Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Edward Snowden chính thức bị truy tố tội gián điệp

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 22 tháng sáu năm 2013

(Washington Post) - Công tố viên liên bang Hoa Kỳ hôm Thứ Sáu chính thức truy tố ông Edward Snowden, cựu nhân viên hợp đồng cho CIA và Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA), tội gián điệp vì tiết lộ bí mật an ninh quốc gia, và hiện đang trốn ở Hồng Kông kể từ cuối Tháng Năm.

Ông Snowden bị truy tố tội gián điệp, ăn cắp và làm thay đổi tài sản chính quyền, các giới chức cho biết, và họ yêu cầu không đưa tên họ vì cuộc điều tra đang tiến hành.
Ông Edward Snowden, có thể vẫn trốn ở Hồng Kông, vừa bị chính quyền Mỹ chính thức truy tố tội gián điệp. (Hình: AP Photo/The Guardian)
Hồ sơ truy tố ông Snowden được nộp tại tòa liên bang ở phía Ðông tiểu bang Virginia, nơi có thẩm quyền tư pháp với công ty Booz Allen Hamilton, nơi làm việc cuối cùng của ông trước khi trốn qua Hồng Kông.

Một nữ phát ngôn viên Bộ Tư Pháp từ chối giải thích về chuyện này khi được hỏi.

Ông Edward Snowden, 29 tuổi, trốn sang Hồng Kông hồi tháng trước sau khi bỏ việc đang làm tại một chi nhánh của Booz Allen Hamilton ở Hawaii, và thu giữ một số tài liệu mật của NSA khi ông làm ở cơ quan này trong vai trò một phân tích gia dữ liệu.

Các tài liệu này, một số được công bố trên hai tờ báo The Washington Post (Mỹ) và The Guardian (Anh), đưa ra chi tiết chính quyền Mỹ theo dõi và thu thập thông tin của người dân Hoa Kỳ và Anh, cũng như một số tài liệu tòa án có liên quan đến chương trình do thám này.

Người đàn ông 29 tuổi này công khai tên tuổi của mình hôm 9 Tháng Sáu, trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian, và nói rằng ông đến Hồng Kông vì đây là nơi có một “hệ thống văn hóa và luật pháp ông có thể làm việc mà không bị bắt ngay”.

Sau đó, ông Snowden tự nhiên biến mất, mặc dù nhiều người tin rằng ông vẫn còn ở Hồng Kông.

Ðặc khu này hiện do Trung Quốc quản trị, nhưng lại có nhiều quyền tự trị hơn so với lục địa.

Vụ tiết lộ tin của ông Snowden tạo ra một vụ bê bối chính trị làm náo động dư luận Hoa Kỳ, trong đó một số vị dân cử và người dân nghi ngờ việc làm của NSA có thể bị lạm dụng.

Giới chức Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ nói cuộc điều tra về ông Snowden vẫn đang được tiếp tục, và do văn phòng của FBI ở thủ đô Washington phụ trách, cùng với luật sư của NSA.

(Người Việt)

Số phận cho bài báo “triệu người vui, triệu người buồn”…

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 22 tháng sáu năm 2013

Ông Nguyễn Vĩnh, nguyên Tổng Biên tập báo Quốc Tế (nay là báo Thế Giới và Việt Nam), kể về một câu chuyện trắc trở xung quanh bài phỏng vấn nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
 

Ông Vĩnh kể đó là một trong những bài báo in trên Quốc Tế được xây dựng công phu nhất nhưng cũng lại là bài báo có số phận trải đủ cung bậc thăng trầm...

“Đăng và gỡ”…

. Xây dựng công phu nghĩa là thế nào, thưa ông?

+ Cuối năm 2004, anh em nghiên cứu chính sách đối ngoại bên ngoại giao và báo Quốc Tếđược gặp ông Võ Văn Kiệt nhằm trao đổi một số vấn đề đối ngoại. Sau buổi gặp, một phó tổng biên tập được phân công chấp bút, lựa những điều ông Kiệt trăn trở và tâm đắc nhất để soạn lại thành một bài viết dạng phỏng vấn. Hướng nhắm tới là cột mốc quan trọng năm 2005: 30 năm ngày giải phóng miền Nam, rất thích hợp để phát đi một tín hiệu đối ngoại quan trọng từ một nhân vật nguyên là lãnh đạo cấp cao. Bài được gửi xin ý kiến và được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồng ý cho đăng với kế hoạch thời gian sẽ đăng Quốc Tế số tết Ất Dậu 2005. 

. Vậy còn thăng trầm?

+ Đó là khi bài đã lên khuôn ở nhà in thì tôi nhận được chỉ đạo qua điện thoại không cho phép đăng bài đó.

. Một bài báo quan trọng như thế thông thường khi chưa lên trang chỉ nhân vật và tòa soạn biết, tại sao lại rò rỉ để đến mức bị chỉ đạo gỡ bài?

+ Đó cũng chính là câu tôi đã hỏi vị lãnh đạo đó. Nhưng ông ấy từ chối trả lời mà chỉ yêu cầu tôi thực hiện không cho bài ấy xuất hiện. Cuối cùng, chúng tôi phải bóc hết một “tay in” là tám trang, rồi thay vào một bài khác.

. Bài bị gỡ thường là “có vấn đề”, lúc đó ông có sợ trách nhiệm cá nhân của mình không?

+ Khi thực hiện bài phỏng vấn đặc biệt này, tôi đều có báo cáo với cơ quan chủ quản của báo là Bộ Ngoại giao. Bài viết hoàn thành, chúng tôi cũng gửi lại cho nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc, sau đó ông có phê vào bản thảo là đồng ý cho đăng. 

Nhà báo Nguyễn Vĩnh.

. Phản ứng của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi biết bài không được đăng như thế nào?

+ Ông ấy không hài lòng. Nguyên Thủ tướng còn viết thư riêng gửi cho một lãnh đạo cao cấp yêu cầu giải thích về việc này. Tôi vẫn còn giữ hai lá thư đó, bản gửi cho tôi biết, như một kỷ niệm công việc. 

Nhưng cuối cùng bài báo đó cũng được đăng với tựa đề là “Những đòi hỏi mới của thời cuộc”. 

+ Đúng rồi, sau lá thư của ông Võ Văn Kiệt, không rõ từ lý do nào và ra sao mà một thời gian sau ngày bị dừng thì tổng biên tập lại nhận được chỉ đạo phải đăng bài này. Nhưng đúng lúc đó thì nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lại không đồng ý để bài đó được đăng nữa. 

. Báo Quốc Tếđã làm gì để thuyết phục ông Võ Văn Kiệt đồng ý?

+ Việc này vượt ra ngoài tầm của Ban Biên tập. Đích thân đồng chí Nguyễn Phú Bình lúc đó là thứ trưởng Bộ Ngoại giao vất vả lắm mới nhận được cái gật đầu của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và bài báo đã được in vào ngày 30-3-2005. 

“Triệu người vui, triệu người buồn”

. Dư luận về bài báo đó ra sao, thưa ông? 

+ Dư luận rất tốt, rất nhiều báo ở trong nước và ngoài nước in lại hoặc đưa lên mạng bài báo này.

Bài báo hay ở nội dung và tư tưởng. Ngay mở đầu bài viết, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt tái khẳng định rằng chiến thắng 30-4 là vĩ đại nhưng người Việt Nam cũng “đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát”. Vì thế một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm sẽ “có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Vết thương chung của dân tộc như vậy cần được giữ lành, “thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Và muốn để mọi người Việt Nam chung tay hàn gắn thì chúng ta, người chiến thắng và đang lãnh đạo đất nước, “phải thực tâm khoan dung và hòa hợp”. Ở một lãnh đạo cấp cao, ý trên thật mới và rất quan trọng cho hòa hợp dân tộc.

 Trong bài trả lời phỏng vấn đó, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt còn có đánh giá về tướng Dương Văn Minh?

+ Đúng, nguyên Thủ tướng phân tích tướng Minh nhậm chức tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 28-4-1975 là thời điểm mà “một nhà quân sự như ông có thể đoán được sự thất thủ của Sài Gòn”, rồi Sài Gòn không “tử thủ” như các tướng tá khác muốn, trái lại thành phố giữ được nguyên vẹn do ông Minh chấp nhận đầu hàng. Sự việc được ông Kiệt kể lại: “Tôi và Thành ủy do anh Mai Chí Thọ phụ trách, sáng 30-4, khi nghe ông Minh kêu gọi binh lính buông súng để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng đã thở phào nhẹ nhõm. Phải ở chiến trường và vào đúng giờ phút ấy mới cảm nhận được tầm quan trọng của quyết định này”. Với cách nhìn nhận như vậy, ông Kiệt muốn nêu lên một thực tế, ông nói: “Điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là tất cả những ai đã vì lòng yêu nước thương nòi, bằng nhiều con đường khác nhau, từng đóng góp vào cái chung và không đòi hỏi gì cho riêng mình thì đều có quyền tự hào về những đóng góp đó và hãy tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa nhằm xây dựng Tổ quốc Việt Nam chúng ta giàu mạnh, văn minh, dân chủ và hạnh phúc”.

. Việc đánh giá về ông Dương Văn Minh như thế phải chăng cũng là một nguyên do khiến bài phỏng vấn đó bị yêu cầu dừng xuất bản?

+ Nguyên nhân thực sự tôi không rõ. Tuy nhiên, với hai ý lớn như thế, lại xuất hiện ở thời điểm 2005, khi mà trong nội bộ chúng ta còn có nhận thức và đánh giá chênh nhau, thậm chí khác nhau về thực chất của hòa hợp dân tộc và lực lượng thứ ba có liên quan đến tướng Dương Văn Minh, thì việc bài báo bị dừng lại, tôi nghĩ cũng là điều có thể hiểu được.

Ngoại giao văn hóa 

. Về hưu nhưng ông dường như vẫn quan tâm đến thời cuộc với nhiều bài viết trên blog cá nhân và Facebook... Ông nghĩ thế nào về ngoại giao của ta trong thời điểm hiện nay?

