Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Mày giả vờ làm việc, tao giả vờ trả lương !

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 30 tháng năm năm 2013

Giới thiệu của người dịch: Đây là đoạn cuối Chương 18 cuốn Post War của Tony Judt. Sau khi bàn về trí thức Tây Âu và Đông Âu, tác giả nói về nền kinh tế bế tắc và vờ vịt tại Đông Âu, bối cảnh của những biến động chính trị và xã hội dẫn đến cách mạng 1989.

Nếu nghịch lý là gốc của cái hài thì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể được xem như một vở kịch khôi hài đen, dù đỏ ngầu. Trong những vở đỏ đen nhiều tập kia, Tony Judt nhắc đến hai quái tật chết người của chế độ, ở Đông Âu trước đây, và cũng không khó thấy ở cả Việt Nam lâu nay, có thể tóm tắt nôm na như sau:

1. Lỗ vẫn làm: Thay vì kinh tế định đoạt chính trị như người cộng sản vẫn nói, ở đây chính trị* lại xúi bậy kinh tế. Kinh tế không xuất phát từ nhu cầu người tiêu dùng mà từ ý chí chủ quan của bề trên. Trên bảo sao dưới nghe vậy, làm khác là mất việc, phản biện thì phớt lờ, phản đối thì bỏ tù. Hậu quả là lỗ vẫn làm. Ở Việt Nam, những vụ như Boxit, Vinashin, rừng phòng hộ, điện hạt nhân, đường sắt cao tốc, 16 chữ… là những ví dụ của lỗ vẫn làm, càng làm càng lỗ, hoặc thấy lỗ mà/là cứ đâm đầu vào. Không chỉ lỗ tiền, còn lỗ cả mạng người, môi trường, lãnh thổ, cả sinh mạng Đảng.

2. Sai không sửa: Tất cả những thất bại, vờ vịt của nền kinh tế kia lãnh đạo biết cả nhưng vẫn im lặng, như một nấm mồ. Họ không dám phẫu thuật, chỉ dám dùng thuốc giảm đau tại chỗ. Thực ra, khi kinh tế đã đan xen vào chính trị thành một “khối thống nhất” thì đứt dây động rừng, sửa sẽ sụp. Học thuật thì nói như Tony Judt: Giữa hai cái xấu, Đảng chọn cái xấu ít hơn. Huỵch toẹt thì cũng có thể nói rằng: cấp trên rất hiểu cố đấm ăn xôi là xấu, nhưng vẫn đỡ xấu hơn, đỡ đau hơn và khó chết hơn là thực tâm thay đổi. (Chẳng lạ, bao nhiêu kiến nghị, phản biện, góp ý của trí thức trên cứ giả vờ như không có. Hóa ra, những kiến nghị kia không đánh thức được lãnh đạo mà đánh thức xã hội dân sự.) Nhưng, cũng như ung thư không chữa, đang sống ở giai đoạn cuối, Judt gọi là mượn thời gian để sống, được ngày nào hay ngày ấy, dân gian gọi là chờ chết.
Phan Trinh

bomay

Tiến là thoái

Đề tài mà các trí thức phản kháng ít bàn tới chính là kinh tế. Điều này cũng là một phản ứng thực tế. Kể từ thời Stalin thì tăng trưởng kinh tế, hay đúng hơn là tăng trưởng công nghiệp, vừa được xem như mục tiêu vừa được xem như thước đo mức thành công của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế, như trình bày trong Chương 13 cuốn sách này, là ưu tiên hàng đầu của thế hệ trí thức cải cách thời kỳ đầu: nó phản ánh nỗi ám ảnh của chế độ cộng sản và một quan điểm, được cả người theo lẫn không theo chủ nghĩa Marx đồng tình, rằng mọi động thái chính trị chung quy cũng chỉ là vì kinh tế mà thôi. Vì vậy, có thể nói trong giai đoạn 1956-1968 lúc Đông Âu loay hoay tìm cách tự cải tổ, phản biện để cải cách kinh tế chính là hình thức đối lập tốt nhất có thể có, dù là đối lập trong vòng “lễ giáo”.

Nhưng đến giữa thập niên 1970, những người thông thạo tình hình đã không còn dám hy vọng nền kinh tế khối Xô-viết có thể tự cải tổ từ bên trong, và lý do không chỉ vì lý thuyết kinh tế Mác-xít đã sụp đổ sau nhiều thập niên bị lạm dụng tàn tệ, mà còn vì nguyên nhân khác. Từ năm 1973, nền kinh tế các nước Đông Âu thụt lùi rất xa so với Tây Âu, không bằng cả mức tăng trưởng chậm lúc suy thoái của Tây Âu. Ngoại trừ Liên Xô có nhiều mỏ dầu mang lại ngoại tệ, nhất là khi dầu tăng giá, thì nạn lạm phát trên thế giới vào thập niên 1970 và việc “toàn cầu hóa” thương mại và dịch vụ vào thập niên 1980 ở phương Tây đã đẩy nền kinh tế các nước khối Xô-viết vào thế bất lợi không thể khắc phục. Nếu vào năm 1963 hoạt động ngoại thương của các nước Khối Comecon (Đông Âu) đạt mức 12% tổng lượng ngoại thương toàn cầu, thì đến năm 1979 con số này lại rớt xuống chỉ còn 9% và còn nhanh chóng sụt giảm hơn nữa.[i]

Các nước khối Xô-viết không thể cạnh tranh về chất lượng với các nền kinh tế phương Tây. Cũng không nước nào, ngoại trừ Liên Xô, có nguồn nguyên liệu thô ổn định để bán cho phương Tây, vì vậy, họ không thể cạnh tranh cả với những nước kém phát triển nhưng giàu tài nguyên trên thế giới. Tính khép kín của khối Comecom còn khiến các nước này không thể tham gia những mạng lưới thương mại mới hình thành của Tây Âu, hoặc tham gia Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Họ cũng không thể điều chỉnh nền kinh tế cho phù hợp với giá cả thị trường thế giới mà không làm người tiêu dùng trong nước phải nổi đóa (như đã xảy ra tại Ba Lan năm 1976).

Ý thức hệ xúi dại

Khuyết điểm làm lụn bại các nền kinh tế cộng sản lúc này chính là sự bất lực thâm căn do ý thức hệ xui khiến mà ra. Vì duy ý chí, quyết liệt tập trung sản xuất sản phẩm công nghiệp cơ bản nhằm đáp ứng công cuộc “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, khối Xô-viết đã bỏ lỡ chuyến tầu đưa nền kinh tế từ sản xuất hàng loạt qua sản xuất chuyên sâu giá trị cao, vốn đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo các nền kinh tế phương Tây vào thập niên 1960 và 1970. Họ cố bám vào mô hình kinh tế đã quá cũ kỹ, nhìn là nhớ đến Detroit hoặc Ruhr vào thập niên 1920, hoặc thậm chí cả Manchester cuối thế kỷ 19.

