Klemens Wenzel Lothar von Metternich (1773-1859): Bá tước Metternich, chính khách, nhà ngoại giao người Áo đóng góp lớn vào sự cân bằng các thế lực và thiết lập trật tự mới của châu Âu trên Đại hội Viena 1813, sau khi lật đổ Napoléon Bonaparte.
http://www.boxitvn.net/bai/28356

ĐẢNG PHẢI TỰ GIẢI THOÁT CHÍNH MÌNH

Vương Trí Dũng

Phát sinh, phát triển, diệt vong là quy luật muôn đời của tạo hóa. Từ các sinh linh bé nhỏ cho đến các thiên hà khổng lồ, không đối tượng nào có thể thoát khỏi sự diệt vong.
Nhưng có sự diệt vong trong hào quang, có sự diệt vong trong nguyền rủa, có sự diệt vong thúc đẩy nảy nở, có sự diệt vong kìm hãm tiến bộ. Chọn cách diệt vong nào để toát lên cốt cách thánh nhân?
Với đảng hiện nay, tất cả rõ như ban ngày, đảng đang phải đối mặt với hai câu hỏi số phận đá tảng: đảng còn tồn tại được bao nhiêu năm nữa? và hậu thế sẽ phán xét thế nào về đảng?
Vấn đề tồn vong của đảng khẩn cấp đến mức mà bản thân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải nói về sự tồn vong của chế độ.
  1. Một số người có quyền hành nhân danh đảng luôn hô hào vì quyền lợi Dân tộc, nhưng trên thực tế, chính họ đang kìm hãm bước tiến của Dân tộc. Không chỉ thế, trước hết chính họ là những người đang giam cầm sự phát triển của đảng.
Nhiều người có quyền hành trong đảng đều thấy rõ sự lỗi thời phi khoa học của mô hình đảng và mô hình thể chế mà đảng đang cố gắng kéo dài. Điều đáng nói là chính bản thân họ biết rằng mô hình mà đảng đang áp đặt cản trở bước tiến của Dân tộc. Nhưng tất cả họ đều chưa dám công khai từ bỏ nó. Tại sao vậy?
Một là vì quyền lực và lợi ích cá nhân. Khi đã nắm được quyền lực rồi thì chẳng ai dại gì mà cải cách để mất đi quyền lực và mất đi lợi ích kèm theo. Muốn cải cách có chăng là những người chưa nắm được hay bị mất quyền lực.
Hai là sợ đối thủ tiêu diệt loại bỏ. Với bộ máy toàn trị hiện nay, một tư tưởng cải cách có thể bị chụp mũ ngay là tội chống phá đảng, chống phá nhà nước và dễ dàng bị đối thủ bỏ tù hay loại bỏ. Tội chống phá đảng, chống phá nhà nước đã là một nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai trong suốt mấy chục năm qua từ khi thể chế này ra đời. Đó là thứ vũ khí thanh trừng ghê gớm mà ngay cả những người đang ngồi trên ghế quyền lực cũng phải sợ hãi.
Ba là không đủ năng lực chuyên môn.Cách thức bổ nhiệm cán bộcủa thể chế hiện hành đã sản sinh ra một hàng ngũ lãnh đạo thiếu năng lực, lớp sau kém hơn lớp trước. Chính năng lực yếu kém đã làm cho con người không tự tin, không dám hành động và thậm chí không biết phải làm gì.
Bốn là cốt cách sâu mọt nhuệ khí bạc nhược. Không phải tất cả, nhưng xã hội hiện nay làm xấu đi cả những người tốt. Điều xấu hành hoành tràn lan làm nhụt khí tất cả. Cốt cách con người bị sâu mọt. Nhuệ khí quật cường bị rỉ cùn. Ai cũng muốn cầu an yên phận.
Năm là xã hội không có cơ chế khoa học để bảo vệ cho lẽ phải và công lý. Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng. Khi mà trắng đen lẫn lộn, khi mà phải biến thành trái, trái biến thành phải thì con người sợ hãi cuộn mình trong tổ cũng là lẽ thường tình.
  1. Muốn giải thoát cho Dân tộc, trước hết phải giải thoát cho đảng khỏi hệ thống cầm quyền yếu kém. Nhờ thế đảng mới có cơ may lột xác để tồn tại.

Bản thân đảng cũng đang bị một bộ phận lãnh đạo yếu kém thâu tóm lũng đoạn, không cho các đảng viên có năng lực hơn được tham gia lãnh đạo đảng, đảng không tự giải cứu được chính mình thì làm sao giúp ích được cho Dân tộc? Bởi vậy muốn giải thoát sự cản trở phát triển của Dân tộc thì trước hết phải giải thoát cho chính đảng.
    
  1. Để giải thoát cho đảng khỏi hệ thống cầm quyền yếu kém, đảng phải tổ chức bầu cử dân chủ tự do trực tiếp trong toàn đảng. Như vậy đảng mới có được một đội ngũ lãnh đạo tốt hơn, giúp cho đảng sống sót.

Phương thức mà đảng bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo trong nhiều năm qua là một phương thức phi khoa học, phi dân chủ. Chính phương thức đó đã làm cho đảng mỗi ngày một yếu kém và liên tục mắc những sai lầm. Làm sao vấn đề chọn cán bộ đứng đầu đảng trên toàn quốc và đứng đầu bộ máy nhà nước lại chỉ do một nhóm người đếm trên đầu ngón tay quyết định? Thậm chí trong nhiều trường hợp chỉ có một hay hai người quyết định. Xin chỉ nêu ra một số hệ quả nguy hiểm từ cách bổ nhiệm cán bộ hiện nay.