+ Chúng ta vẫn thường nghe câu “thêm bạn bớt thù” trong quan hệ quốc tế. Như vậy tức là chúng ta vẫn thừa nhận có thù, làm như điều này “không thể hết được”. Nhưng tôi nghĩ không nên tư duy về thù và “sắp xếp” hai khái niệm bạn/thù theo lối cũ, được như thế thì vẫn tốt hơn. Nói cách khác là nên xác định ở thời nay sẽ chẳng có bạn hay thù nào là vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi đất nước và dân tộc là vĩnh viễn và vĩnh cửu. 

. Nhưng có lúc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi dân tộc, chúng ta phải chạm trán với kẻ thù, thưa ông?

+ Như thế chúng ta mới cần phải có đường lối và chính sách ngoại giao đúng đắn. Cần nhiều cách ứng xử và biện pháp khác nhau vận dụng khôn ngoan. Trong quan hệ là hợp tác cùng có lợi và bình đẳng, là mềm mỏng nhưng cần thì phải đấu tranh khi lợi ích dân tộc bị xâm hại. Trải qua bao chục năm dâu bể, tôi thoáng nghĩ đến phương cách trung lập. Cái thế địa-chính trị của nước ta nó mách bảo điều này. Lãnh đạo cấp cao chúng ta chẳng nói là nước ta không liên minh với nước này chống lại nước kia, cũng không cho ai đặt căn cứ quân sự và nếu phải sắm vũ khí cũng là để phòng thủ… Đây là một chủ đề rất lớn nên chúng mình để lúc khác bàn đến…

Ông Nguyễn Vĩnh tốt nghiệp khoa Ngữ  Văn Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội khóa 1963-1967, ra trường ông được nhận vào làm việc như một biên tập viên tập sự tại NXB Ngoại văn. Từ năm 1998 ông được Bộ Ngoại giao bổ nhiệm làm tổng biên tập báo Quốc Tế cho đến năm 2006. Tiếp đó, ông còn là một trong những người gây dựng tuần báo Thời Đại của Liên hiệp Các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, là tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này đến năm 2008.
(PLTP)
http://webwarper.net/ww/~av/www.tintuchangngayonline.com/2013/06/so-phan-bai-bao-trieu-nguoi-vui-trieu.html

Thượng Nghị sỹ John McCain dẫn 'kẻ cựu thù' thăm Thượng Nghị viện Mỹ

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 22 tháng sáu năm 2013

Phái đoàn quân sự cao cấp CSVN đến Hoa Thịnh Đốn được nghị sĩ John Mc Cain dẫn đi thăm viếng trụ sở Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ hôm Thứ Năm,  20 Tháng Sáu vừa qua.

Đây là một cử chỉ lịch sự thông thường đối với quan khách tới thăm Thượng Viện Hoa Kỳ nhưng đối với phái đoàn quân sự cao cấp do thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng tham mưu trưởng quân đội và cũng là Thứ trưởng Quốc phòng CSVN, dẫn đầu lại có một ý nghĩa đặc biệt.
John McCain (giữa) hướng dẫn và giới thiệu tòa nhà Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ với thượng tướng Đỗ Bá Tỵ (phải), Tổng tham mưu trưởng và thứ trưởng Quốc phòng VN. (Hình: Daily Mail Reporter)
Cùng ngày tới thăm viếng và họp với giới chức Ngũ Giác Đài, phái đoàn Đỗ Bá Tỵ tới thượng viện Hoa Kỳ không ngoài nhu cầu vận động với ông John Mc Cain hậu thuẫn cho các đề nghị của chế độ Hà Nội.

Nghị sĩ John McCain trong chiến tranh Việt Nam là phi công của Hải quân Hoa Kỳ. Máy bay của ông đã bị bắn rơi ở ngoại thành Hà Nội năm 1967 và bị cầm tù, tra tấn, ở nhà giam Hỏa Lò mãi tới năm 1973 mới được thả sau hòa đàm Paris.

Ông rời quân đội năm 1981 với cấp bậc đại tá và bắt đầu tham gia chính trị, trở thành dân biểu 2 nhiệm kỳ rồi đắc cử nghị sĩ vào Thượng viện năm 1986. Ông là một trong những chính khách vận động tích cực cho sự bình thường hóa ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tuy vậy, ông từng nói ông không tha thứ cho họ không phải vì đối xử ác độc với ông mà với các bạn của ông.

Ông đã quay lại thăm Việt Nam năm 2000 và thêm nhiều lần sa kể cả năm ngoái, thăm lại cả nơi ông từng bị biệt giam và hành hạ cực hình ở Hỏa Lò, gặp lại cả kẻ đã bắt giữ ông trên cánh đồng.

Nhà cầm quyền Hà Nội đã nhiều lần nhờ ông vận động với chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận bán võ khí sát thương. Ông cũng từng cho hay Hà Nội đưa cho ông một danh sách dài những loại võ khí và trang bị quốc phòng cần mua của Hoa Kỳ.

(Người Việt)

Thêm chi tiết cho vụ Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đi thăm Mỹ

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 22 tháng sáu năm 2013

Đại tướng Martin Dempsey và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã có hội đàm hôm 20/6

Vào ngày Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, kết thúc chuyến thăm Mỹ của mình, các nguồn tin hai bên cho biết thêm chi tiết về chuyến đi.

Ông Tỵ ở Mỹ sáu ngày từ 17/6-22/6, trong đó ông có chuyến thăm lần đâu tiên tới Lầu Năm Góc.

Tại trụ sở Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Đỗ Bá Tỵ đã có cuộc gặp với Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, vào sáng ngày thứ Năm 20/6.

Hai đoàn đã có cuộc hội đàm, trong đó "ngoài các vấn đề khu vực [châu Á-Thái Bình Dương], hai ông Dempsey và Đỗ Bá Tỵ còn thảo luận về chính sách chuyển dịch trọng tâm về khu vực của chính quyền Obama", theo thông cáo từ phía Mỹ.

Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam thì tường thuật rằng "hai bên đã trao đổi về một số tình hình thế giới, khu vực cùng quan tâm".

Ông Đỗ Bá Tỵ, người cũng giữ chức thứ trường Quốc phòng, khẳng định: "Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ toàn diện với Hoa Kỳ, trong đó có quan hệ về quốc phòng".

Theo ông Tỵ, chuyến đi của ông "là dịp để tăng cường quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội hai nước, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng lên một bước mới".

Ông bày tỏ hy vọng hai bên tiếp tục triển khai bản Thỏa thuận thúc đẩy hợp tác quốc phòng đã ký kết.

Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ khẳng định Việt Nam "sẽ làm hết sức mình" để thúc đẩy quan hệ Asean-Mỹ.
Martin Dempsey và Đỗ Bá Tỵ
Tăng cường phối hợp

Tuy không có chi tiết nào đột phá nhưng một điểm đáng chú ý, là thứ trưởng quốc phòng Việt Nam đề nghị hai nước "tăng cường phối hợp trên các diễn đàn đa phương" để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, "trước hết trong cơ chế hợp tác giữa các nước Asean và các nước đối tác", trong có Trung Quốc.

Về phần mình, Đại tướng Martin Dempsey bày tỏ ủng hộ giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của LHQ về Luật Biển 1982.

Ông cũng nói Mỹ mong muốn Asean và Trung Quốc sớm xây dựng được Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).
"Hai bên trong thời gian tới cần phối hợp thật tốt trên các diễn đàn đa phương để cùng nhau góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, trước hết trong cơ chế hợp tác giữa các nước Asean và các nước đối tác."- Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ
Đoàn của Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam có các tướng lĩnh cao cấp như Trung tướng Phương Minh Hòa, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân; Trung tướng Phạm Ngọc Hùng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng; Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân; Thiếu tướng Phạm Hữu Mạnh, Chánh văn phòng Bộ Tổng Tham mưu; và Thiếu tướng Vũ Chiến Thắng, Cục trưởng Cục Đối ngoại.

Báo Quân đội Nhân dân cho hay trong thời gian ở Mỹ đoàn đã đến thăm Đại học Quốc phòng, Bộ tư lệnh Hạm đội 3, Cảnh sát biển thành phố San Diego, Đơn vị tìm kiếm cứu nạn và Bộ Tư lệnh Quân đoàn I.

Tin từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn I Hoa Kỳ nói Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã tới thăm căn cứ liên quân Lewis-McChord, bang Washington, hôm 18/6.

Tại đó, ông đã được Trung tướng Robert Brown, Chỉ huy trưởng Quân đoàn I, đón tiếp và nghe trình bày về chiến lược chuyển dịch trọng tâm sang châu Á-Thái Bình Dương của quân đội Mỹ.

Tướng Tỵ cùng đoàn tháp tùng đã tham quan cơ sở tại căn cứ Lewis-McChord.
Chuyển hướng sang Đông Nam Á

Trong cuộc gặp, Tướng Brown nói với phía Việt Nam: “Chúng tôi muốn chuyển dịch sang Đông Nam Á".

"Đây là nơi chúng tôi chưa có điều kiện có mặt vì tham gia vào các nơi khác trên thế giới."

Ông Robert Brown khẳng định: "Chính sách chuyển hướng của quân đội sẽ là tăng cường lực lượng ở Đông Nam Á để hợp tác với các đối tác tuyệt vời như quý vị".

Tướng Brown cho đoàn Việt Nam xem một bản đồ có gắn bảy ngôi sao, là nơi diễn ra các cuộc tập trận chung lớn có mặt quân đội Mỹ: Trung tâm Huấn luyện Yakima ở bang Washington, Australia, Thái Lan, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, và Hawaii.

Ông nói: “Nếu thêm được một ngôi sao nữa ở đây, ở Việt Nam, thì thật là tuyệt vời".

Theo vị chỉ huy Quân đoàn I, điểm quan trọng trong tương lai sẽ là cơ hội tập luyện chung với nhau, ở Mỹ hay ở Việt Nam hoặc ở cả hai nơi.

Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố không liên minh quân sự với nước nào và chưa có ý định tham gia tập trận chung.

Một chi tiết gây tò mò trong Bấm bản tin đăng trên website của Bộ Lục quân Mỹ là ông Đỗ Bá Tỵ hỏi ông Brown liệu phía Mỹ có tìm cách gây ảnh hưởng tới chuyện nội bộ các nước hay không.

Tướng Brown giải thích rằng mục tiêu của chiến lược chuyển trọng tâm không phải là can thiệp hay gây ảnh hưởng với chuyện nội bộ trong khu vực, mà là hoạt động thuần túy về phương diện quân sự, nhắm tới xây dựng quan hệ thân cận để ngăn ngừa xung đột.

“Không có gì các nước không giải quyết được khi hợp tác với nhau," ông nói, hàm ý nhắc tới các đe dọa như cướp biển, khủng bố và thiên tai.

Tuy trước mắt Việt Mỹ chưa có kế hoạch tập trận chung, hai bên có thể cùng tham gia huấn luyện gìn giữ hòa bình và quân y.

(BBC)

Chính phủ vì dân ở Tàu quốc?

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 22 tháng sáu năm 2013

Các cuộc điều tra dám nhận lời thách với tuyên bố cho rằng nhân dân Trung Quốc đang trở nên chán ghét chính phủ của họ.

Một mâu thuẫn rõ ràng tồn tại ở trung tâm của bình luận chính trị về Trung Quốc. Một mặt, một số nhà quan sát Trung Quốc ở nước ngoài thường xuyên thảo luận về việc các công dân Trung Quốc bình thường đang ngày càng không hài lòng với sự lãnh đạo của chính phủ và đảng cộng sản. Mặt khác, các cuộc thăm dò dư luận đã cho thấy một mức độ ủng hộ phổ biến dành cho Đảng Cộng sản Trung Quốc đang cầm quyền.

Tibet_protestThật vậy, trong một cuộc khảo sát quan trongj, trực tiếp trên toàn quốc mà chúng tôi tham gia, mà kết quả chúng tôi đã công bố gần đây trong một bài báo đăng trên Tập san nghiên cứu chính trị, chúng tôi phát hiện ra một mức độ hài lòng rất cao của công chúng đối với chính phủ quốc gia. Dựa trên phản hồi từ một mẫu ngẫu nhiên toàn quốc gồm 3763 người Trung Quốc, chúng tôi thấy sự ủng hộ của người dân trung bình đối với chính phủ ở Bắc Kinh là khoảng 8,0 trên thang điểm 10.

Kết quả này phù hợp với tính toán từ các cuộc điều tra khác gần đây. Ví dụ, theo Khảo sát Giá trị Thế giới lần thứ 6, được tiến hành vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013, mức ủng hộ trung bình của người Trung Quốc là 7,5 trên thang điểm từ 0-10. Mức ủng hộ này khá cao so với nhiều chính phủ được bầu một cách dân chủ trên toàn thế giới. Theo những con số này, thì chính phủ Trung Quốc hầu như không có vẻ đang trên bờ vực sụp đổ, như một số nhà bình luận thường nêu.
Thay vào đó, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, đối với tâm lý chính trị của người dân Trung Quốc, tin tưởng chính trị – một niềm tin vào tính hợp pháp của chính phủ – có vẻ như lý do chủ đạo cho ủng hộ rộng rãi của họ về hệ thống chính trị.

Một số giả thuyết đã được đưa ra nhằm giải thích mức độ tin tưởng vào chính phủ cao của công chúng Trung Quốc. Một lập luận thường được nêu là các cuộc thăm dò dư luận ở Trung Quốc chỉ đơn giản là không thể chính xác. Theo quan điểm này, trong một xã hội đàn áp như Trung Quốc, mọi người quá sợ nên không dám nói với các nhà nghiên cứu những gì họ thực sự tin tưởng, và thay vào đó giả vờ ủng hộ cho chính phủ.

Nhưng lập luận này bị phản bác bởi các cuộc thảo luận chính trị trực tuyến sống động ở Trung Quốc, các cuộc biểu tình, kiến ​​nghị thường xuyên, và thậm chí cả các cuộc hội thoại hàng ngày với những người bình thường trên đường phố, tất cả đều cho thấy rõ rằng các cá nhân công dân không rụt rè về việc bày tỏ sự không hài lòng của họ đối với nhà nước, mặc dù họ có thể cẩn thận hơn khi tham gia vào các hoạt động chính trị có tổ chức.

Những quan sát này cũng đi ngược lại với một lời giải thích phổ biến về sự tin tưởng chính trị cao của Trung Quốc – kiểm duyệt các phương tiện truyền thông. Quan điểm này cho rằng vì chính phủ ức chế dòng chảy tự do của thông tin trong xã hội Trung Quốc, chỉ có thông tin tích cực được phát sóng. Như vậy, các phương tiện truyền thông đảm nhận công việc huy động công chúng ủng hộ của chính phủ.

Tuy nhiên, việc kiểm soát internet là khó khăn hơn nhiều trong thời đại thông tin. Không còn dễ dàng che dấu mặt tối của chính phủ. Chúng tôi tin rằng vai trò của các phương tiện truyền thông trong vận động chính trị đã giảm. Các cân nhắc lợi ích đã làm giảm hơn nữa vai trò của phương tiện truyền thông trong vận động chính trị. Trong một môi trường thị trường, tổ chức truyền thông cạnh tranh nhau về khán giả, độc giả với quan điểm chính trị khác nhau, kết quả là có sự đa dạng hóa phương tiện truyền thông. Ngoài ra, có các trang web truyền thông xã hội mà ngày càng vạch trần những tham nhũng và các vụ bê bối của chính phủ. Thế thì, nhìn tổng thể, tuyên bố rằng phần lớn dân Trung Quốc chỉ biết nói “tin tốt” về chính phủ hầu như không phải một mô tả chính xác về Trung Quốc hiện đại.

Thành tích kinh tế là một lý do thường được nhắc đến đối với uy tín của chính phủ Trung Quốc. Quan điểm này cho rằng tốc độ tăng trưởng cao của Trung Quốc và mức sống được cải thiện đã khiến phần lớn dân Trung Quốc thấy hài lòng với tài chính cá nhân và lạc quan về triển vọng kinh tế tương lai của đất nước. Bởi vì họ khẳng định rằng các điều kiện kinh tế này là do các chính sách của chính phủ tạo ra, nhìn chung họ hài lòng với hoạt động của chính phủ.

Một vấn đề với lời giải thích kinh tế là nó không giải thích được khoảng cách giữa Trung Quốc và các xã hội phát triển cao khác. Ở mức độ tăng trưởng kinh tế cao tương tự, tại sao niềm tin chính trị ở Trung Quốc vẫn cao hơn ở các nơi khác, chẳng hạn như Ấn Độ và Brazil? Mông Cổ, chẳng hạn, đã có một trong những tỷ lệ tăng trưởng cao nhất thế giới trong vài năm qua nhưng, trong một cuộc khảo sát vào tháng sáu năm 2012, “hơn 80 phần trăm số người được hỏi tin rằng các chính sách của chính phủ “luôn luôn” hoặc “thường xuyên” không giải quyết các mối quan tâm của họ. “Hơn nữa, nhiều quá trình chuyển đổi dân chủ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chẳng hạn như Hàn Quốc và Đài Loan, bắt đầu sau khi các chính phủ đã bắt đầu cải thiện nền kinh tế. Do đó, nói tăng trưởng kinh tế sẽ tự động chuyển thành mức độ ủng hộ chính phủ hầu như đúng lắm.

Một lời giải thích cho mức độ tin tưởng vào chính quyền trung ương cao của công chúng Trung Quốc là Nho giáo, trong đó nhấn mạnh hệ thống thứ bậc và vâng lời. Các nhà quan sát đưa ra những lập luận này cho rằng văn hóa Trung Quốc đơn giản là đã quen với việc chấp nhận vô điều kiện quyền lực chính trị. Thế thì, mặc nhiên, thành tích của ĐCSTQ có ít ý nghĩa trong việc mang lại mức độ tin tưởng mà người Trung Quốc đặt vào nó.

Lời giải thích này cũng không thể để vượt qua sự kiểm chứng. Trước hết, nếu Nho giáo thấm nhuần tư tưởng vâng phục chính phủ, tại sao các xã hội Nho giáo khác như Đài Loan lại không có mức độ tin tưởng vào chính phủ cao tương tự? Và Nho giáo đã là một trụ cột của Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, nhưng lịch sử của Trung Quốc chứa chất rất nhiều các ví dụ về việc chính quyền trung ương đánh mất sự ủng hộ của dân chúng. Cũng có điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo chính phủ tại Trung Quốc ngày nay chắc chắn không tin rằng họ có được sự ủng hộ của công chúng là một lẽ đương nhiên.

Thật vậy, một trong những thực tế chính trị ít nhận thấy ở Trung Quốc là sự đáp ứng của chính phủ đối với nhu cầu của công chúng.

Thoạt nhìn, thật là phản trực giác khi cho rằng một chính quyền độc tài cần phải đáp ứng với công luận, bởi vì các nhà lãnh đạo độc tài không phải đối mặt với bất kỳ cuộc bầu cử có ý nghĩa ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng sự vắng mặt của các cuộc bầu cử quốc gia có ý nghĩa không có nghĩ là không hề có nhu cầu chính trị nào. Đúng là, tính trung bình, sự hài lòng với chính phủ quốc gia là cao, nhưng nó không hề hoàn hảo, hoặc thống nhất. Trong thực tế, khoảng 65 phần trăm công chúng ở Trung Quốc báo cáo ít nhất cũng có một mức độ không hài lòng với chính quyền trung ương. Sự không hài lòng này dường như được “lắng nghe” bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vốn tuyên bố là đại diện cho lợi ích của “hầu hết” người Trung Quốc.