Vì vậy Tiệp Khắc, nước có rất ít quặng sắt, vào năm 1981 vẫn phải trở thành quốc gia đứng thứ ba thế giới (tính theo đầu người) về xuất khẩu thép. Đắng hơn nữa là Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) lúc đó cũng đang lên kế hoạch sản xuất lớn những sản phẩm công nghiệp nặng đã hoàn toàn lỗi thời. Chẳng khách hàng đủ tỉnh táo nào lại muốn đi mua thép Tiệp Khắc hoặc máy móc Đông Đức, trừ khi được trợ giá cực rẻ, nên rút cuộc các sản phẩm này càng sản xuất, càng bán, càng lỗ vốn. Hậu quả là các nền kinh tế kiểu Xô-viết thay vì tạo ra giá trị thặng dư, lại tạo ra giá trị âm trừ. Thật vậy, nguyên liệu thô mà họ nhập khẩu hoặc khai thác từ lòng đất có giá trị còn cao hơn thành phẩm được làm từ nguyên liệu thô.

Ngay cả trong các lĩnh vực có ưu thế cạnh tranh, cách làm kinh tế kiểu Xô-viết cũng gây thiệt hại lớn. Trong khi Hungary được Comecon chọn là nơi sản xuất xe tải và xe buýt, Đông Đức vào thập niên 1980 được phân công sản xuất máy vi tính. Nhưng, khôi hài không chỉ ở chỗ máy vi tính do Đông Đức sản xuất không đáng tin cậy và cổ lỗ sĩ về chất lượng, hệ thống kinh tế tập trung còn khiến họ không thể sản xuất đủ số lượng. Trong năm 1989, Đông Đức (dân số 16 triệu) chỉ sản xuất được số máy vi tính bằng 1/5 số máy sản xuất tại Áo (dân số 7,5 triệu), trong khi Áo cũng chỉ là một đối thủ hạng ruồi trên thị trường sản xuất máy vi tính quốc tế. “Ưu thế cạnh tranh” ở đây rất tương đối: Đông Đức chi hàng triệu Đức-mã cho việc sản xuất những sản phẩm chẳng ai muốn dùng, trong khi thị trường thế giới đang có những sản phẩm tương tự với chất lượng tốt hơn và giá rẻ hơn.

Vâng ý trên

Thủ phạm gây ra tất cả những yếu kém này chính là quy hoạch tập trung, vốn chứa đầy khuyết tật bẩm sinh. Cuối thập niên 1970, Gosplan (Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), cơ quan hoạch định kinh tế trung ương của Liên Xô, có đến 40 ban ngành kinh tế khác nhau và 27 ủy hội kinh tế hoạt động riêng biệt. Các quan chức đã bị con ngáo ộp chỉ tiêu ám ảnh nặng đến nỗi họ luống cuống đưa đại ra những chính sách nghe là cười. Giáo sư Timothy Garton Ash, chuyên nghiên cứu Đông Âu, nhắc đến chuyện khôi hài này tại Đông Đức: Trong “Kế hoạch Kinh tế Nhân dân Quận Prenzlauer Berg”, khi nói về chỉ tiêu trong việc cải tổ thư viện, người ta đã hồ hởi quy hoạch rằng “Số lượng sách lưu trữ trong các thư viện phải tăng lên từ 350.000 đến 450.000 quyển, và số lượt mượn sách phải tăng lên 108,2%”.[ii]

Hệ thống giá cả cố định cũng khiến không thể xác định được đâu là giá đúng, đâu là mức cầu, đâu là chỗ cần điều chỉnh khi tài nguyên thiếu hụt. Quản lý các cấp đều sợ rủi ro, sợ sáng tạo vì sợ không đạt chỉ tiêu trước mắt. Thực ra, họ cũng chẳng có động lực nào để làm khác đi: họ biết dù bất lực đến đâu, họ vẫn sẽ ngồi ở vị trí đang có, nhờ chủ trương nổi tiếng “ổn định cán bộ” (áp dụng từ 1971 về sau) được Brezhnev rất ưa thích. Trong khi đó, để đảm bảo chỉ tiêu bề trên định sẵn, các đốc công và giám đốc nhà máy sẵn sàng che giấu thông tin về vật liệu và lao động dự trữ trước mắt chính quyền. Phí phạm và khan hiếm, tưởng như đối nghịch, đã trở thành một cặp bài trùng dung dưỡng nhau.

Nịnh hót lên ngôi

Một hệ thống như thế rõ ràng không chỉ khuyến khích sự trì trệ, yếu kém, mà còn thúc đẩy một vòng quay tham nhũng liên hoàn không thể ngừng. Đây là một trong những nghịch lý của chủ nghĩa xã hội khi cho rằng chỉ có tư sản mới nhiều tham nhũng. Quyền lực, chức vụ và đặc quyền đặc lợi tuy không thể mua bán trực tiếp nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào mối quan hệ trao đổi qua lại giữa chủ và khách. Quyền hạn do luật pháp quy định bị gạt qua một bên, thay vào đó là sự nịnh hót, và kẻ nịnh hót lại được tưởng thưởng bằng công việc ổn định và cơ hội tiến thân. Chỉ để có được những thứ bình thường và hợp pháp như thuốc men trị bệnh, nhu yếu phẩm, quyền đi học, người dân cũng buộc phải bẻ cong luật pháp bằng hàng loạt chiêu trò, tuy nhỏ nhặt nhưng rất xúc phạm nhân cách.

Hậu quả là cách ứng xử vừa bất tín vừa bất cần gần như trở thành chuẩn mực trong những năm này. Một ví dụ tiêu biểu: Các xí nghiệp sản xuất máy kéo hoặc xe tải đã không quan tâm sản xuất cho đủ phụ tùng, đơn giản vì họ có thể nhanh chóng đạt chỉ tiêu khi sản xuất các cỗ xe to lớn kia hơn. Bi kịch là khi những cỗ xe này hư hỏng thì không tìm đâu ra phụ tùng thay thế. Những con số chính thức được công bố chỉ nêu ra tổng số máy móc các loại được sản xuất trong một lĩnh vực nhất định, chứ không chú ý đến chuyện còn bao nhiêu máy móc chạy được. Thông tin trên giấy thì mập mờ, chỉ hỏi công nhân mới biết thật mọi chuyện.