Một là, sự bổ nhiệm cán bộ cao cấp chỉ do một số người trong BCT và BTC TƯ quyết định. Chưa nói đến tính chủ quan, cá nhân thiên vị của phương thức bổ nhiệm cán bộ này, mà cần nhấn mạnh rằng phương thức này tạo nên những lỗ hổng rất nguy hiểm.

Trước hết đó là cơ sở để tạo nên sự thâu tóm quyền lực. Bổ nhiệm cán bộ để khống chế cán bộ. Bằng cách này, một nhóm người có thể khống chế cả BCT, khống chế cả BCH TƯ, khống chế cả đại hội đảng, khống chế cả chính phủ, khống chế cả các tỉnh thành. Nguy cơ này ai cũng thấy rõ. Mối hiểm họa này đã  xẩy ra ở tất cả các nước thuộc phe XHCN trước đây.

Tiếp đến, đây là công cụ để thanh trừng đối thủ vì những toan tính cá nhân. Thực tế lịch sử ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam đã minh chứng sự kinh hoàng của những chiến dịch thanh trừng đối thủ. Đáng sợ nhất là Stalin và Mao Trạch Đông. Ở Việt Nam ta, đến hàng bậc nhất công thần như Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng không tránh  được sự thanh trừng.

Sau nữa, đây là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng những kẻ cơ hội. Tuy không có năng lực chuyên môn, nhưng giỏi luồn cúi, giỏi đút lót, giỏi nịnh bợ, họ tìm được cửa sống sót và từng bước leo lên bậc thang quyền lực. Những kiểu người này khi đạt được đỉnh cao quyền lực thì vô cùng nguy hiểm và tai hại.

Một hệ lụy nguy hiểm không thể không nhắc đến, rằng đây là một trong những cội nguồn của tham nhũng hối lộ. Ở bình diện này Việt Nam đã trở thành một thí dụ điển hình.

Thứ hai là, bốn chức vụ chủ chốt lãnh đạo đất nước nằm trong số các UV BCT nhiệm kỳ thứ hai. Chưa nói đến tính phi dân chủ của “Luật bất thành văn này” mà chỉ bàn đến hậu quả nguy hiểm tự nó gây ra.

Trước hết đây là lỗ hổng tạo nên sự mặc cả thỏa hiệp. Điều này ai cũng thấy rõ. Hệ lụy nguy hiểm là do thỏa hiệp nên sẽ không có đổi mới. Và chẳng ai dại gì mà đổi mới khi đã ngồi vào nhóm ghế quyền lực.

Tiếp theo là hậu quả trì trệ già nua bảo thủ. Theo cách xếp hàng từng bước, phải vào TƯ, phải vào BCT, rồi mới được lựa chọn vào các chức vụ cao nhất thì tài năng đột xuất sẽ không có chỗ đứng ở Việt Nam. Chưa nơi nào như ở Việt Nam, lãnh đạo cao nhất của đất nước lại đã biết trước,  trước cả lúc bàu cử diễn ra.

Ba là, Tổng bí thư của đảng được bầu từ BCH TƯ chứ không phải trực tiếp từ toàn đảng. Đây là một vấn đề sống còn của đảng. Đã có đại hội bàn về người đứng đầu đảng phải được bàu trực tiếp từ các đại biểu dự đại hội đảng nhưng không thành. Thế cũng chưa đủ. Chỉ xin văn tắt mấy điểm cốt yếu.

Trước hết là không chọn được người thực tài. Muốn chọn được người thực tài phải bầu cử trực tiếp trong toàn đảng, theo hình thức loại trực tiếp từng cặp ứng cử viên từ từng vùng địa phương cho đến mức độ toàn quốc. Chỉ có những người “sống sót”qua những cuộc đối đầu trực diện khắp các vùng miền đất nước từ phiếu bầu của tất cả các đảng viên mới xứng đáng là thủ lĩnh của đảng.

Tiếp đến, Tổng bí thư sẽ không thực hiện được hết ý đồ chiến lược của mình. Do được bầu từ một số lượng hạn chế các UVBCHTƯ, người đứng đầu đảng quan ngại về các quyết định của mình có thể động chạm đến một nhóm người quyền lực. Cách thức các lãnh đạo đảng các nước thuộc phe XHCN trước đây bị phế truất đã nói lên tất cả. Thỏa hiệp hay mặc cả  một nhóm người thì có thể, nhưng thỏa hiệp và mặc cả hàng triệu người thì không thể. Bởi vậy khi được bầu trực tiếp từ toàn đảng, người đứng đầu đảng sẽ không sợ hãi ảnh hưởng quyền lợi của một nhóm người nào trong BCHTƯ.

Hơn ba triệu đảng viên là một lực lượng rất lớn. Để tránh cho đảng một hệ thống lãnh đạo yếu kém, nhất thiết phải tiến hành bầu cử tự do trực tiếp trong toàn đảng. Lúc đó ắt đảng sẽ có những nhà lãnh đạo xuất sắc.

  1. Giải thoát cho đảng chưa đủ để giải thoát cho Dân tộc. Muốn giải thoát cho Dân tộc cần phải có bầu cử tự do dân chủ trong toàn dân. Một hình thức bầu cử tự do trực tiếp toàn dân để chọn ra một vị nguyên thủ quốc gia và một quốc hội đa đảng sẽ là con đường đúng đắn đưa Đất nước thoát khỏi cảnh tụt hậu yếu nghèo lệ thuộc.