Thiếu các cuộc bầu cử như một thước đo hiệu quả để đo tính đại diện như vậy, ĐCSTQ lo sưoj một cách hoang tưởng về mỗi một người biểu tình duy nhất trên đường phố. Trong khi phải dùng đến phương pháp cưỡng chế bất cứ khi nào cần thiết, nó cũng cảm thấy bắt buộc phải đáp ứng nhu cầu công cộng khi có thể. Vì vậy, trong khi kiểm soát phương tiện truyền thông, hoạt động kinh tế và truyền thống văn hóa không phải hoàn toàn không thích hợp, chúng chỉ là một phần tương đối nhỏ trong lời giải thích lý do tại sao niềm tin chính trị rất cao ở Trung Quốc. Trong thực tế, phân tích liên tục của chúng ta về số liệu điều tra dư luận gần đây cho thấy rằng phản hồi đó chiếm hơn 50 phần trăm sự thay đổi trong niềm tin chính trị. Nói cách khác, sự đáp ứng của chính phủ cho đến nay là lý do quan trọng nhất đối với mức độ cao của niềm tin chính trị ở Trung Quốc.

Điều này không phải để nói rằng mô hình chính phủ Trung Quốc đảm bảo ổn định chính trị bất chấp thiếu các cơ chế thể chế bầu cử tự do và công bằng. Tình cảm công chúng nhạy cảm với các sự kiện chính trị lớn, chẳng hạn như một chính sách xấu hoặc sự sụp đổ của một nhà lãnh đạo lớn. Dư luận cũng có thể nhanh chóng biến thành sự bất bình của công chúng, và do đó tính hợp pháp của chế độ và ổn định chính trị có thể bị trực tiếp đe dọa.

Thật vậy, chúng ta thấy rằng các nguồn chính của sự được lòng dân của chính phủ quốc gia (hoặc mất lòng dân), bên cạnh những yếu tố niềm tin riêng của nó, chính là thực hiện chính sách. Đặc biệt, khi chính quyền trung ương không cung cấp dịch vụ địa phương đầy đủ, công chúng sẽ bày tỏ sự bất mãn gia tăng với chính phủ.

Wenfang Tang và Michael S. Lewis-Beck là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Iowa. Nicholas F. Martini là một giáo sư phụ tá về khoa học chính trị tại Đại học Saint Thomas. Họ là tác giả của “Chức năng lấy lòng dân Trung Quốc: Nguồn gốc ủng hộ Chính phủ,” một bài báo xuất hiện trong số ra tháng 12 năm 2013  của Tập san Nghiên cứu Chính trị.

Wenfang Tang, Michael S. Lewis-Beck, và Nicholas F. Martini -  The Diplomat
Trích Một góc của tôi

17 tháng 6 2013

(TCPT)

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Dư luận quốc tế xung quanh vị Tân Hồng y Việt nam: Francisco Xavier Nguyễn Văn Thuận

Dư luận quốc tế
chung quanh vị tân Hồng Y Việt Nam
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