Làm giả, lương giả, chợ giả

Thay cho những khế ước xã hội đường hoàng, ở đây lại là sự đồng lõa xã hội xã hội chủ nghĩa, và tình trạng này được diễn tả qua câu châm biếm cay độc: “Mày giả vờ làm việc, tao giả vờ trả lương”. Nhiều công nhân, nhất là lao động chân tay, cũng có lợi trong tình trạng này, vì họ được hưởng những khoản an sinh xã hội trong khi chẳng cần làm việc bao nhiêu. Cuốn Tự điển Chính trị Bỏ túi của Đông Đức đã mô tả tình trạng vừa kể một cách vô tình nhưng thật mỉa mai qua câu sau đây: “Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sự khác biệt giữa giờ làm việc và giờ rảnh rỗi, vốn gay gắt trong xã hội tư bản, không còn nữa.”

Hai lãnh vực duy nhất tương đối có hiệu quả, trong một nền kinh tế cộng sản tiêu biểu, tính đến năm 1980, là công nghiệp quốc phòng kỹ thuật cao và cái được gọi là “nền kinh tế thứ hai” – tức các loại chợ đen cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Tầm quan trọng của nền kinh tế thứ hai này, tuy không hề và không thể được nhà nước công nhận, là bằng chứng cho thấy tình trạng bi thảm của nền kinh tế chính thức. Tại Hungary, vào đầu thập niên 1980, ước tính có tới 84.000 lao động lành nghề các loại hoạt động thuần túy trong khu vực tư nhân, đáp ứng đến gần 60% tổng nhu cầu về dịch vụ tại địa phương, từ nhu cầu sửa chữa ống nước cho đến nhu cầu mua dâm.

Thêm vào hoạt cảnh vừa kể một bên là việc canh tác nhỏ lẻ trên thửa đất gia đình của nông dân, và một bên là các xí nghiệp tư, hoạt động được nhờ công nhân tuồn nguyên liệu từ xí nghiệp nhà nước (gạch, dây đồng, chữ đúc…) rồi phù phép “chuyển đổi” cho sản xuất riêng, thì có được bức tranh tổng thể về chủ nghĩa cộng sản kiểu Xô-viết – rất gần với chủ nghĩa tư bản Ý – tức là chỉ tồn tại được nhờ nền kinh tế ngoài luồng.[iii] Đây là một mối quan hệ cộng sinh: nhà nước cộng sản chỉ duy trì được sự độc quyền trong khu vực công bằng cách chuyển qua khu vực tư tất cả những hoạt động và nhu cầu mà nhà nước không thể phủ nhận hay đáp ứng; trong khi đó, nền kinh tế ngoài luồng lại lệ thuộc vào khu vực công để có nguyên liệu, và cần hơn nữa chính là nhờ khu vực công bất lực nên khu vực tư mới có một thị trường béo bở, với những giá trị và lợi nhuận thổi phồng.

Ít con, nhiều rượu, chóng chết

Nền kinh tế tù đọng chính là lời nguyền rủa vận vào chủ nghĩa cộng sản vốn cho rằng mình hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Và nếu không là chất xúc tác cho hành vi đối lập, thì nền kinh tế kia cũng là nguồn gốc tạo nên bất mãn. Với hầu hết người dân dưới chế độ cộng sản thời Brezhnev, từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1980, cuộc sống tuy không đậm màu sợ hãi hay đàn áp nhưng lại là những chuỗi ngày xám xịt và buồn tẻ. Các cặp vợ chồng ngày càng sinh ít con hơn, nhưng họ lại rượu chè nhiều hơn – lượng rượu tiêu thụ tính theo đầu người tại Liên Xô tăng bốn lần trong những năm này – và chết sớm hơn. Những khu nhà tập thể trong các xã hội cộng sản không chỉ xấu xí về mỹ thuật, mà còn tồi tệ về chất lượng và gây khó chịu khi sử dụng. Nói cách khác, nhà tập thể nhếch nhác là chiếc bóng của nhà nước toàn trị tồi tệ đã tạo ra nó. Một tài xế taxi ở Budapest có lần vừa chỉ tay về những dãy nhà tập thể cao tầng ẩm thấp, bẩn thỉu, nằm xấu xí ở ngoại ô thành phố, vừa nói với người viết rằng: “Chúng tôi sống ở đó, trong mấy cái nhà đúng kiểu cộng sản kia kìa – hè thì nó nóng, đông thì nó rét.”

Như mọi thứ khác trong khối Xô-viết, nhà tập thể thường có giá rẻ (giá thuê trung bình khoảng 4% thu nhập một gia đình bình thường ở Liên Xô), cũng vì nền kinh tế không do giá cả mà do sự khan hiếm điều phối. Điều này có lợi cho nhà cầm quyền – việc phân phối độc quyền những mặt hàng luôn khan hiếm giúp duy trì sự thúc thủ của quần chúng – nhưng cũng chứa một rủi ro nghiêm trọng mà hầu hết giới lãnh đạo cộng sản đều hiểu rất rõ. Đến cuối thập niên 1960, khi mọi sự đã rành rành là những hứa hẹn về một tương lai “xã hội chủ nghĩa” rạng rỡ không đủ sức dụ dỗ dân chúng trung thành với chế độ nữa, các nhà lãnh đạo cộng sản đã đổi chiều, xem dân chúng như những người tiêu dùng và tìm cách thay thế xã hội không tưởng (xã hội chủ nghĩa) của ngày mai bằng những sung túc vật chất của ngày hôm nay.

Sao cũng được

Đó là chọn lựa rất có tính toán. Vasil Bil’ak, nhân vật bảo thủ có công cõng rắn cắn gà nhà đưa quân Xô-viết xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, trong lần phát biểu với Ban Tuyên giáo Đảng vào tháng Mười 1970 đã nói rằng: “Lúc đó (năm 1948), ta treo tranh cổ động ở cửa hiệu vẽ vời chủ nghĩa xã hội sẽ đẹp đẽ ra sao và quần chúng cứ thế tin như in. Nhưng đó là cơn lên đồng của một thời xưa rồi. Bây giờ, không thể cứ treo bánh vẽ nói về chủ nghĩa xã hội sau này nữa mà cửa hàng hôm nay phải chứa cho đầy hàng, để ta ghi vào thành tích là ta đang tiến tới chủ nghĩa xã hội, là ta đang có chủ nghĩa xã hội ngay tại đây.”[iv]

Rõ ràng nhà nước đã làm điều ngược ngạo là cố khuyến khích dân chúng xem chủ nghĩa tiêu thụ như thước đo thành công của chủ nghĩa xã hội. Điều này dĩ nhiên khác hẳn với nội dung của “cuộc tranh luận trong bếp” đình đám giữa Tổng Bí thư Liên Xô Khrushchev với Phó Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1959, khi Khrushchev nói với Nixon rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ qua mặt chủ nghĩa tư bản chẳng trong bao lâu nữa. Bil’ak – cũng như Kádár tại Hungary – không ảo tưởng như vị Tổng Bí thư kia. Ông hài lòng chấp nhận chủ nghĩa cộng sản là một bản sao mờ nhạt của chủ nghĩa tư bản, chừng nào có đủ hàng hóa làm người tiêu dùng hài lòng. Erich Honecker tại Đông Đức – lên làm lãnh tụ năm 1971, thay thế Walter Ulbrich, kẻ ra đi không ai thương tiếc – cũng vậy, ông chỉ hứa hẹn mang lại cho dân Đông Đức một phiên bản thu gọn của “phép lạ” kinh tế diễn ra tại Tây Đức vào thập niên 1950.