Hình thức bầu cử tự do toàn dân là điều mà các quốc gia văn minh tiến bộ đã thực hiện. Thể thức này đã được kiểm nghiệm ở nhiều nước qua nhiều thế kỷ. Nếu đảng tự nguyện làm được điều này thì chính nhân dân sẽ là người vinh danh đảng trong lịch sử Dân tộc.

  1. Đảng hãy tự giải thoát chính mình để mở đường giải thoát cho Dân tộc.

Không ít người trong đảng hiện nay đang cố gắng kéo dài sự cầm quyền của đảng bằng những biện pháp độc tài phi dân chủ hơn. Họ tưởng rằng làm như thế là có thể kéo dài tuổi thọ cho đảng, không ngờ rằng đó chính là cách làm cho đảng trượt nhanh về đích cáo chung. Điều đáng tiếc hơn đó là sự cáo chung kìm hãm tiến bộ của Dân tộc, sự cáo chung khó tránh khỏi trách cứ của hậu thế.

Còn những người yêu đảng thiết thực sẽ biết kéo dài tuổi thọ của đảng bằng cách biến đổi đảng biện chứng, phù hợp với thời cuộc, thuận theo tiến bộ văn minh. Khi cần phải lột xác, thậm chí phải biến thân để được kiếp ba sinh.

Đảng đã có những thời khắc hào hùng, có những phút giây đen tối. Đảng đã nhiều lúc hy sinh vì quyền lợi Dân tộc nhưng đảng cũng đã nhiều lần làm chậm bước tiến của Dân tộc. Không ai có thể thay đổi lại lịch sử, nhưng điều quan trọng là phải biết rút ra bài học từ lịch sử.

Không ai có thể cứu đảng ngoài đảng cả. Đảng đã tự cứu mình nhiều lần để tồn tại. Thậm chí đảng vì quyền lợi Dân tộc đã rút vào bí mật bằng cách tuyên bố giải tán đảng. Đó là giai đoạn mà đảng có những nhà lãnh đạo xuất chúng. Xuất chúng bởi trước hết là họ vì Dân tộc chứ không phải vì đảng, cũng không phải vì lợi ích cá nhân họ.

Những người có quyền hành hiện nay trong đảng không được sống bằng hào quang quá khứ, không được nhân danh cha ông. Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân phải sống bằng chính sức lao động của mình, và phải chịu trách nhiệm về mọi hành động do mình tiến hành. Lợi dụng danh tiếng của cha ông để mưu cầu quyền lợi riêng, dùng bạo lực để kéo dài quyền lực bất chấp lợi ích Dân tộc, là một tội lớn trước cha ông và trước Dân tộc.

Chính các đảng viên của đảng sẽ tự  thay đổi đảng. Khi các đảng viên trong đảng biết đặt quyền lợi Dân tộc trên quyền lợi cá nhân, dám rời bỏ bổng lộc chức quyền, dám từ bỏ sự toàn trị, thì tức khắc nền dân chủ đích thực sẽ ngự trị trên toàn đất nước. Đó chính là lúc đảng lại biết hiến dâng cho Dân tộc.  Đó chính là lúc đảng đã tự giải thoát cho chính mình.

Chỉ bằng một quyết định giản đơn: tự do bầu cử trong toàn đảng và tự do bầu cử trong toàn dân, đảng đã vĩnh cửu chính mình và vĩnh cửu vai trò lịch sử của đảng trước hậu thế. Đi xa hơn, đảng đã cùng một lúc giải quyết xong tất cả các vấn đề trọng đại nan giải mà ngày đêm đảng trăn trở. Trong số đó có các vấn đề:  “Thoát Trung”, “Độc lập dân tộc” và “Hạnh phúc của toàn dân”.

Vấn đề chỉ là thời gian. Nhưng càng sớm ngày nào càng phúc đức ngày ấy cho Dân tộc. Sứ mạng lịch sử đang đặt lên vai đảng. Hãy tự giải thoát cho chính mình. Hãy dũng cảm trút lên vai nhân dân.