Dư luận quốc tế chung quanh vị tân Hồng Y Việt Nam, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
 Ðã từ lâu, tôi rất tâm đắc với một lời tuyên bố rất ý nghĩa sâu sắc của cố Tổng Thống Mỹ John Fitzerald Kennedy (1917 - 1963) nói với người dân Hoa Kỳ: "Ðừng đòi hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho bạn, nhưng hãy tự hỏi bạn đã đóng góp gì cho sự phồn thịnh để vinh danh Tổ Quốc bạn?!"
 Trong thời gian qua, lời tuyên bố lịch sử trên đây quả thật đã trở thành phương châm cho mọi sinh hoạt của rất nhiều người Mỹ, đặc biệt cho giới trẻ Hoa Kỳ dấn thân phục vụ Tổ Quốc họ. Qua đó đã làm cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ trở thành một quốc gia giàu mạnh trên mọi lãnh vực và hiện nay là siêu cường số một trên bàn cờ thế giới.
 Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo và Dân Tộc Việt Nam, lần đầu tiên một người Việt Nam được bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, tương đương với chức vụ Tổng Trưởng trong Quốc Gia Vatican. Chưa hết, lần đầu tiên một người Việt Nam được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lựa chọn để giảng thuyết trong suốt một tuần lễ Tĩnh Tâm Mùa Chay Năm Thánh 2000 cho chính Ðức Thánh Cha và toàn thể nhân viên cao cấp thuộc Giáo Triều Vatican. Và cũng lần đầu tiên, chính con người sống ngoài Việt Nam ấy lại được vinh thăng Hồng Y, trong một thánh lễ đại trào vô cùng long trọng ngày 21 tháng 2, 2001 tại Quảng trường Thánh Phêrô, cái nôi của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Phải chăng đó không phải là một ơn phước, niềm hãnh diện to lớn cho Giáo Hội Công Giáo và Tổ Quốc Việt Nam sao?!.
 Tuần qua, báo chí Mỹ và dư luận quốc tế đã loan tải nhiều tin tức và bình luận việc Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vinh thăng 44 Tân Hồng Y, trong đó có một người Việt Nam là Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, với việc đánh giá Ngài có nhiều khả năng trở thành vị Giáo Hoàng trong tương lai. Ðể chi tiết và khai triển những ý kiến trên, chúng tôi đã theo dõi dư luận quốc tế chung quanh sự kiện quá đặc biệt này qua các nhật báo lớn như L'Osservatore Romano, The Washington Post, The New York Times, The Los Angeles Times, The New York Post và cuốn sách bình luận giá trị The Next Pope để cống hiến quý độc giả.
 MỘT NGHI LỄ TẤN PHONG HỒNG Y LỚN NHẤT LỊCH SỬ GIÁO HỘI.
 Chính vì đây là một vinh dự và hãnh diện lớn lao cho dân tộc Việt Nam, hầu hết các nhật báo, tuần báo, đặc san Việt Ngữ hải ngoại, đặc biệt tại Hoa Kỳ, đều loan tin về nghi lễ tấn phong Hồng Y, trong đó có vị Tân Hồng Y Việt Nam là Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình tại Giáo Triều Vatican. Người ta thấy các cơ quan truyền thông quốc tế, báo chí truyền thanh truyền hình đều tường thuật với nhiều hình ảnh về sự kiện lịch sử có một không hai này trong Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ.
 Nhật báo The Los Angeles Times, số phát hành ngày 22 tháng 02, 2001, đã tường thuật diễn tiến nghi lễ tấn phong Hồng Y lớn nhất lịch sử này và chúng tôi xin được tóm lược nội dung như sau:
 Nghi lễ tấn phong 44 vị Tân Hồng Y đã được diễn ra ngày thứ tư 21 tháng 2, 2001 dưới bầu trời trong xanh và ánh nắng rực rỡ huy hoàng của Mùa Xuân. Trước tiền đình quảng trường đền thờ Thánh Phêrô là một quang cảnh vô cùng ngoạn mục đầy màu sắc. Trước hết là màu đỏ trên phẩm phục của 44 vị Tân Hồng Y và 80 Hồng Y trong Hồng Y Ðoàn; màu tím của 250 Tổng Giám Mục và Giám Mục; màu đen của 12 Thượng Phụ Công Giáo theo nghi lễ Ðông Phương; màu trắng của các linh mục tham gia trong đoàn đồng tế và giúp lễ. Thêm vào đó là đủ loại màu sắc của quốc kỳ các quốc gia đang tung bay. Ngay cả đoàn ngự lâm quân Thụy Sĩ cũng đội nón với ngù đỏ, thỉnh thoảng lại bay tung lên phất phới trong gió Xuân. Tất cả đã tạo thành một quang cảnh vô cùng rực rỡ đẹp mắt.
 Ðức Tân Hồng Y người Ý Giovanni Battista Re, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giám Mục, đã dẫn đầu đoàn rước tiến ra trong tiếng hoan hô vỗ tay liên tục của trên 50,000 người khắp thế giới hiện diện tại buổi lễ. Tiếp theo sau các Hồng Y là đoàn đồng tế và các Tổng Giám Mục và Giám Mục, Ðức Thánh Cha đã đến sau đó vài phút. Ngài tiến ra từ bên trong đền thờ Thánh Phêrô và đi thẳng về ghế của Ngài trước tiền đình đền thờ.
 Trên 250 ký giả, trong đó có 2 ký giả người Việt thuộc Thông Tấn Xã Việt Nam Công Giáo, đã được Tòa Thánh cấp thẻ ký giả đặc biệt trong biến cố này cùng với 40 nhiếp ảnh gia. Buổi lễ đã được hệ thống truyền hình RAI của nước Ý cùng với 74 đài truyền hình lớn và 180 đài truyền thanh đã phóng sự trực tiếp nghi lễ tấn phong Hồng Y sáng ngày 21 tháng 2, 2001 cho gần 100 nước trên thế giới. Các trạm phát tin trên Internet như EWTN cũng truyền trực tiếp trên mạng lưới điện toán toàn cầu.
 Cảm tưởng chung của những người theo dõi nghi lễ này thì đây là một biến cố tôn giáo vô cùng cảm động. Còn các vị Tân Hồng Y được tấn phong thì sao? Ðức Hồng Y Avery Dulles, Giáo sư Ðại Học Fordham, Thành phố New York, là một người lúc bình thường diễn thuyết rất hùng hồn, nhưng khi nhận mũ Hồng Y, Ngài đã run quá cứ làm rớt mũ hoài!! Trong khi đó, Ðức Hồng Y Theodore Edgar McCarrick, Tổng Giáo Phận Hoa Thịnh Ðốn, cho biết khi lên nhận mũ Hồng Y Ngài đã chú tâm cầu nguyện sốt sắng cho đỡ run!! Ngài thú nhận: "Lúc đó, tôi xúc động quá! Tôi chỉ mong sao đừng trượt té lúc bước xuống thềm đền thờ là mừng lắm rồi! Ðây là giây phút mà suốt đời tôi không thể nào quên được! Hy vọng đó là giây phút hồng ân mà Thiên Chúa muốn dùng để tăng sức mạnh cho tôi làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình."
 Tân Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, vị thứ hai tiến lên nhận mũ đỏ và sắc tấn phong chưa cho biết cảm tưởng, nhưng giữa những tràng pháo tay và những tiếng hoan hô của các phái đoàn Việt Nam đến từ khắp nơi trên thế giới, có thể cho người ta thấy Ngài cũng hết sức xúc động!! Ðược biết phái đoàn từ Việt Nam sang mừng lễ gồm có Ðức Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể, Ðức Cha Nguyễn Văn Sang, Ðức Cha Nguyễn Văn Yến, Ðức Cha Trần Xuân Hạp, hai nữ tu đại diện, ngoài ra còn có các linh mục và nữ tu Việt Nam đang phục vụ tại Rôma, các phái đoàn linh mục, tu sĩ nam nữ và trên một ngàn giáo dân đồng hương đến từ Hoa Kỳ, Úc và các nước Âu Châu.
 Thông tấn xã Reuters cho biết: Với nghi lễ tấn phong 44 Tân Hồng Y thuộc 27 quốc gia, gồm đủ 5 lục địa, tổng số các Hồng Y trên thế giới đã lên đến con số chưa từng thấy 183 vị. Kể từ khi được bầu lên chức Giáo Chủ Công Giáo, trở thành Giáo Hoàng thứ 264 ngày 16 tháng 10, 1978, đây là lần thứ 8 Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tấn phong hồng y và cũng là lần có nhiều tân hồng y nhất. Ðiểm này cho thấy bản thân Ðức Thánh Cha cảm thấy Ngài không còn sống được bao lâu nữa. - Trong Hồng Y Ðoàn (College of Cardinals) hiện nay, trong số 183 vị chỉ có 135 vị dưới 80 tuổi có quyền bầu Giáo Hoàng tương lai, mà trong số 135 hồng y này ngoại trừ 10 vị (tức 92.5%) đều do Ðức Gioan Phaolô II tấn phong. Như vậy lại càng thêm khả năng là vị Giáo Hoàng kế vị sẽ là một người bảo thủ về thần học theo hình ảnh Giáo Hoàng hiện nay.
 Sau lần tấn phong Hồng Y ngày 21 tháng 2, 2001, trong số 62 quốc gia có Hồng Y, quốc gia có nhiều Hồng Y nhất vẫn là Ý Quốc với 41 vị (24 được bầu Giáo Hoàng), theo sau là Hoa Kỳ với 13 vị (11 được bầu Giáo Hoàng), Ðức Quốc với 9 vị (5 được bầu Giáo Hoàng), Ba Tây với 8 vị (7 được bầu Giáo Hoàng), Tây Ban Nha với 7 vị (4 được bầu Giáo Hoàng).- Về phương diện tuổi tác, Hồng Y lớn tuổi nhất hiện nay là Hồng Y Corrado Bafile nước Ý 97 tuổi và vị Hồng Y trẻ nhất hiện nay là Hồng Y Vinko Puljic của Bosnia 55 tuổi.- Trong tổng số 183 Hồng Y tiêu biểu cho 5 lục địa, trong số này có 96 vị thuộc Âu Châu, 18 vị thuộc Bắc Mỹ, 33 thuộc Châu Mỹ La Tinh, 17 thuộc Á Châu, 16 thuộc Phi Châu và 4 thuộc Úc Châu và Châu Ðại Dương.