Phồn vinh giả, mệt thật

Chiến lược này thành công vừa phải trong một thời gian. Mức sống tại Tiệp Khắc, Hungary và Ba Lan được cải thiện trong thập niên 1970, ít nhất là khi đo bằng mức tiêu thụ hàng hóa bán lẻ. Số xe hơi và tivi, hai mặt hàng tiêu dùng tiêu biểu của thời kỳ này, tăng lên đều đặn: tại Ba Lan, số xe hơi tư nhân, tính bình quân đầu người trên toàn dân số, tăng bốn lần từ 1975 đến 1989. Đến cuối thập niên 1980 tại Hungary, trung bình cứ 10 người thì có 4 chiếc tivi; ở Tiệp Khắc cũng có số tương tự. Nếu người mua chấp nhận chất lượng kém, kiểu dáng nghèo nàn và không nhiều chọn lựa, họ có thể tìm được những gì mình muốn, không có ở cửa hàng nhà nước thì ra chợ đen. Tuy nhiên, ở Liên Xô, hàng hóa “ngoài luồng” khó tìm và tương đối đắt đỏ hơn.

Với nhu yếu phẩm, tình trạng cũng vậy. Vào tháng Ba 1989, một người tiêu thụ tiêu biểu ở Washington DC sẽ cần làm việc 12,5 giờ để mua một giỏ hàng nhu yếu phẩm chuẩn (gồm xúc-xích, sữa, trứng, khoai tây, rau củ, trà, bia,…). Một giỏ hàng tương tự sẽ tốn 21,4 giờ làm việc tại London, nhưng lại ngốn tới 42,3 giờ làm việc tại Moscow, mặc dù nhà nước đã trợ giá rất nhiều.[v] Chưa hết, người tiêu thụ ở Liên Xô và Đông Âu còn phải tốn nhiều thời giờ để tìm kiếm, chờ đợi mua thức ăn và những mặt hàng khác. Nếu không đo bằng đồng rúp [Nga], đồng crown [Tiệp Khắc] hay đồng forint [Hungary], mà đo bằng thời gian và công sức, thì có thể thấy đời sống dưới chế độ cộng sản vừa đắt đỏ vừa mệt mỏi.

Việc định nghĩa thành công của chủ nghĩa cộng sản bằng khả năng thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người tiêu dùng cũng không dễ dàng, vì như trình bày ở trên, toàn bộ nền kinh tế đã được cài đặt để sản xuất lớn máy móc công nghiệp và nguyên liệu thô. Ngoại trừ thức ăn, các nền kinh tế cộng sản đã không sản xuất ra được những sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn (ngay sản xuất thức ăn họ cũng không hiệu quả bao nhiêu – Liên Xô từ lâu đã trở thành nước nhập khẩu gạo, đưa tổng số thực phẩm nhập khẩu tăng lên ba lần từ năm 1970 đến 1982). Cách duy nhất vượt qua trở ngại này là nhập khẩu hàng tiêu dùng từ nước ngoài, nhưng phải trả bằng tiền theo giá thị trường. Tiền chỉ có nhờ xuất khẩu, nhưng, ngoại trừ Liên Xô có dầu hỏa, thị trường thế giới chẳng quan tâm gì đến sản phẩm của khối xã hội chủ nghĩa, trừ khi chúng được bán với giá rẻ bèo, nhưng ngay cả khi bán với giá bèo, vẫn có trường hợp không ai mua. Cách thực tế nhất, cách duy nhất để các cửa hiệu có đủ hàng hóa cho người tiêu dùng tại phương Đông là vay tiền từ phương Tây.

Tư sản nuôi vô sản

Phương Tây đương nhiên sẵn sàng ra tay giúp đỡ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và những ngân hàng tư nhân đều rất vui lòng cho các nước khối Xô-viết vay tiền, vì lý do: Hồng quân Liên Xô là bảo chứng đáng tin cậy cho ổn định lâu dài, thêm vào đó, quan chức cộng sản cũng đã biến hóa các số liệu về năng suất và tài nguyên nghe rất thuyết phục.[vi] Chỉ tính trong thập niên 1970, nợ nước ngoài của Tiệp Khắc đã tăng lên 12 lần. Tại Ba Lan, nợ nước ngoài tăng đến 3000% sau khi Tổng Bí thư Gierek và tay chân cho nhập ào ạt hàng hóa được trợ giá từ phương Tây, cùng lúc thực hiện các chương trình bảo hiểm xã hội mới rất tốn kém dành cho nông dân, và cho kềm giá thực phẩm ở mức giá năm 1965.

Thật khó lòng kiểm soát khi nợ lên đến mức vừa kể. Năm 1976, Gierek cho tăng giá thực phẩm tại Ba Lan thì bạo loạn giận dữ đã nổ ra nhưng lập tức bị dẹp tan, và chế độ đã không còn con đường nào khác ngoài tiếp tục vay mượn: từ năm 1977 đến 1980, 1/3 tiền Ba Lan vay từ nước ngoài được dùng để trợ giá cho hàng tiêu dùng trong nước. Các kinh tế gia cộng sản tại Praha, Tiệp Khắc, cũng khuyến cáo nên bỏ dần bao cấp và chấp nhận giá “thật”, nhưng các lãnh tụ chính trị của họ sợ hậu quả khó lường của biện pháp này nên cũng chỉ chọn cách vay mượn nhiều hơn nữa. Và, tương tự như những năm giữa hai thế chiến, lại một lần nữa các quốc gia nhỏ và dễ vỡ tại Đông Âu phải vay vốn từ phương Tây để vực dậy nền kinh tế tự cấp, và cũng để tránh né những chọn lựa còn khó khăn hơn nhiều.