V.T.D
Tác giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/28354

Về chuyện ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ

Nguyễn Khắc Mai

Ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ cả tuần nay, trong nước và ngoài nước đã có nhiều bài viết, đưa tin bình luận, phỏng đoán… Tôi chúc chuyến đi của ông đạt kết quả như dự tính.
Một nguồn tin đáng tin cậy bảo với tôi, ông ấy quan nhỏ nhưng chức to, tôi bảo ngược lại là quan chức chỉ là cấp Thành phố, nhưng chức quan lại là UV Bộ chính trị, lại được coi là ứng cử viên TBT sắp tới. Nghe nói phía VN đã báo tin cho Mỹ như vậy. Người ta bảo có tính toán ở cấp cao (tất nhiên) để lóp bi, đánh bóng cho ông Nghị. Người ta còn bảo với tôi ông Nghị được giao  sang Mỹ để cảm ơn Mỹ đã rất ủng hộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông. Nhưng ông lại im re khi phía Mỹ đề cập đến Biển Đông. Nguồn tin bảo đấy là “tắc tích” , chiến thuật giấu mình.Tôi nghĩ thế là Việt cộng đã quen thói đi đêm rồi. Họ đang đi đêm gì với Mỹ. Làm sao giấu được Tàu China.
Điều cần suy nghĩ là sau Hiến pháp 2013 (có hiệu lực từ 1-1-2014) thì cái tinh thần Nhà nước Pháp quyền, mà được tuyên truyền, nhấn mạnh, thì tính chất pháp lý của những hoạt động của cán bộ cao cấp của đảng nhân danh nhà nước để ban với thiên hạ những điều mà ông Nghị đã phát ngôn với chính giới Mỹ đều phải được coi là không hợp pháp. Trong khi đã có một Hiến pháp mới nhưng phương thức hành xử của đảng “vũ như cẩn” là thất sách. Nó sẽ là không chính danh. Chúng ta đang làm hạ thấp uy tín của bộ máy nhà nước. Điều này không thể chấp nhận. Chỉ nên coi chuyến đi của ông Nghị như kiểu cậu Trang Tác Đống của Tàu mấy chục năm trước, nếu có cái gọi là bắn tín hiệu gì đó của VN. Người Mỹ có thực dụng thì cũng chỉ nên coi ông Nghị như một Trang Tác Đống thôi. Còn phía Việt Nam thì phải đàng hoàng tử tế hơn. Đừng để người dân hôm nay có hiểu biết nhiều hơn cả những người cầm quyền trong đảng, chê trách việc hạ thấp uy tín của nhà nước. Người xưa có câu Tể tướng hồi hưu bái huyện quan. Ông tể tướng về hưu là đã ra ngoài chính quyền rồi, cũng phải kính cẩn đối với ông quan huyện. Ở đây lại cho một người chỉ có cương vị đảng, chức danh chính giới chỉ là anh nghị sĩ đi làm việc thay cho Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Nếu việc xảy ra thời Thành Đô, thì cũng hiểu được, bấy giờ Hiến pháp chưa đề cao tinh thần nhà nước pháp quyền. Người ta giơ tay biểu quyết Hiến pháp mới nhưng hiểu nó và tôn trọng nó, tìm mọi cách để thực thi nó thì lú lẫn. Tại sao cứ tiếp tục không tôn trọng Dân tộc mình.
N.K.M
Tác giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/28352

Một số thủ đoạn trái pháp luật khi lấy lời khai, hỏi tại tòa

Luật sư Hà Huy Sơn

Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự các các cơ quan tiến hành tố tụng thường thực hiện việc lấy lời khai (giai đoạn điều tra), hỏi tại tòa (xét xử). Các hành vi tra tấn, nhục hình, bức cung đã bị pháp luật cấm tại các văn bản quy phạm pháp luật như:
Hiến pháp năm 2013, quy định:
“Điều 20.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”
Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2011, quy định:
“Điều 298. Tội dùng nhục hình 
1. Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”

“Điều 299.  Tội bức cung 
1. Người nào tiến hành điều tra, truy tố,  xét xử mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.”

Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị 1966, Việt Nam tham gia năm 1982, điểm g khoản 3 điều 14, quy định:

“3. Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:
g. Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.”
Nhưng hiện tượng tra tấn, truy bức, nhục hình đối với người bị bắt vẫn xảy ra. Ngoài ra, hiện tượng bức cung, mớm cung, dụ cung, lừa cung xảy ra khá phổ biến khi điều tra và khi xét xử tại tòa. Trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trước khi lấy cung hoặc hỏi tại tòa đối với bị can, bị cáo phải phổ biến, giải thích cho họ biết quyền của mình và đặc biệt là quyền “không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng”. Thế nhưng, hầu như những người tham gia tiến hành tố tụng không phổ biến, giải thích rõ ràng, đầy đủ cho họ về các quyền của bị can, bị cáo. Ngược lại:
-        Điều tra viên, thẩm phán nói rằng khi hỏi thì bị can, bị cáo phải trả lời.
-        Điều tra viên, thẩm phán ám chỉ, đe dọa, dùng mọi lời lẽ, thủ đoạn để bị can, bị cáo trả lời theo ý của mình.
-        Lừa dối, dụ dỗ, thông tin sai sự thật để lấy lời khai của bị can, bị cáo.
-        Lợi dụng sự trung thực, danh dự, phẩm giá, đức tin tôn giáo của bị can, bị cáo để họ khai theo ý muốn của điều tra viên, thẩm phán.
Những hành vi này diễn ra khá phổ biến trong các vụ án hình sự bởi sự làm ngơ của kiểm sát viên và sự yếu kém, thiếu trách nhiệm của các luật sư. Còn một nguyên nhân khác đó là những thủ đoạn trái pháp luật như “mớm cung, dụ cung, lừa cung” lại được một số cơ quan tiến hành tố tụng, sai lầm cho rằng đây là “kỹ thuật, nghiệp vụ”, “chuyên môn, kỹ xảo nghề nghiệp” và là căn cứ cất nhắc, đề bạt cán bộ.
H.H.S
Tác giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/28348

Vấn nạn bức cung nhục hình ở Việt nam

Luật sư Ngô Ngọc Trai

 
Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm
Trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung nhục hình?
Quy định của luật
Hiện chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy ra ở 100% các vụ án.
Vấn nạn bức cung phổ biến lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.
Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.
Nhưng Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết rằng: “Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”.
Lý do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng phải có quyền từ chối khai báo chứ?
Tại sao bị cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?
Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?
Như thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình. Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các vụ án.
Vấn đề của năng lực
Dương Chí Dũng
Bị cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung
Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.
Sự vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán sự việc và điều tra nghi phạm.
Hoạt động điều tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều tra.
Nhưng ở Việt Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.
Vì tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế của cơ quan điều tra.
Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.
Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.
Tại sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?
Hệ thống tư pháp Việt Nam có nhiều lỗ hổng có thể bị lợi dụng?
Đây là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.
Các nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.
Họ đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung nhục hình phổ biến rộng khắp.
Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.
Các nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị cáo.
Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được giảm án.
Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.
Vấn đề niềm tin
Ngô Thanh Kiều là nạn nhân của nạn bức cung nhục hình của công an
Vấn nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.
Ở Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.
Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.
Trong vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?
Đây thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung nhục hình.
Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh nữa và không cần chứng cứ.
Ông Chấn nếu không bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.
Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.
Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.
Niềm tin nội tâm
Nguyễn Thân Thảo Thành nhận mức án nhẹ trong vụ án làm chết Ngô Thanh Kiều
Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.
Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.
Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …
Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.
Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.
Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?
Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.
Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.
Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.
Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.