 Về nhiệm vụ và trách nhiệm của Hồng Y, Giáo luật đã ghi rõ từ khoản 349 đến 359: Các Hồng Y lập thành một tập đoàn riêng biệt gọi là Hồng Y Ðoàn, với thẩm quyền bầu Tân Giáo Hoàng chiếu theo quy luật riêng. Ngoài ra các Hồng Y còn được gọi là "Hoàng Tử của Giáo Hội" (The Prince of The Church) được coi như những cố vấn của Ðức Giáo Hoàng để Ngài tham khảo ý kiến trong các vấn đề quan trọng và giúp Ngài điều hành Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ.- Y phục của Hồng Y là màu đỏ tượng trưng màu máu tử đạo của hai thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ, sẽ là những chủ chăn sẵn sàng chết vì Ðạo. Còn màu áo của Ðức Giáo Hoàng là màu trắng, lý do là Giáo Hoàng Piô V (1566 - 1572) là một giám mục dòng Ða Minh khi được bầu Giáo Hoàng có thói quen mang y phục màu trắng.
 DƯ LUẬN QUỐC TẾ CHUNG QUANH TÂN HỒNG Y VIỆT NAM.
 Nhân dịp loan tin Tòa Thánh Vatican tấn phong 44 Tân Hồng Y, nhiều nhật báo lớn và rất uy tín với hàng triệu độc giả đã đặc biệt quan tâm đến Tân Hồng Y Việt Nam là Ðức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận như L'Osservatore Romano, The Washington Post, The New York Times, The Los Angeles Times và The New York Post. - Nhật báo L'Osservatore Romano, cơ quan ngôn luận chính thức của Tòa Thánh, số phát hành ngày thứ tư 22 tháng 2, 2001, đã đăng hình lớn Ðức Thánh Cha đang ôm hôn Tân Hồng Y Việt Nam ngay trang nhất chiếm 4 cột báo rất trịnh trọng. Và trong tiết mục lược tóm tiểu sử 44 Tân Hồng Y, Ngài là người thứ hai chỉ đứng sau Tân Hồng Y Giovanni Battista Re, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giám Mục. Và tiểu sử đức Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận được viết dài nhất chiếm hẳn 3 cột báo, khởi đầu từ tổ tiên Ngài bị bách hại vì Ðạo Chúa từ năm 1698. Cụ tổ của dòng họ làm sứ thần nhà vua triều Nguyễn tại Trung Hoa, sau này trở lại công giáo, bị trục xuất khỏi triều đình và tài sản bị tịch thu hoàn toàn cho đến bản thân Ðức Tân Hồng Y bị cộng sản giam 13 năm tù ngục và hiện nay là Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình trong Giáo triều Vatican.
 Nhật báo The Washington Post và The New York Times, số phát hành ngày 22 tháng 2, 2001, sau khi tường thuật lễ nghi tấn phong các Tân Hồng Y, đã viết về 3 vị Tân Hồng Y người Mỹ là Theodore Edgar McCarrick, Tổng Giáo Phận Hoa Thịnh Ðốn, Edward Michael Edgar, Tổng Giáo Phận New York và Avery Dulles, Dòng Tên, Giáo Sư Ðại Học Fordham, New York, đã nhấn mạnh đến trường hợp Ðức Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.- Ngài là một nhân chứng sống về Niềm Tin Công Giáo với 13 năm tù ngục. Và hai nhật báo này đã chú ý đến một hành vi rất đặc biệt: Ngài là vị Tân Hồng Y duy nhất được Ðức Thánh Cha trực tiếp đội mũ hồng y trên đầu Ngài, trong khi 43 vị kia sau khi nhận mũ thì tự mình đội lên đầu. Phải chăng hành vi này chứng tỏ lòng ưu ái đặc biệt của Ðức Giáo Hoàng với Tân Hồng Y Việt Nam và gián tiếp với dân tộc chúng ta.
 Nhật báo The Los Angeles Times, số phát hành ngày 21 tháng 2, 2001, trong một bài báo nhan đề "The Men Who Would Be Pope?" (Người Có Thể Lên Ngôi Giáo Hoàng?) đã dự đoán 14 vị Hồng Y có nhiều khả năng kế vị Ðức Giáo Hoàng. Bài báo chia 14 Hồng Y này thành nhiều khuynh hướng khác nhau theo ý kiến chủ quan của tác giả. Ðặc biệt, theo tác giả, Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có rất nhiều khả năng được bầu kế vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. - Theo thiển ý của chúng tôi, mặc dầu đây chỉ là một dự đoán, nhưng cũng cho thấy Tân Hồng Y Việt Nam có một uy tín lớn lao trên thế giới... Ai biết được Thánh Ý Thiên Chúa an bài thật huyền nhiệm và kỳ diệu.
 Trong khi đó Nhật báo The New York Post, số ngày Chúa Nhật 25 tháng 2, 2001, cũng đăng bài nhan đề "Is Asian Cardinal In Line For Papacy ?" (Một Hồng Y Á Châu Có Thể Lên Ngôi Giáo Hoàng?) của ký giả Rod Dreher.- Chúng tôi xin lược tóm bài báo này như sau để cống hiến quý độc giả:
 Ðứng trong ngôi đền thờ xây trên mộ Thánh Tử Ðạo Phêrô từ thế kỷ thứ IV, Ðức Tân Hồng Y Edward Michael Egan, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New York, đã nói về một chứng nhân anh hùng trong thời đại ngày nay, - người đã cùng nhận mũ đỏ với Ngài hồi đầu tuần này - là một Tân Hồng Y anh hùng được rất nhiều người tin là một trong những ứng viên sáng giá nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng tiếp theo.
 Tân Hồng Y Phanxicô Xavie, 73 tuổi, đã từ chối không bỏ nhiệm sở của Ngài là Phó Tổng Giám Mục Sàigòn khi Miền Nam rơi vào tay những người cộng sản. Họ đã bỏ tù Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, bởi vì Ngài là người Công giáo, một linh mục, hơn nữa một Tổng Giám Mục! Người cộng sản đã ném Ngài vào lao tù và giam Ngài trong 9 năm cơ cực! Sau khi chịu đựng tổng cộng 13 năm tù ngục, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được trả tự do năm 1987 nhưng vẫn bị quản chế tại gia! Năm 1991, chính quyền cộng sản Việt Nam trục xuất Ngài và Ngài đã đến Vatican làm việc trong Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, mà nay Ngài là Chủ Tịch. Chính trong ngày được tấn phong, Tân Hồng Y Việt Nam này đã đeo quanh cổ mình một cây thánh giá bằng gỗ mà Ngài đã tự tay làm lấy tại nhà giam. Ðức Hồng Y Edward Egan nói về Hồng Y bạn mình như sau: "Chúng ta có thể nói chắc chắn rằng Ngài đã tuyên xưng Ðức Tin bằng chính máu của Ngài."
 Qua tiếp xúc với Ngài, người ta không thể nào biết hết những gian truân cơ cực mà vị cao niên hiền lành này đã phải hứng chịu! Ngài nói rất ngọt ngào, trìu mến và rất dịu dàng dễ thương. Trong buổi tiếp tân chúc mừng Ngài, tôi (ký giả Rod Dreher) hỏi Ngài làm sao sống nổi qua những trại tù cộng sản sắt máu mà không mất niềm tin, không mất trí nhớ và lòng thương cảm!? Ngài trả lời nhẹ nhàng: " Tôi nhận được những ân huệ này từ Thiên Chúa. Nếu chỉ riêng mình tôi thì tôi yếu đuối lắm! Cũng nhờ những lời cầu nguyện của Cộng Ðoàn Dân Chúa và của riêng tôi."
 Bất chấp chế độ lao tù tàn bạo, Ngài đã cố dâng thánh lễ hàng ngày trong xà lim. Tôi cử hành Phụng Vụ Thánh Thể mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong bàn tay tôi. Với sự trợ giúp của một chú bé 7 tuổi, Ngài đã lén chuyển ra ngoài, mỗi ngày một trang, cuốn sách đầu tiên của Ngài "Ðường Hy Vọng."
 Ðức Hồng Y Edward Egan nói với ký giả Rod Dreher: "Hãy nói với độc giả của anh, đừng bao giờ quên rằng còn có quá nhiều anh chị em ở các nước khác đang chịu đau khổ vì Ðức Tin, ngay cả cái chết."- Những người biết Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đều nói rằng cá tính hay mắc cỡ của Ngài và những bài diễn văn tuy đơn sơ nhưng che dấu trí thông minh, lòng can đảm và sự hiểu biết, những điểm mà Ðức Thánh Cha đã nhìn thấy rất rõ khi tấn phong Hồng Y cho Ngài.
 Linh mục Robert Sirico, một người bạn của Ngài hiện là Giám Ðốc Học Viện Acton tại Tiểu Bang Michigan Hoa Kỳ, cho biết: "Ngài không phải là người ăn nói luồn lách giỏi. Những gì Ngài đã nhận được và đã đến với Ngài đều do sự chân thật toát ra từ bản thân Ngài. Ngài chính là niềm linh hứng cho những ai được hân hạnh gặp gỡ và nghe chuyện của Ngài."- Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã viết nhiều sách và gần đây đã đối thoại trong một diễn đàn công khai với Bill Gates và đã nói thẳng với nhà tỷ phú Microsoft là hiện tượng toàn cầu hóa chỉ có thể là một động lực tốt, khi nó không bỏ lại ai đằng sau.
 Tân Hồng Y Việt Nam đã tấn công vào khoảng cách ngày càng xa giữa kẻ giàu người nghèo trong tuần giảng Tĩnh Tâm Mùa Chay năm ngoái cho Ðức Giáo Hoàng và Giáo Triều Vatican. Những bài giảng tĩnh tâm đã được xuất bản trong cuốn "Những Nhân Chứng Của Hy Vọng" (Testimoni Della Speranza), một cuốn sách bàn sâu về những băn khoăn xã hội, phương pháp thánh hóa cá nhân và những suy tư khôn ngoan được nói lên rất đơn sơ của một vị có thể sẽ là người kế vị Ðức Giáo Hoàng.
 Liệu Ðức Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có thể trở thành Giáo Hoàng không? Những người bên trong Tòa Thánh nói rằng "Có" và đây là những lý do tại sao:

 - Ngài nói thông thạo bảy ngôn ngữ (Pháp, Anh, Ý, Ðức, Latinh, Nga, Trung Quốc), một điều kiện bắt buộc trong thế giới hiện nay. 
- Ngài đến từ một nước thuộc Thế Giới Thứ Ba, nơi Công Giáo đang phát triển mạnh. 
- Ngài đã chứng minh Ðức Tin xuyên qua những đau khổ tù ngục. 
- Ngài giảng dạy với một phương thức mà người bình thường có thể hiểu được. 
- Ngài không còn trẻ, một thuận lợi nếu các Hồng Y cử tri thấy Giáo Hội không sẵn sàng cho một triều đại Giáo Hoàng lâu dài nữa.

 Riêng Linh mục Sirico thì cho rằng các Ðức Hồng Y có thể muốn chọn Ngài để bên cạnh khả năng của Ðức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Huấn Giáo, Giáo Hội sẽ có thêm một vị Giáo Hoàng nhấn mạnh thuần túy hơn về mục vụ, một vị Giáo Hoàng mà cuộc đời Ngài toát lên sự thánh thiện: "Vị này làm được điều đó. Ngài là một vị thánh. Ngài là một người khôn ngoan. Ngài có thận trọng và khả năng của một vị Giáo Hoàng."
 Trên đây là dư luận qua các nhật báo lớn có tính cách quốc tế viết về Tân Hồng Y Việt Nam. Còn các sách khác đã xuất bản có bình luận vấn đề này thì sao? Những ai theo dõi dư luận qua các sách đạo đời, người ta thấy gần đây khi mà tình trạng sức khỏe của Ðức đương kim Giáo Hoàng ngày càng giảm bớt, rất nhiều sách đã viết và bình luận vấn đề kế vị của Ðức Thánh Cha. Một vấn đề thật tế nhị và khó lượng đoán.- Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ đề cập đến một cuốn sách rất có uy tín mà tác giả là một người Mỹ, ông Peter Hebblethwaite, vì ông chồng qua đời đột ngột nên bà vợ là Margaret Hebblethwaite đã duyệt lại, cập nhật hóa và nhà Xuất Bản Harper, tại San Francisco đã ấn hành ngày 19 tháng 9 năm 1999, nghĩa là trước khi Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được tấn phong Hồng Y gần một năm sau. Ðó là cuốn "The Next Pope" (Vị Giáo Hoàng Tương Lai).
 Sau khi điểm qua và đánh giá một số nhỏ Hồng Y rất có thể được đa số Hồng Y cử tri bầu lên ngôi Giáo Hoàng, xuyên qua một danh sách chọn lọc rất thận trọng trong các vị Hồng Y được coi là nổi tiếng, uy tín, thánh thiện trong 62 quốc gia và 5 lục địa, tác giả đã viết về Tân Hồng Y Việt Nam Nguyễn Văn Thuận được tóm lược như sau:
 Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, 72 tuổi, Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, là người kế nghiệp vị tiền nhiệm người Pháp, Hồng Y Roger Etchegaray. Nhiều người nghĩ rằng khi vị Tổng Giám Mục này được vinh thăng Hồng Y, Ngài sẽ là ứng viên sáng giá cho ngôi Giáo Hoàng tiếp theo. Ngài là một con người mà cuộc sống luôn toát ra sự thánh thiện, khôn ngoan, khéo léo, mềm dẻo. Ngài đã bị tống giam trong tù ngục cộng sản 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam. Trong thời gian dài kiên trì chịu đựng một cuộc sống tận cùng khổ đau, thiếu thốn tất cả, Ngài được ơn linh ứng viết một cuốn sách tu đức rất giá trị sâu sắc với những lời văn đơn sơ nhưng đầy tính thuyết phục.
 Một khi Ngài được vinh thăng Hồng Y, mà chắc chắn vấn đề này sẽ xảy ra thì trong Cơ Mật Viện (Consistory) để bầu Tân Giáo Hoàng, Ngài sẽ là người có rất nhiều khả năng trở thành vị Giáo Hoàng tương lai, nếu các Hồng Y cử tri muốn chọn một người có thể tiếp nối đường lối của đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. - Sở dĩ người ta có thể tiên đoán như vậy, vì Ngài có nhiều điểm tương đồng như Hồng Y Karol Woityla của Ba Lan, chính là Ðức Gioan Phaolô II hiện nay: khiêm tốn, e lệ, dịu dàng, đời sống nội tâm phong phú, không thích tranh luận. Nhưng cả hai vị này đều ôm ấp một sứ mạng chung: Làm thế nào đem Tin Mừng Ðức Kytô cho một thế giới phàm tục xa lìa Thiên Chúa. Với những lý do trên đây, một lá phiếu bầu cho Hồng Y Nguyễn Văn Thuận lên ngôi Giáo Hoàng sẽ là một lá phiếu bảo đảm nhất và cũng ý nghĩa nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng hơn bất cứ vị nào khác.
 Trên đây với tư cách một nhà báo, chúng tôi đã chia sẻ với quý độc giả những thông tin mà dư luận quốc tế đã đề cập đến Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Qua đó, là những người Việt Nam trong hay ngoài nước, không phân biệt tôn giáo, chính kiến, giai cấp xã hội, chúng ta vui mừng vì qua sự kiện tấn phong Hồng Y này đã minh chứng một người đồng bào của chúng ta là Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã có một uy tín khá lớn lao trên thế giới. Với uy tín đó, trong cương vị Chủ Tịch Hội Ðồng Công Lý và Hòa Bình, chắc chắn Ngài đã và sẽ âm thầm phục vụ cho Công Lý và Hòa Bình được ngự trị trên quê hương Việt Nam đau khổ này, vì chính bản thân Ngài đã là một nạn nhân, một người tù đã nếm mùi cải tạo 13 năm.
 Quê Hương Việt Nam chúng ta chỉ có 8 triệu giáo dân, so sánh với Phi Luật Tân là một quốc gia 79 triệu người mà 84% là người công giáo, đứng đầu các nước Á Châu về dân số công giáo, mà chỉ có 2 Hồng Y ! Trong khi Giáo Hội Việt Nam đã có 4 vị Hồng Y: Ðó là Ðức cố Hồng Y tiên khởi Giuse Trịnh Như Khuê, Tổng Giám Mục Hà Nội, tấn phong ngày 24 tháng 5, 1976, Ðức cố Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn (30.06.1979), Ðức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng (30.10.1994) và nay là Ðức Tân Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (21.02.2001).
 Theo Lịch sử và Giáo luật, danh hiệu Hồng Y (Cardinal) do nguyên tự Latinh là Cardo (bản lề của cánh cửa) phải hiểu đúng nghĩa là một tước hiệu danh dự, không phải là một chức thánh như phó tế, linh mục và giám mục, được Ðức Giáo Hoàng chọn làm Phụ Tá và Cố Vấn cho Ngài. Tước hiệu Hồng Y có thể được hiểu như một món quà đặc biệt mà Ðức Giáo Hoàng ban cho những ai do Ngài tuyển chọn, chứ không phải tự động ban cho các Giám mục các Tổng Giáo Phận. Ngày nay Ðức Thánh Cha thường chọn làm Hồng Y những vị cố vấn thân cận trong Giáo Triều Vatican, các Tổng Giám Mục trên thế giới có ảnh hưởng quan trọng về lịch sử hay mục vụ hoặc những người đã đóng góp đặc biệt cho Giáo Hội về Thần Học và Ðạo đức.
 Nếu hiểu đúng ý nghĩa Lịch sử và Giáo Luật như trên, chúng ta cần nhận định rằng Ðức Gioan Phaolô II quả thật đã có lòng ưu ái đặc biệt với Dân Tộc và Giáo Hội Việt Nam. Ngoài việc Ngài đã chọn một linh mục Việt Nam là Ðức Ông Vixentê Trần Ngọc Thụ làm Bí Thư riêng cho Ngài, ngay khi vừa lên ngôi Giáo Hoàng ngày 26 tháng 10, 1978. Hơn nữa Ngài đã tôn phong lên bậc hiển thánh 117 Anh Hùng Tử Ðạo Việt Nam để mọi giáo dân trên khắp thế giới tôn thờ, nguyện cầu, noi gương ngày 19 tháng 6, 1998. Và ngày 21 tháng 2, 2001 vừa qua, Ngài lại chọn một người Việt Nam thứ tư lên Hồng Y, nghĩa là một " Hoàøng Tử của Giáo Hội".
 Phải chăng hoàn cảnh lịch sử bị bách hại của Giáo Hội Ba Lan cũng giống Giáo Hội Việt Nam đã bị đàn áp vì Ðạo Chúa dòng dã trên 4 thế kỷ qua, từ ngày tiếp nhận Ánh Sáng Tin Mừng. Và hiện này Giáo Hội Việt Nam vẫn còn đang bị bách hại tinh vi và khủng khiếp dưới chế độ cộng sản. Và phải chăng Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là người duy nhất trong 44 Tân Hồng Y đã sống những năm tháng tận cùng của vực thẳm khổ đau tinh thần và vật chất trong tù ngục, để trung kiên với Niềm Tin Thiên Chúa và trung thành với sứ mệnh chủ chăn của mình. Lòng ưu ái đặc biệt của Ðức Gioan Phaolô II với Dân Tộc Việt Nam phải được hiểu trên những nguyên nhân đó hơn là những cảm tình cá nhân bên ngoài.
 Với dư luận về khả năng trở thành vị Giáo Hoàng tương lai của Ðức Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, qua các cơ quan truyền thông quốc tế, đặc biệt với nhận định của Nhật báo The Los Angeles Times, Nhật báo The New York Post mà ký giả Rod Dreher trình bày ý kiến của Ðức Hồng Y New York, Edward Michael Egan, và cả hai tác giả Peter và Magaret Hebblethwaite trong cuốn sách The Next Pope, chúng tôi xin được đóng góp vài suy tư thô thiển sau đây:
 - Theo Giáo luật điều 330 đến 335, Hồng Y Ðoàn chỉ được triệu tập Cơ Mật Viện bầu Tân Giáo Hoàng, khi xảy ra hai trường hợp duy nhất lúc Tòa Thánh trống ngôi: Ðức Giáo Hoàng băng hà hoặc Ngài tự nguyện từ chức vì lý do sức khỏe hoặc bị cản trở không thi hành nhiệm vụ được.
 - Những lý do mà dư luận quốc tế nhận định Ðức Tân Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có thể trở thành Giáo Hoàng chỉ có giá trị theo nhận định chủ quan của tác giả. Tuy nhiên những lý do này rất chính đáng, hợp tình hợp lý, chứng tỏ Ngài là một ứng viên sáng giá cho ngôi Giáo Hoàng tương lai. Và rất có thể, Ngài là ứng viên có khả năng trở thành Giáo Hoàng, tùy theo nhận định của các Hồng Y cử tri.
 - Tuy nhiên chúng ta không thể nào loại trừ một yếu tố quan trọng nhất là sự hoạt động của Chúa Thánh Thần và sự quan phòng kỳ diệu huyền nhiệm của Thiên Chúa, vì không gì mà Thiên Chúa không làm được!! Và cũng không ai biết trước hoặc đo lường được Thánh Ý Thiên Chúa với trí khôn bé nhỏ nông cạn của mình. Trung tuần tháng 10 năm 1978, không một ai có thể nghĩ rằng Thiên Chúa lại chọn một vị Hồng Y Ba Lan là Ðức Karol Woityla lên ngôi Giáo Hoàng, sau trên 4 thế kỷ không vị Giáo Hoàng nào ngoài nước Ý! Thế mà ngày 16 tháng 10, 1978 Hồng Y Ba Lan Karol Woityla đã trở thành vị Giáo Hoàng thứ 264 kế vị Thánh Phêrô, Tông Ðồ trưởng.
 - Nếu giả thiết, xin nhắc lại chỉ là giả thiết thôi, nếu Thiên Chúa chọn một người Việt Nam là Ðức Tân Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận lên ngôi Giáo Hoàng, như Thiên Chúa đã ưu ái chọn một người Ba Lan, thì đây chính là một hồng phúc quá lớn lao cho dân tộcViệt Nam, từ ngày con dân đất Việt nhận lãnh Ðức Tin không bao giờ dám mơ ước! Và nếu trường hợp này xảy ra thì phải chăng lịch sử đã tái diễn: Ông Mikhail S. Gorbachev, cựu Tổng Thống Sô Viết, đã viết trên tuần báo La Tampa ngày 3 tháng 3, 1992, đồng thời được ấn hành trên 115 tờ báo lớn trên thế giới, khi ông quả quyết Ðức Gioan Phaolô II đã đóng một vai trò rất lớn trong việc lật đổ chế độ cộng sản tại Ðông Âu và Liên Xô. Nếu Thiên Chúa muốn xóa bỏ chế độ cộng sản tại Á Châu thì phải chăng Tân Hồng Y Việt Nam sẽ là con người tiền định mà Thiên Chúa sẽ xử dụng.
 - Thái độ khôn ngoan và thích hợp nhất cho chúng ta là hãy cầu nguyện xin Thiên Chúa hãy thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho Dân Tộc Việt Nam chúng ta đang quá đau khổ hiện nay.

 Linh Mục Trần Quý Thiện 

Lê Quốc Quân với cuộc truy đuổi vòng quanh

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ sáu, ngày 21 tháng sáu năm 2013

Lê Quốc Quân lại bị bắt giam

Ngày 27/12/2012, Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt. Việc bắt Lê Quốc Quân không phải chuyện lạ. Bởi đây là lần thứ 3 Lê Quốc Quân bị bắt vào nhà giam. Khác với hai lần trước, những lý do bắt bớ Lê Quốc Quân là “tổ chức hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” và “gây rối trật tự công cộng”, lần này, lý do bắt là “tội trốn thuế” – một tội danh nghe qua rất “bình thường” ở Việt Nam. Nhưng đối với Lê Quốc Quân, đây là cả một câu chuyện có quá trình dài.
Ngày 7/3/2007, Lê Quốc Quân bị bắt, tận ngày 19/3/2007 mới bị khởi tố theo điều 79 tội “tổ chức hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau 3 tháng, anh được trả tự do với bản tin trên báo chí rằng: “Trong quá trình tạm giam để điều tra, Lê Quốc Quân đã thành khẩn, xin được khoan hồng và có đơn trình bày. Vì vậy sáng 16/6, Lê Quốc Quân đã được cơ quan bảo vệ pháp luật thả về đoàn tụ gia đình” mặc dù đến ngày 25/10/2007, mới có quyết định đình chỉ điều tra bị can. Thực ra, ai cũng biết Lê Quốc Quân đã được thả ra không vì sự nhân đạo quá mức của nhà nước, mà chỉ là vì áp lực mạnh mẽ khi Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước muốn sang thăm Hoa Kỳ.

Ngày 4/4/2011 khi đang đi đến xem phiên tòa công khai xử sơ thẩm Cù Huy Hà Vũ Lê Quốc Quân lại bị bắt cùng với bác sĩ Phạm Hồng Sơn vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Quá trình bắt giữ vụ này, dưới con mắt chứng kiến của không biết bao nhiêu người dân đi tham dự phiên tòa với video và chứng cứ đầy đủ rằng việc bắt bớ này hoàn toàn tùy tiện và có chủ đích đen tối. Một phong trào ủng hộ những người bị bắt bớ đã dấy lên khắp nơi. Sau 10 ngày giam giữ, Lê Quốc Quân lại được thả ra và kèm theo cái gọi là “Quyết định cảnh cáo”. Ngày 27/11/2011. Lê Quốc Quân lại bị nhận “Quyết định cảnh cáo” vì đã dám đi biểu tình ủng hộ Thủ tướng đề nghị có luật biểu tình.

Và điểm nút là ngày 27/12/2012, Lê Quốc Quân bị bắt vì tội trốn thuế, sau khi người em ruột của Quân cũng đã bị bắt giam mấy tháng trước đó để “điều tra”.

Như vậy, tội danh “trốn thuế” xem ra hữu hiệu hơn lý do “hai bao cao su đã qua sử dụng” trong vụ Cù Huy Hà Vũ. Và con đường đến trại giam của Lê Quốc Quân khá lòng vòng.
Nhưng cuối cùng, thì Lê Quốc Quân, một người ưa các hoạt động xã hội, quan tâm đến tình hình đất nước, biên giới, hải đảo và là người có nhiều đóng góp công sức cho cộng đồng công giáo cũng đi đến đích được soạn sẵn… nhà tù cộng sản. 