Ngập nợ

Miklós Németh, thủ tướng cộng sản cuối cùng của Hungary, vài năm sau đó cũng phải công nhận những điều vừa kể. Khoản vay một tỉ Đức-mã từ Bonn, được chấp thuận vào tháng Mười 1987 và được các chính khách Tây Đức mô tả như một đóng góp cho công cuộc “cải cách” kinh tế của Hungary, thực ra đã không được dùng để cải cách kinh tế. Németh công nhận: “chúng tôi dùng 2/3 số tiền này để trả lãi, và phần còn lại dùng để nhập thêm hàng tiêu dùng, cho khủng hoảng kinh tế nhìn bớt xấu xí.” Năm 1986, thâm thủng thương mại của Hungary được nhà nước công bố là 1,4 tỉ đô-la Mỹ mỗi năm. Từ 1971 đến 1980, nợ nước ngoài của Ba Lan đã tăng từ 1 tỉ lên 20,5 tỉ đô-la Mỹ, và sau đó còn lên cao hơn nữa. Chính Đông Đức cũng tự nhận rằng trong những năm cuối cùng của chế độ họ đã dùng trên 60% tiền lãi nhờ suất khẩu hàng năm để trả lãi tiền vay của phương Tây (dù lãi suất đã được phương Tây cắt giảm rất hào phóng). Yugoslavia, một khách hàng thường được chiều chuộng (từ 1950 đến 1964, Mỹ đã bao trả đến 3/5 thâm thủng hàng năm của Belgrade) thì luôn nhận được những khoản cho vay rộng rãi và những cam kết hỗ trợ tức thời, tất cả đều dựa trên những số liệu khống, không có bất cứ liên hệ gì với thực tế.

Gộp chung, nợ nước ngoài của Đông Âu ở mức 6,1 tỉ năm 1971, đã tăng lên 66,1 tỉ vào năm 1980, và lên tới 95,6 tỉ đô-la Mỹ vào năm 1988[vii]. Con số vừa kể không bao gồm số liệu từ Rumani – vì Ceaușescu đã trả hết nợ vay nước ngoài nhờ đè đầu cỡi cổ vắt kiệt dân nước mình trong nhiều năm trời; con số cũng có thể cao hơn nếu Hungary không có những nhượng bộ về giá cả trong thập niên 1970. Nhưng ý nghĩa của tình trạng này thật rõ ràng: hệ thống cộng sản không chỉ vay tiền để sống, mà còn vay mượn cả thời gian. Không sớm thì muộn, chế độ cần phải thực hiện những điều chỉnh kinh tế, tuy sẽ đau đớn và làm xáo trộn xã hội.

Không thể sửa

Nhiều năm sau này, ông Markus Wolf, trùm gián điệp Đông Đức, có thể tự hào rằng vào cuối thập niên 1970, mình là người dám khẳng định Đông Đức đã “hỏng rồi”. Cũng không chỉ mình Wolf thấy điều này. Những nhà kinh tế như Tamás Bauer tại Hungary, và đồng nghiệp Ba Lan Leszek Balcerowicz, cũng rất hiểu tòa nhà cộng sản xây trên cát đang lung lay đến mức nào. Nhưng, chừng nào những nhà tư bản còn bảo kê nó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn tồn tại. “Thời kỳ trì trệ” (nói theo Gorbachev) dưới triều Leonid Brezhnev đã tạo ra rất nhiều ảo tưởng, và không chỉ là trong các nước cộng sản. Năm 1978, khi Báo cáo của Ngân hàng Thế giới khẳng định rằng Đông Đức có mức sống cao hơn cả Anh Quốc, thì có lẽ cả thằng Cuội trên cung trăng cũng phải lăn ra cười sặc sụa.[viii]

Nhưng, những người cộng sản hiểu nhiều điều mà các nhà tài chính ngân hàng phương Tây không tưởng tượng được. Cải cách kinh tế trong khối Xô-viết không phải là bị trì hoãn, mà là không thể được. Như Amalrik dự đoán trong cuốn Liệu Liên Xô có tồn tại đến năm 1984?, giới lãnh đạo cộng sản “thấy chế độ hiện tại tệ hại, nhưng vẫn đỡ tệ hại hơn là phải đau đớn thay đổi nó.” Cải cách kinh tế, dù chỉ là những điều chỉnh cục bộ nhất, mang lại hiệu quả nhỏ nhất, cũng sẽ đứt dây động rừng, có ảnh hưởng chính trị lập tức. Những sắp xếp kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tạo ra những khu vực độc lập mà đan xen chằng chịt vào nhau tạo thành cả một hệ thống chính trị.

Không phải vô tình mà các nước chư hầu Liên Xô tại Đông Âu đều được cai trị bởi những ông trùm già, bảo thủ và cơ hội. Vào thời đại mới của chủ nghĩa thực dụng, những vị như Edward Gierek ở Warsaw (sinh 1913), Gustáv Husák ở Praha (sinh 1913), Erich Honecker ở Bá Linh (sinh 1912), János Kádár ở Budapest (sinh 1912) và Todor Zhivkov ở Sofia (sinh 1911) – chưa kể các vị Enver Hoxha ở Tirana (sinh 1908), và Josip Broz Tito ở Belgrade (sinh 1892) – đều là những vị có tính thực tế ở mức thượng thừa. Giống như Leonid Brezhnev – sinh 1906, bảy lần nhận Huân chương Lênin, bốn lần nhận danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô-viết, đoạt Giải Hòa bình Lenin, Tổng Bí thư, và từ 1977 kiêm luôn Chủ tịch Nước – các ông trùm này cũng chỉ già đi theo kiểu rất thường dân: Họ không có động cơ gì để tự làm khổ mình, ngược lại, họ có đủ ham muốn để được chết trên chiếc giường hiện có. [ix]

Chưa thể sụp

Mặc dù “chủ nghĩa xã hội trên thực tế” đã chứng tỏ sự bất lực và mất uy tín toàn diện nhưng điều này vẫn chưa làm chế độ sụp đổ. Aleksandr Solzhenitsyn, trong diễn văn nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1971 (diễn văn được đọc thay, vì ông vắng mặt), nói một cách hùng hồn rằng “một khi dối trá bị lật tẩy, bạo lực trần trụi sẽ lộ nguyên bộ mặt thô bỉ của nó, và rồi bạo lực, khi ấy đã đuối sức, sẽ sụp đổ tan tành.” Nhưng nhận định này đã không hẳn đúng. Sự trần trụi của bạo lực Xô-viết đã hiện nguyên hình từ rất lâu – và còn bị phơi trần lần nữa trong cuộc xâm lăng đầy thảm họa vào Afghanistan năm 1979 – bên cạnh đó, những dối trá của chủ nghĩa cộng sản cũng đã từng bước bại lộ và được giải mã vào những năm sau biến cố 1968.