N.N.T
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/07/140727_vn_legal_system_abuses.shtml
http://www.boxitvn.net/bai/28341

Thêm một cơ hội mới cho Việt nam

Alan Phan

27 July 2014
Tôi quyết định quay về kinh doanh tại Mỹ cách đây 3 năm. Kinh tế Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới mà dân làm ăn chúng tôi gọi là “day of reckoning” (ngày phán xét?); nôm na là khi các bong bóng bắt đầu xì hơi, rác rưởi như nợ xấu, gánh nặng hành chánh, tham nhũng…không còn đủ chỗ để đem “dấu dưới thảm” được nữa. Ở các nền kinh tế thị trường khác, những biến cố tương tự cũng không hiếm (chúng là cá thể của tư bản tham lam)…nhưng những lực đẩy từ chánh phủ đến tư nhân chung sức điều chỉnh; và sau vài năm, phần lớn các cấu trúc, vận hành bắt đầu hồi phục.
Việt Nam hơi khác. Trong định hướng CNXH, chánh phủ cố gắng điều trị theo lối “bôi dầu cù là”, hy vọng một phép lạ nào đó sẽ “úm ba la” chữa lành mọi bệnh tật. Còn tư nhân thì quen lối làm giàu dựa trên quan hệ với quyền lực nên không nghĩ đến các giải pháp sáng tạo nào khác ngoài việc “lobby” để hưởng cứu trợ, khoanh hay giảm nợ. Với một nhận định như vậy, tôi và nhiều nhà đầu tư ngoại dài hạn khác write-off (xoá sổ) các khoản tiền đã mất ở Việt Nam và đi tìm chân trời mới. (Tuy nhiên, một cơn bạo bệnh kéo dài hơn 1 năm đã làm chậm lại kế hoạch này của tôi).
Trong khi vài nhà đầu tư vẫn đam mê tiềm năng của các quốc gia mới nổi, phiêu lưu vào Myanmar, Ấn Độ, châu Phi…tôi đánh cược vào nền kinh tế Mỹ qua sự năng động của công nghệ mới, hệ thống pháp trị và những lực chuyển trong hai thập kỷ tới trên toàn cầu (Xin xem loạt bài về Lực Chuyển trên web site Góc Nhìn Alan). Sau một năm vất vả để hoàn thiện các chi tiết của kế hoạch kinh doanh, tiếp cận đối tác và mentors (thầy đỡ đầu), lấy xong giấy phép…tôi hứng khởi bắt tay vào việc mới…ở tuổi 69. Tôi đem gia đình đi nghỉ hè 1 tháng để thu nạp thêm năng lượng.
Trong khi đó, như chúng tôi đã tiên đoán, suốt 5 năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức hội thảo liên miên để bàn về nợ xấu, tái cấu trúc, cải cách cơ chế, hệ thống ngân hàng, phương thức bắt kịp các quốc gia láng giềng….Chúng tôi đều đoán trước kết quả: thành phần có quyền và có tiền có quá nhiều thứ để mất nếu thay đổi, sợ bứt dây động rừng, sợ cạnh tranh trên một sân chơi bằng phẳng… Thành phần bỏ quên bên lề thì vẫn tiêu thụ bia rượu, thuốc lá, số đề… với nhiều kỷ lục mới và vẫn cho là mình hạnh phúc nhất nhì thế giới.  Bánh xe kinh tế tiếp tục lăn theo nhịp độ của FDI, kiều hối và ODA. Do đó, điều kiện đòi hỏi dành cho các dự án FDI càng ngày càng dễ dãi để lưu giữ dòng tiền đang rò rỉ từ Trung Quốc. (Lý do chính là vì giá sản xuất tại Trung Quốc cao vụt biến cùng những  tệ nạn về ăn cắp bàn quyền, khích động chánh trị Hán hoá của chánh phủ  và hệ thống phong bì).  Khoản tiền ODA càng vay nhiều càng tốt, lợi lộc càng nhiều…và việc trả nợ thì đã có thế hệ sau lo.
Ở tầm vĩ mô hơn, Việt Nam vẫn coi mình là đàn em ngoan ngoãn của Trung Quốc, có một đồng minh chiến lược với Nga, có những người bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba, Venezuela… An ninh nội địa vững vàng với gọng kềm kiểm soát và mọi chánh sách ngoại giao đều hướng về mục tiêu “làm vừa lòng mọi người”. Nếu đế quốc Mỹ có phàn nàn về nhân quyền thì ra vài câu tuyên bố lấy lệ, rồi quay lưng bảo nhau… thằng Mỹ nó giàu mạnh nhưng ngu lắm.