“Trốn thuế” hay “hai bao cao su”?

Ở nước ngoài, trốn thuế là một tội danh nặng nề. Còn ở Việt Nam, doanh nghiệp trốn thuế là “chuyện thường ngày ở… khắp nơi”. Đến mức độ báo chí nhà nước phải kêu lên là quá nhiều doanh nghiệp trốn thuế. Ngày 3/6/2013 Báo Dân Trí có bản tin: “TP.HCM: Gần 1.300 doanh nghiệp bỏ trốn, “xù” luôn tiền thuế”.  “Nhiều doanh nghiệp dùng thủ thuật để trốn thuế”. Trong năm 2012, Cục Thuế TP.HCM đã thanh tra, kiểm tra gần 12.500 hồ sơ về thuế, phạt và truy thu hơn 6.000 tỉ đồng…

Ls Lê Quốc Quân nộp
hồ sơ tự ứng cử ĐBQH
Do vậy, khi bị bắt về tội “Trốn thuế” người dân thường dễ tin hơn là tội “tổ chức lật đổ chính quyền nhân dân”. Bởi vì, ở VN đã hình thành một tâm lý từ rất xưa, nghiễm nhiên thành một quy luật xã hội rằng đã doanh nghiệp, hẳn nhiên trốn thuế.

Thế nhưng, việc tận dụng tội danh này trong một số vụ án nhằm lấy cớ bắt người đã lộ liễu đến mức người dân nghe qua là cảnh giác, nhất là đối với các đối tượng, những người yêu dân chủ, muốn có những đổi thay về chính trị. Điển hình là vụ án Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, một người đi đầu trong các cuộc xuống đường chống Trung Quốc xâm lược và là một Blogger – Câu lạc bộ nhà báo tự do.

Ngày 20/4/2008, Công an quận 3 Sài Gòn bắt Nguyễn Văn Hải tại Đà Lạt. Ông bị đưa ra tòa tuyên 30 tháng tù vì tội trốn thuế. Bản án đã gây một làn sóng dư luận nghi ngờ tính trung thực của hành vi khởi tố và xét xử. Nhưng, phía nhà nước vẫn nghênh nghênh rằng: Ông Hải bị tù vì tội trốn thuế mà thôi.

Nhưng, cha ông đã dạy “Nói dối hay cùng”. Sau đó, chính báo chí nhà nước đăng tin như sau: “Ngày 20/4/2008, Nguyễn Văn Hải bị bắt vì tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN” (Báo Petrotimes). Đến đây, tội danh “trốn thuế” đã được chứng minh chỉ là cái cớ. Thế rồi mãn hạn tù, chừng như chưa yên tâm thả ra, ông Hải tiếp tục bị nhốt để ra tòa tiếp vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” thêm 12 năm tù.

Người ta thừa biết rằng, nếu không có tội danh “trốn thuế” cho Điếu Cày, thì sẽ có “hai bao cao su đã qua sử dụng” như với Cù Huy Hà Vũ. Những sự thật sẽ dần dần lộ sáng cho biết giá trị của nền pháp quyền XHCN là gì.

Với Ls Lê Quốc Quân, có vẻ như tội danh trốn thuế cũng đã được lặp lại làm cái cớ bắt giữ. Màn kịch cũ lại được đưa ra diễn lại ở Hà Nội, nhân vật chính đã thay đổi nhưng nội dung vở kịch vẫn như cũ. Lê Quốc Quân đã bị bắt vì trốn thuế như thế nào?

 Trước khi Lê Quốc Quân bị bắt, em trai Quân là doanh nhân Lê Quốc Quản đã bị bắt giữ, khám xét đồ đạc cùng với các nhân viên một công ty khác. Sau một thời gian, nhiều người trong công ty cùng bị bắt với Lê Quốc Quân ở công ty của mình.

Việc bắt giữ khẩn cấp một giám đốc vì trốn thuế với số tiền được nêu ra là 437,5 triệu đồng có ý nghĩa gì khi ngay cũng thời gian đó, một vụ án khác đã được đưa ra xét xử với tội danh trốn thuế hàng chục tỷ đồng được xử án treo? Thậm chí với kẻ chủ mưu vụ án cũng không bị bắt giữ mà chỉ “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Vụ án này được chính báo An ninh Thủ đô đăng tải. Lẽ nào cơ quan điều tra Thành phố Hà Nội không đọc bản tin này để thấy rằng giữa con số hàng chục tỷ đồng có thật và 437,5 triệu đồng đang điều tra lại cần có sự xử lý khác biệt và khắc nghiệt đến vậy?

Đây không chỉ là câu hỏi, mà là câu trả lời cho những ai còn nghi ngờ về lý do “trốn thuế” trong vụ án này. 

Nguyễn Văn Hải bị bắt vì cớ “trốn thuế” nhưng thực chất là đây
Điều tra? Án tại Hồ sơ?

Bản Cáo trạng của Viện KSND Thành phố Hà Nội đưa ra trong vụ án Lê Quốc Quân trốn thuế, cho người ta thấy cách điều tra của các cơ quan công an Hà Nội “công phu và tỉ mỉ” đến hài hước nhường nào trong vụ án này. Không rõ với phương thức điều tra này, số tiền 437,5 triệu trốn thuế kia (nếu có), có đủ cho phục vụ một phần nhỏ công việc điều tra đó?
Điều đáng nói là dù một người ít hiểu biết về pháp luật, nhưng đọc bản cáo trạng này, thì có thể khẳng định rằng không thể có ai thoát tội trốn thuế ở Việt Nam khi cơ quan công an cần bắt.

Này nhé, bạn ăn ba bát phở, mỗi bát 50 ngàn đồng, bạn trả tiền 150 ngàn và lấy hóa đơn hẳn hoi. Nhưng khi cơ quan điều tra đến, họ sẽ điều tra ra rằng mỗi bát phở chỉ đáng giá 20 ngàn, như vậy ba bát phở chỉ 60 ngàn và dù bạn có hóa đơn, giấy tờ chứng minh đầy đủ là đã trả tiền, thì bạn vẫn bi kết tội kê khống 90 ngàn để… trốn thuế. Vì sao ư? Lời khai của những người được công an triệu tập sẽ phù hợp với việc chứng minh rằng mỗi bát chỉ đáng giá 20 ngàn đồng và đó mới là cái cần đề kết tội! Còn việc anh đã trả 150 ngàn là chuyện không cần biết?

Tương tự ở đây, Công ty Giải pháp Việt Nam thuê các chuyên gia, có hợp đồng đầy đủ, giấy tờ chi tiền, nhận tiền với chữ ký từng cá nhân… phù hợp pháp luật. Thế nhưng, công an “triệu tập làm việc” và kết quả lời khai rằng họ đã không nhận đủ số tiền đó. Vậy là công ty bị kết tội ghi khống để trốn thuế mà không cần biết phía chi tiền có đồng ý đối chất hoặc thừa nhận việc đó là có hay không. Như vậy, những hợp đồng, những chữ ký của ngay chính những người đã nhận tiền có giá trị hơn, hay những lời khai trước cơ quan điều tra của từng người khi một mình họ đối diện với cán bộ điều tra tại cơ quan công an có giá trị hơn?

Theo cách nghĩ đơn giản nhất của người dân, khi  ký chữ ký của mình, người ký phải chịu trách nhiệm pháp lý về chữ ký đó. Việc anh ký nhận 10 triệu đồng, nhưng anh chỉ nhận một triệu, đó là lỗi và là trách nhiệm của anh mà cơ quan pháp luật không thể vì thế mà truy tội người chi tiền.

Cũng theo cáo trạng nói trên, một số giao dịch, mua bán hàng hóa được thể hiện rõ ràng bằng hóa đơn, hợp đồng… thế nhưng khi công an điều tra và nhận được lời khai rằng không có các giao dịch. Thế là tội đổ lên đầu người mua bất kể ý kiến của người mua ra sao.

Vậy về pháp lý, những hóa đơn đó nói lên điều gì? Việc xuất hàng, nhận tiền được xác nhận đầy đủ bằng chữ ký và con dấu có giá trị gì trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và xã hội, hay chỉ phụ thuộc vào ý muốn của cơ quan điều tra coi đó có là chứng cứ hay không?

Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự ghi rõ:
Điều 72. Lời khai của bị can, bị cáo
1. Bị can, bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án.
2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội.
Đọc bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội trong vụ án này, dù không có chuyên môn về luật pháp, người ta cũng không khỏi có những nghi ngờ cần thiết cho sự minh bạch và công lý ở quá trình điều tra, kết tội ở đây. Hầu hết, những kết tội của cơ quan điều tra là căn cứ vào lời khai, bỏ qua tất cả những giấy tờ, hợp đồng, hóa đơn có giá trị pháp lý hẳn hoi nhằm kết tội Lê Quốc Quân là giám đốc Công ty? Trong khi đó, chính nạn nhân là Lê Quốc Quân đã không hề được có ý kiến gì nêu ra tại đây?

Vậy đây là pháp luật hay đòn thù khi mà Bộ luật Tố tụng hình sự đã ghi rõ: “Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. 

Vở hài kịch sẽ đi đến đâu?

Sơ qua vài chi tiết trong vụ án này, để thấy rõ hơn cái lý do bị bắt về tội “trốn thuế” của Lê Quốc Quân. Ở đó, là cả một quá trình công phu, tỉ mỉ và là con đường vòng vo đưa Lê Quốc Quân đi đến nhà tù sau khi hàng loạt lượt bắt bớ, giam giữ đã không thành công.
Vở hài kịch này sẽ dẫn đến đâu?

Chúng ta hãy chờ xem nền pháp lý Xã hội Chủ nghĩa biểu diễn như thế nào để thể hiện tính ưu việt “không cần tam quyền phân lập” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố.
Hà Nội, ngày Báo chí Việt Nam, 21/6/2013

J.B Nguyễn Hữu Vinh