Tuy vậy, chế độ cộng sản vẫn chưa sụp đổ. Có thể nói, đóng góp nổi bật của Lenin cho lịch sử Châu Âu là ông đã bắt cóc tinh thần cấp tiến của châu Âu, vốn có tính chia rẽ ly tâm, và biến nó thành một thứ quyền lực chính trị với một hệ thống kiểm soát độc quyền rất sáng tạo: thu gom thô bạo mọi quyền hành về một mối và dùng bạo lực quyết liệt để duy trì nó tại một chỗ. Hệ thống cộng sản có thể bị bào mòn vô hạn định ở ngoại vi [Đông Âu], nhưng yếu tố khiến nó cuối cùng sụp đổ chỉ có thể đến từ trung tâm của quyền lực [Moscow]. Trong câu chuyện về ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản, những hoạt động đối lập mới, nở rộ trong giới trí thức tại Praha và Warsaw, có thể xem là đoạn kết cho một khởi đầu mới. Còn nhân tố lãnh đạo vừa xuất hiện tại Moscow mới chính là khởi đầu cho đoạn kết.[x]

Tony Judt

Phan Trinh dịch

Nguồn: Post War, Tony Judt, NXB Penguine Books, 2006, trang 577-584. Tựa và tiêu đề là của người dịch.

----------------------
[i] Suốt thập niên 1980, Ba Lan và Tiệp Khắc rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng (“tăng trưởng” âm) – nền kinh tế các nước này thu nhỏ lại. Nền kinh tế của chính Liên Xô cũng đã co cụm lại từ năm 1979. (TG)

[ii] Timothy Garton Ash, The Uses of Adversity (NY, 1989), trang 9. (TG)

[iii] Trong nông nghiệp, phần lớn Liên Xô, Hungary, Rumani một lần nữa lại gợi nhớ tới tình trạng các đại trang trại vào thế kỷ 19: giới lao động nông nghiệp bị trả lương bèo bọt, làm việc cầm chừng, thiếu thốn dụng cụ nên chỉ làm tối thiểu cho những ông chủ vắng mặt, còn để dành sức cho công việc thật tại các thửa đất riêng của gia đình. (TG)

[iv] Xin cảm ơn Tiến sĩ Paulina về trích dẫn này. (TG)

[v] Dưới thời Brezhnev, một pound (khoảng nửa ký) thịt bò tốn 3,5 rúp để sản xuất nhưng chỉ được bán với giá 2 rúp. Cộng đồng Châu Âu cũng trợ giá cho người chăn nuôi, với tỉ lệ gần như tương tự. Sự khác biệt nằm ở chỗ Tây Âu có Chính sách Nông nghiệp Chung, trong khi Liên Xô thì không. (TG)

[vi] Hungary gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 1982, cả hai đều phấn khích chúc mừng nhau. Chỉ đến năm 1989, người ta mới biết chính quyền Hungary đã cố tình hạ rất thấp mức nợ trong và ngoài nước của thập niên trước đó. (TG)

[vii] Jeffrey D. Sachs, cố vấn kinh tế của chính phủ Ba Lan hậu cộng sản và nhiều nước trên thế giới, chủ trương rằng: Kinh tế các nước hậu cộng sản sẽ khó lòng phục hồi nếu cứ phải trả các khoản nợ do chế độ cũ để lại. Với nỗ lực vận động và tư vấn của Sachs, Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã giúp xóa 50% nợ cho Ba Lan, tương đương 15 tỉ đô-la Mỹ, vào đầu thập niên 1990.  Lý do để Thủ tướng Kohl thay đổi, từ phản đối qua đồng ý xóa nợ, là vì nước Đức cũng từng được đồng minh xóa những khoản nợ vay trước Thế chiến II. Chuyện xóa nợ được kể lại trong Chương “Poland’s Return to Europe” (Ba Lan trở về với Châu Âu) trong cuốn The End of Poverty (Chấm dứt nghèo đói), của Jeffrey D. Sachs, NXB Penguine Books, 2006. (ND)

[viii] Nguyên văn “Prince Potemkin must surely have smiled in his far-off grave” (Hoàng thân Potemkin có nằm trong mộ ở nơi xa lắc cũng phải mỉm cười). Potemkin (1739-1791) – nhà quý tộc, chính khách, nhà quân sự Nga, được phong tước Hoàng thân Đế quốc Nga – được nhắc đến ở đây như một kẻ phỉnh phờ, do giai thoại ông cho xây một ngôi làng giả tạo nhưng đẹp đẽ để gây ấn tượng khi Nữ hoàng Catherine II đến thăm. (ND)

[ix] Hơn nữa, cũng như Brezhnev, các vị này là những người tiêu dùng hàng đầu của thời đại họ đang sống. Một truyện tiếu lâm Xô-viết cùng thời kể rằng: Vị lãnh tụ Liên Xô một hôm khoe với mẹ các dacha [nhà nghỉ dưỡng ở đồng quê], biệt đội xe hơi, và các dãy nhà lưu trú mùa săn bắn của mình. Mẹ lãnh tụ khen: “Tuyệt đấy, Leonid!” Nhưng rồi bà lại lo: “Nhưng nếu bọn cộng sản trở lại nắm quyền thì sao con?” (TG)

[x] Tony Judt viết đoạn cuối này để dẫn nhập vào Chương 19 “The End of the Old Order” (Kết thúc trật tự cũ), chương nói về những yếu tố khác dẫn đến sự sụp đổ của cộng sản, trong đó nổi bật là vai trò của Gorbachev, vai trò của Giáo hoàng John Paul II, Công đoàn Đoàn kết, vụ Liên Xô sa lầy ở Afghanistan (khiến sau đó Liên Xô phải bỏ hẳn chủ trương xua quân sang Đông Âu, dù để cứu các chế độ chư hầu đang lâm nguy), thảm họa nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, những biến chuyển ở Kremlin, phản ứng của phương Tây… Chương 19 cũng nói về diễn tiến cách mạng 1989 tại các nước Đông Âu, trước khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô năm 1991. (ND)

(pro&contra)

Ông Dương Trung Quốc: “68 năm nữa chúng ta mới theo kịp thế giới" !

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 30 tháng năm năm 2013

(GDVN) - “Việt Nam đang phải cạnh tranh, và cạnh tranh ngày càng ở thế bất lợi. Ai cũng thấy rõ điều đó mà chúng ta vẫn còn dè dặt lộ trình ấy. Phải chăng 68 năm nữa chúng ta mới theo kịp được? Tôi sợ lúc đó không còn doanh nghiệp Việt Nam nữa, chúng ta chỉ thu thuế của doanh nghiệp nước ngoài”.
"Phải chăng 68 năm nữa chúng ta mới theo kịp được"

ĐBQH Dương Trung Quốc

ĐBQH Dương Trung Quốc (đoàn Đồng Nai) nêu quan điểm khi đề cập đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN ngày 29/5.

Đề cập đến vấn đề phí quảng cáo, ĐBQH Dương Trung Quốc – người tham gia xây dựng Luật quảng cáo đề nghị chuyển sang tính theo doanh thu cho hợp lý. Tuy nhiên ông cũng đề nghị phải sớm vạch ra một “lộ trình hội nhập với thế giới”, trong đó có việc xóa bỏ phí này.