Trong bối cảnh đó, khó mà có thể hình dung Việt Nam biến thể thành một con chim cánh cụt… nói gì đến hoá rồng. Nếp sống người dân có thể tăng cao hơn đà tiến chung của nhân loại vì dân Việt thông minh và láu cá hơn; nhưng kinh tế Việt Nam sẽ vẫn đội sổ về hiệu năng và vị trí.
Tuy nhiên, lá số tử vi của nhà cầm quyền Hà Nội tốt thật. Định mệnh lại tình cờ cho họ thêm một cơ hội mới.
Trung Quốc đem giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam, Putin Nga quay mặt ôm hôn Tập Cận Bình, và các bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba…hoàn toàn không quan tâm. Một tình thế mới tạo nên một thực tại mới khá phũ phàng, như khi người vợ khám phá ra là chồng đang ăn nằm với nhiều bà vợ khác, kể cả bạn thân của mình. Dĩ nhiên bà vợ vẫn mang nhiều hy vọng là ông chồng sẽ hồi tâm và quay lại với mình để nối lại cuộc đời “16 chữ vàng” như xưa.
Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên với các chánh trị gia chuyên nghiệp. Chơi đểu, lừa gạt, tham lam… là bài học hàng đầu từ Machiavelli, Tôn Tử… Chỉ có những ông già vừa ngu vừa điên… mới ngạc nhiên. Tuy vậy, một sự kiện làm tôi và vài chuyên gia “shocked” là sự can thiệp của Mỹ đã có hiệu lực đến thế nào với Trung Quốc! Vì quyền lợi của tư bản Mỹ trong thế cân bằng của địa chánh trị tại Biển Đông, Trung Quốc đã rút giàn khoan sớm hơn dự định, tránh một cuộc đối đầu bất lợi lúc này với liên minh Mỹ-Nhật-Úc. Dĩ nhiên, đây chỉ là một bước lùi để lấy đà tiến lên hai ba bước sau này… nhưng cũng là một chiến thắng nhỏ cho quyền lực Mỹ.
Quay lại thế cờ mới của Việt Nam. Cách đây vài năm, Myanmar phải thoát Trung bằng một động thái quyết liệt cần nhiều can đảm và vốn chính trị của các lãnh đạo. Theo một lời đồn, khi biết Myanmar muốn ngả về phương Tây, Trung Quốc đã bật đèn xanh để vài phần tử Miến Điện thân Trung Quốc thực hiện một cuộc đảo chánh. Âm mưu bất thành và định mệnh Myanmar bước vào một chu kỳ mới. Việt Nam may mắn hơn. Với sự tranh chấp công khai hoá toàn diện và với sự bầy tỏ ý muốn thoát Trung của đa số dân Việt, các phần tử thân Trung Quốc phải cẩn thận dè chừng trong mọi hành động.
Đây là cơ hội mới hiếm hoi cho những lãnh đạo Việt Nam muốn rẽ qua một con đường mới.
Nhiều người Việt “tư hào” là mình sẽ không cần theo ai hay thoát ai. Việt Nam có con đường riêng của mình. Tôi hiểu đó là con đường xuống bãi sình lầy chúng ta đã tới đích sau 70 năm cố gắng. Không dựa trên bất cứ một triết thuyết cao siêu nào về chính trị hay kinh tế, tôi có thể đoan chắc là trên mọi chiến trường hay thương trường, trừ khi bạn là một siêu cường, hay một lãnh đạo, bạn “phải” chọn phe. Không có sức mạnh nội tại mà đòi “trung lập”, thì sớm hay muộn, bạn sẽ bị cả hai phe tiêu diệt (nhiều khi chỉ cho bõ ghét).
Tôi thực sự không biết các lãnh đạo Việt Nam sẽ chọn lựa như thế nào. Sẽ ngả về một nền kinh tế tư bản thị trường pháp trị của phương Tây như 98% các quốc gia khác đang làm; hay sẽ theo lời khuyên của hoàng đế cách mạng Fidel Castro đứng hẳn về một trật tự mới do Trung Quốc và Nga đang thiết lập? Dù thế nào, nó sẽ không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt và công việc của tôi hay triệu người gốc Việt trên khắp thế giới.
Tôi chỉ biết rằng ân sủng của Ơn Trên đang cho Việt Nam một cơ hội mới. Như trong những video games, nút RESET đã được bấm. Quê hương và dân tộc đang chờ đợi.
Có thể chúng ta lại sẽ chẳng làm gì. Như suốt vài chục năm qua. Mọi người còn quá bận lo chuyện cá nhân và gia đình? Mong là định mệnh Việt Nam không hẩm hiu như vậy.

PS: “ Không có quyết định nào khó khăn hơn, chịu nhiều thử thách hơn và khó đoán được thành quả hơn…là nắm cơ hội để đem đến một trật tự mới – There is nothing more difficult to take in hand, more perilous to conduct, or more uncertain in its success, than to take the lead in the introduction of a new order of things. – Niccolo Machiavelli)

A.P
Nguồn: http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-viet/them-mot-co-hoi-moi-cho-viet-nam.html
http://www.boxitvn.net/bai/28322

Quan hệ Việt-Trung không thể như xưa sau vụ giàn khoan HD-981

Trọng Nghĩa

Carlyle Thayer : Hành động của Trung Quốc đã tạo ra một vết nứt sâu đậm trong giới lãnh đạo Việt Nam. Dư luận Việt Nam rất tức giận vì khủng hoảng giàn khoan và muốn chính phủ phải hành động kiên quyết. Reuters
Ngày 15/07/2014 có thể nói là Bắc Kinh đã bất ngờ cho rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam mà Trung Quốc đòi chủ quyền cũng như hơn 80% còn lại của Biển Đông. Nhiều giả thuyết đã được nêu lên về lý do khiến Bắc Kinh phải giảm nhiệt sau hơn hai tháng gây căng thẳng với Hà Nội. Các giả thuyết đó có thể đúng, có thể sai, tuy nhiên, theo giới chuyên gia, có một điều chắc chắn là hệ quả của vụ HD 981 là quan hệ Việt Trung không thể nào được như trước đây.
Ngay sau ngày Trung Quốc loan báo quyết định di chuyển giàn khoan HD-981 về phía đảo Hải Nam, Giáo sư Carlyle Thayer; chuyên gia phân tích về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) đã dành cho Ban Việt Ngữ RFI một bài phỏng vấn (18/07/2014) về khả năng diễn biến trước mắt của quan hệ Việt-Trung thời hậu HD-981.
Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn
RFI : Trung Quc đã rút giàn khoan HD-981 ra khi vùng bin tranh chp vi Vit Nam mt tháng sm hơn so vi d kiế​​ban đu. Giáo sư đánh giá sao v đng thái này ?
Thayer : Trung Quốc đã rút giàn khoan dầu ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vì ba lý do : (1) Giàn khoan HD-981 được cho là đã hoàn thành nhiệm vụ thương mại là tìm kiếm dầu khí. (2) Trung Quốc đã cho rút giàn khoan và đội tàu hộ tống đi để giảm thiểu nguy cơ đến từ bão Rammasun. (3) Trung Quốc di chuyển giàn khoan để tác động đến Việt Nam trước lúc mở ra Hội nghị đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam mà mục tiêu là cân nhắc một hành động pháp lý chống lại Trung Quốc (kiện Trung Quốc).
Lý do thứ ba nêu trên quan trọng nhất bởi vì nó mở ra cánh cửa cho các cuộc thảo luận song phương giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Điều này có thể thúc đẩy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có một cách tiếp cận thận trọng và gạt bỏ khả năng hành động pháp lý.
Ngoài ra, việc rút giàn khoan sớm hơn dự định diễn ra một tháng trước Hội nghị Ngoại trưởng thường niên của Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF). Điều này cho phép Trung Quốc chuyển dịch trọng tâm chú ý của Diễn đàn, từ hành động khiêu khích của Trung Quốc qua việc tập trung vào hợp tác.
Tóm lại, Trung Quốc đang tìm cách chuyển từ việc đối đầu trên biển qua đối thoại chính trị.
RFI : Có th gn lin vic Trung Quc cho rút giàn khoan vi sc ép đến t ngành ngoi giao M gn đây hay không ?
Thayer : Ngành ngoại giao Mỹ đã đóng một vai trò quan trọng nhưng không quyết định. Trung Quốc đã đoan chắc rằng Mỹ sẽ tổ chức một cuộc phản công chính trị lớn tại cuộc họp của Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ARF năm nay, và bằng cách mở cửa cho các cuộc thảo luận song phương với Việt Nam, Trung Quốc đang tìm cách làm cho Mỹ hụt chân.
Quan trọng hơn, bằng cách mở cửa cho các cuộc thảo luận song phương với Hà Nội, Trung Quốc hy vọng rằng Việt Nam sẽ đáp ứng lại bằng cách bác bỏ các kế hoạch của phe thân Mỹ trong giới lãnh đạo, muốn Việt Nam liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ và Nhật Bản.
Nói cách khác, cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu là một ví dụ khác về tính toán của Trung Quốc đẩy các con chốt tiến lên để xem họ có thể đi xa đến đâu, trước khi thối lui. Trung Quốc hiện đã xác định được rằng họ có thể triển khai một giàn khoan dầu ở vùng biển tranh chấp mà tương đối không bị trừng phạt.
RFI : Theo Giáo sư, đng thái tiếp theo ca Trung Quc s là gì vì Bc Kinh luôn luôn nói rng h không hlàm gì sai trong v giàn khoan ?
Thayer: Động thái tiếp theo của Trung Quốc sẽ là lôi kéo Việt Nam vào các cuộc đàm phán, qua đó tăng cường uy thế cho cái gọi là nhóm thân Trung Quốc tại Hà Nội hoặc là phe mà tôi gọi bằng thuật ngữ “thỏa hiệp” (accommodationist).
Các nhà lãnh đạo Hà Nội sẽ tìm cớ để đưa quan hệ song phương Việt-Trung trở lại đường hướng trước đây (trước vụ giàn khoan). Trung Quốc nhắm mục tiêu phá tan bất kỳ nỗ lực nào của Việt Nam trong việc xúc tiến một hành động pháp lý chống Trung Quốc, và như vậy sẽ khuyến khích các quốc gia khác trong khu vực làm theo.
Trung Quốc muốn lấy lại thế chủ động chính trị-ngoại giao và chuyển trọng tâm chú ý trở lại các cuộc đàm phán ASEAN-Trung Quốc về việc thực thi bản Tuyên bố vềứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các cuộc thảo luận liên quan đến một bộ quy tắc ứng xử.