Với tỷ lệ khống chế cho chi phí quảng cáo và khuyến mại, việc tăng mức khống chế từ 10 lên 15%, ĐB gọi mức 15% để dành cho “những doanh nghiệp tạm gọi là sơ sinh”, tức 3 năm đầu. Như thế chúng ta chỉ có một sự thay đổi là “biến tiêu chuẩn của sơ sinh thành người trưởng thành”.

Theo ông Quốc con số này cần phải bàn tới trên thực tế. Nếu sau 4 năm nhích lên được 5% thì phải 68 năm nữa chúng ta mới lên được 100%. Tức là mới hội nhập, mới hoàn thiện lộ trình đưa ra.

“Trong khi thế giới thay đổi rất lâu rồi còn chúng ta vẫn nói là hội nhập với thế giới. Nhưng trên thế giới hiện chỉ còn Việt Nam và Trung Quốc mà Trung Quốc đi trước chúng ta ở chỗ tính theo doanh thu”.

ĐB phân tích, Trung Quốc là thị trường rất lớn, một quốc gia có truyền thống về kinh tế. Ngược lại Việt Nam ai cũng biết “non trẻ”.

“Vì thế tôi cho rằng cần phải xem xét cả con số 5%. Tại sao không phải là 20%, 25%? Phải chăng chỉ vì chúng ta có tâm trạng chung là cảnh giác, dè chừng chứ không phải tin cậy các doanh nghiệp? Chúng ta không phải mở rộng cánh cửa cho doanh nghiệp phát triển, không thấy rằng chính doanh nghiệp phát triển sẽ mang được nguồn thu bền vững mới là quan trọng” – ông Quốc nói.

Ngoài ra theo ĐB Quốc thì Việt Nam “đang phải cạnh tranh, và cạnh tranh ngày càng ở thế bất lợi” đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, hoặc của nước ngoài.

“Mọi người đều nhất trí là chúng ta phải sớm vạch một lộ trình hội nhập với thế giới và trong đó có một việc là xóa bỏ phí này, nhưng không ai bàn đến con số 15% đưa ra ở đây. Đúng là 15% có nhích lên hơn trước 5% nhưng thực ra ngay ở luật hiện hành thì 15% cũng dành cho những doanh nghiệp tạm gọi là sơ sinh tức là 3 năm đầu. Như thế chúng ta chỉ có một sự thay đổi là biến tiêu chuẩn của sơ sinh thành người trưởng thành. Trên thực tế chúng ta thấy con số này cần phải bàn tới, nếu như làm một hệ tính số học đơn giản sau 4 năm chúng ta nhích lên được 5%, vậy thì phải 68 năm nữa chúng ta mới lên được 100%, lúc đó mới hoàn thiện lộ trình chúng ta đưa ra”, ông Quốc nói.

Ông quan niệm, ngay cả chi phí cho quảng cáo cũng là một khoản đầu tư chứ không vứt đi đâu. Đầu tư cho dịch vụ quảng cáo, các doanh nghiệp quảng cáo ngày càng chuyên nghiệp hơn. Nhà nước vẫn thu được thuế qua các hoạt động đó chứ nó không chạy đi đâu.

Với cách nhìn như vậy, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng điều đó phù hợp hơn, thoát ra khỏi một cách nhìn và những bước đi dè dặt.

“Ban soạn thảo nên quan tâm đến lộ trình một cách mạnh mẽ hơn để đạt được mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất là lợi ích của nhà nước gắn chặt với lợi ích doanh nghiệp. Nguồn thu bền vững của nhà nước chính là làm sao tạo ra những hành lang pháp lý để thúc đẩy sự phát triển của chính doanh nghiệp" - ĐB Dương Trung Quóc đề nghị.

"Chúng ta tự mâu thuẫn"
Cũng tại buổi góp ý cho dự luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, ĐB Quốc hội Trần Du Lịch nói về sự bất cập của thuế doanh nghiệp lại đề cập tới nhiều khia cạnh khác.

ĐB Trần Du Lịch
Theo ĐB Trần Du Lịch nói: “Mấy kỳ họp trước khi thông qua Luật Hợp tác xã thì ta nhất quyết hợp tác xã không phải là doanh nghiệp, nhưng khi thông qua luật Thuế thì phải là doanh nghiệp. Nói vậy thì chúng ta tự mâu thuẫn. Tôi nghĩ phải xem xét cái này”.

Liên quan đến ưu đãi ở khu công nghiệp (KCN), ĐB Trần Du Lịch cho rằng, phải thống nhất quan điểm là ưu đãi trong khu công nghiệp với mục đích gì? “Mục đích của chúng ta là trong lâu dài sẽ không còn xí nghiệp nào sản xuất nằm ngoài KCN, vì chính KCN mới giải quyết môi trường, giải quyết hạ tầng đồng bộ, giải quyết một cách bền vững phát triển. 

Khuyến khích vào KCN ở đây chúng ta lại gắn với chuyện vùng sâu, vùng xa khó khăn, hai lĩnh vực không liên quan với nhau. Hà Nội, TPHCM cần khuyến khích hơn bởi vì giải quyết ngoài các khu dân cư, đây là động lực, tư tưởng chung. Mục tiêu của luật thuế này là để trong một thời gian nào đó góp phần vào vấn đề về lâu dài không có sản xuất nằm ngoài KCN, đó là phát triển bền vững”, ông Lịch nói.

Cuối cùng, ông Trần Du Lịch nêu một vấn đề liên quan đến việc đầu tư mở rộng doanh nghiệp đã đề cập tại Quốc hội khóa XII, đó là miễn thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào nhà xã hội, kèm theo đó là vấn đề dự án đầu tư mở rộng được hưởng nhưng ra Quốc hội bác thuế đó và bác luôn gói này, kéo dài 3 - 4 năm nay những doanh nghiệp đầu tư mở rộng không được hưởng ưu đãi mở rộng.

“Lần này đưa vào là đúng nhưng chúng ta lại đưa ra điều kiện 300 triệu đô la, doanh số 10.000 tỷ; 300 triệu đô la và 3000 lao động. Rõ ràng với một quy mô như vậy ta lập pháp nhân mới chứ không ai gọi là mở rộng. Việc mở rộng thành ra chúng ta đưa điều kiện như vậy thì không xử lý được vấn đề, tôi nghĩ cần cân nhắc lại về điều kiện để thực đúng đó là mở rộng. Còn doanh nghiệp nói với tôi 300 triệu đô la đầu tư thì lập một công ty mới để hưởng theo doanh nghiệp mới, chứ không ai đưa vào mở rộng”, ông Lịch bày tỏ.