Trung Quốc, tuy nhiên, sẽ tiếp tục tăng áp lực đối với Philippines tại vùng bãi cạn Scarborough và bãi Cỏ Mây Second Thomas Reef và tiếp tục các hoạt động đòi lại các đảo trong khu vực quần đảo Trường Sa.
Qua tháng Năm năm tới, có thể dự trù là Trung Quốc sẽ có những cuộc tấn công mới trong lãnh vực thực thi lệnh cấm đánh cá của họ trên Biển Đông; và thực hiện các hoạt động thăm dò dầu hỏa khác.
RFI: Quan h Vit Nam – Trung Quc có th tr li tình trng như trước v trin khai giàn khoan du hay không ?
Thayer: Hành động của Trung Quốc đã tạo ra một vết nứt sâu đậm trong giới lãnh đạo Việt Nam. Dư luận Việt Nam nói chung rất tức giận vì cuộc khủng hoảng giàn khoan và muốn chính phủ phải có hành động kiên quyết. Trong khi phe bảo thủ trong chính quyền Hà Nội rất có thể là sẽ hoàn toàn phản ứng thuận lợi trước Trung Quốc, sức đề kháng đáng kể chống lại kiểu “kinh doanh như bình thường” với Trung Quốc đã thẩm thấu vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điểm mấu chốt gây căng thẳng là tính chất hữu hiệu của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa được tôn lên thành nhân tố trung tâm của mối quan hệ song phương Việt-Trung đã đi ngược lại lợi ích dân tộc Việt Nam. Hành động của Trung Quốc đặt giàn khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tếcủa Việt Nam đã góp phần làm suy yếu lòng tin chiến lược giữa hai bên.
Nói cách khác, cuộc khủng hoảng giàn khoan đã biến quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc thành một trò cười. Trong bất kỳ trường hợp nào trong tương lai, từngữ này khi được dùng sẽ vang lên một cách rỗng tuếch trong công chúng.
RFI : Vit Nam có th rút ra nhng bài hc gì t v đi đu vi Trung Quc ?
Thayer: Việt Nam sẽ kết luận rằng các lực lượng bán quân sự của họ – Cảnh sát Biển và Kiểm ngư – không đủ để ngăn việc Trung Quốc đặt một giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong tương lai.
Việt Nam cũng sẽ kết luận rằng mặc dù được nhiều quốc gia hỗ trợ về mặt chính trị, ASEAN đa phần sẽ không thay đổi chính sách và đối đầu với Trung Quốc trên việc Bắc Kinh không tuân thủ luật pháp quốc tế cũng như các cam kết không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.
Việt Nam cũng sẽ kết luận rằng cuộc khủng hoảng giàn khoan đã đánh động được Nhật Bản để nước này trợ giúp vật chất cho Việt Nam, cụ thể là tàu tuần duyên (bằng tín dụng mềm lấy từ quỹ ODA). Việt Nam có thể hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ tăng cường cam kết về an ninh hàng hải và trợ giúp Việt Nam trong việc giám sát vùng biển của mình.
Bài học căn bản mà Việt Nam sẽ phải nhớ là phải luôn luôn cảnh giác với Trung Quốc vì hành động triển khai giàn khoan dầu vừa qua đã làm suy yếu lòng tin chiến lược giữa hai nước. Việt Nam sẽ phải đánh giá lại chính sách quan hệ đối ngoại đa phương của mình.
Khuôn khổ đó đã thành công khi các cường quốc bên ngoài hợp tác với Việt Nam, nhưng lại không thích hợp trường hợp (giàn khoan) hiện tại. Việt Nam phải xem xét các chiến lược mới để làm đối trọng với Trung Quốc.
RFI : Đng thái tiếp theo ca Vit Nam s phi là gì ?
Thayer: Việt Nam hiển nhiên là phải tích cực đáp ứng nếu Trung Quốc báo hiệu rằng họ đã sẵn sàng tiếp đón một phái đoàn cấp cao để thảo luận về cuộc khủng hoảng giàn khoan và về việc quản lý các vấn đề Biển Đông. Nhưng Việt Nam không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc làm hòa mà không có được bảo đảm chắc chắn về các hành vi tương lai của Bắc Kinh. Việt Nam cần phải kiên quyết trong các cuộc thảo luận riêng để đòi Trung Quốc cam kết hành động phù hợp với các thỏa thuận trước đây giữa hai bên.
Việt Nam cũng phải ủng hộ chính sách của Mỹ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hành xử dựa trên luật lệ và tuân thủ luật pháp quốc tế. Việt Nam phải thúc đẩy mạnh mẽ điều này trong khối ASEAN. Mục tiêu chính của ASEAN nên chuyển từ việc đặt trọng tâm trên một bộ quy tắc ứng xử cho Biển Đông COC qua việc nhấn mạnh đến việc đòi tất cả các đối tác đối thoại của khối, kể cả Trung Quốc, là phải tôn trọng các chuẩn mực và pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.
Việt Nam cũng phải tiếp tục để mở khả năng tiến hành hành động pháp lý (kiện) Trung Quốc nếu nước này làm quá trong tương lai.
Việt Nam nên cố gắng định hình chương trình của Hội nghị các Tư lệnh Hải quân ASEAN, Diễn đàn Hàng hải ASEAN Mở rộng và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN sao cho các cơ chế này chú trọng hơn đến các biện pháp thiết thực để tăng cường an ninh hàng hải ở Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông.
Việt Nam cần phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Philippines (đã được tiến hành), Malaysia, Indonesia và Singapore. Cuối cùng, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác quốc phòng và an ninh với càng nhiều đối tác đối thoại càng tốt trên cả hai cơ sở song phương và đa phương.
T.N
Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140726-quan-he-viet-trung-khong-the-nhu-xua-sau-vu-gian-khoan-hd-981
http://www.boxitvn.net/bai/28314