Mai Nguyễn - Ngọc Quang (ghi)
 (Giáo Dục)

Ai là Nhà nước ?

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 30 tháng năm năm 2013

Bộ Y tế chính là cơ quan quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong đó có khám, chữa bệnh... Vì vậy khi nghe Bộ trưởng Bộ này, bà Nguyễn Thị Kim Tiến, hôm 27-5 trả lời phỏng vấn báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, rằng "Thiếu giường bệnh thì... phải hỏi Nhà nước!”, nhiều người hơi bị choáng và đặt câu hỏi, vậy Nhà nước là ai?

Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình. Nhà nước có quyền lực chính trị công đặc biệt, có các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bộ Y tế là cơ quan hành chính Nhà nước thuộc các cơ quan hành pháp.

ình trạng quá tải BV kéo dài nhiều năm khắc phục rất chậm, 
3-4 bệnh nhân vẫn nằm ghép giường
Ảnh: Hoàng Long

Điều sơ đẳng đó với một vị Bộ trưởng sao có thể quên, sao nỡ "đá bóng” trách nhiệm về tình trạng thiếu giường bệnh, bệnh viện (BV) cho một "Nhà nước” mơ hồ; nỡ đánh đố báo chí và thách thức người dân - "đi mà hỏi Nhà nước”! Vậy theo Bộ trưởng, hỏi Nhà nước là hỏi ai?

Tình trạng quá tải BV kéo dài nhiều năm khắc phục rất chậm, 3-4 bệnh nhân vẫn nằm ghép giường, Bộ trưởng cho rằng muốn giảm tải phải xây mới BV, phòng khám, trạm xá… Hà Nội từ 1975 đến nay mới chỉ xây thêm BV Thanh Nhàn và Phụ sản Hà Nội. Trong khi đó dân số tăng gấp đôi. Nhà báo đặt vấn đề, nếu cử tri, đại biểu Quốc hội tiếp tục chất vấn vấn đề quá tải để Bộ Y tế đưa ra thời điểm cụ thể giải quyết thì sao? Bộ trưởng bảo "câu hỏi này cũng phải dành cho Nhà nước, vì Bộ Y tế không thể xây nhà được và cũng không có tiền làm nhà, xây BV hay mua trang thiết bị”. 

Có thể hiểu Bộ trưởng muốn nói Nhà nước là cả hệ thống chính trị chăng? Vậy vai trò cá nhân của vị Bộ trưởng ở đâu? Đối thoại với báo chí là cơ hội để Bộ giải trình với cử tri cả nước những vấn đề cụ thể liên quan đến trách nhiệm ngành mình. Như việc ngành y tế kêu thiếu vốn đầu tư nhưng quyết toán ngân sách 2011 chỉ giải ngân đạt 89,1%. Trả lời điều này, Bộ trưởng bảo "phần không chi đạt nằm trong bảo hiểm y tế, phần kết dư. Ðầu tư cơ sở hạ tầng của ngành y tế gần như quyết toán hết”. Cách nói cho xong thiếu số liệu cụ thể, quá mơ hồ chung chung như vậy của Tư lệnh ngành quả là cách thoái thác trách nhiệm.

Những tiến bộ và triển vọng cải cách quản lý ngành, nếu có, nếu đáng tin cậy, phải được thể hiện ở việc tăng cường trách nhiệm giải trình và đề cao tính minh bạch, tăng cường giúp mọi đối tượng tiếp cận thông tin ngành mình quản lý, góp phần giải quyết tận gốc những yếu kém, không tạo điều kiện phát sinh tham nhũng. 

Trong một hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào kiểm soát hành chính, trách nhiệm giải trình phải cố gắng tránh vòng vo. Nhưng trường hợp này, bà Bộ trưởng lại né bằng cách "đá trách nhiệm đi”, là kêu gọi "cả hệ thống chính trị vào cuộc” sáo mòn, thay vì cố gắng đổi mới, tái cấu trúc ngành, không chỉ dừng ở Đề án BV vệ tinh hay luân chuyển bác sĩ...

Trách nhiệm giải trình còn có nghĩa để làm tốt thì được khen, thưởng, và làm không tốt thì dám chịu trách nhiệm, hậu quả. Các câu hỏi thực sự của dân giúp người đứng đầu ngành ý thức hơn mình "chịu trách nhiệm trước ai” và "chịu trách nhiệm về cái gì”. 

Sao Bộ trưởng không chủ động chỉ thẳng ra những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý đầu tư của ngành, như kết quả Kiểm toán Nhà nước năm 2011 vừa cho biết. Đó là một số dự án Bộ Y tế phê duyệt điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, làm tăng quy mô đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện. Vì sao những điều này đã được Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị từ những năm trước mà chậm được khắc phục? 

Quốc hội và HĐND các cấp đã và đang đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước. Mở rộng và củng cố cơ chế trách nhiệm giải trình giúp Chính phủ đáp ứng tốt hơn nhu cầu cũng như mối quan tâm của công dân và doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm giải trình của các vị bộ trưởng, nhất là y tế và giáo dục, cần trở thành xu thế chủ đạo.

Hiện một số người dân nhận thức về các quyền pháp lý có hạn, lại thiếu cơ chế hiệu quả để đòi hỏi có dịch vụ tốt hơn, nên người dân chưa được đặt đúng vị trí để tạo áp lực từ dưới. Các phương tiện truyền thông trở thành kênh thông tin - chất vấn hiệu quả, tin cậy. Việc báo chí nhận được câu trả lời "như đùa” nói trên cho thấy Bộ Y tế còn khá nhiều thách thức, phải rất nỗ lực mới đạt được tiến bộ nâng cao tính minh bạch điều hành quản lý, dù giờ đây mức độ thâm nhập của Internet và các phương tiện truyền thông gia tăng, thông tin chính sách nhà nước ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn bao giờ hết. 

Bộ trưởng có hay, một bệnh nhân đã chua chát đánh giá cao nhất Bộ Y tế thời gian qua chính là chính sách tăng khung giá điều trị. "Ngay cả người có BHYT cũng khiếp vía không dám nhập viện điều trị”. Chẳng hạn khâu ép sụn vành tai do một điều dưỡng thực hiện trong khoảng 5 phút, giá một triệu ba trăm ngàn đồng, chưa kể tiền giường 1-2 ngày tính riêng, do bị bắt buộc nhập viện. Nhiều người nhận giấy đóng tiền xong là lặng im ra về để giảm tải cho BV. Về nhà mua thuốc nam mà uống.

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ XHCN. Cơ quan hành chính và đội ngũ công chức không được quan liêu, hách dịch, không được gây phiền hà cho người dân khi thi hành công vụ. Nền hành chính nhà nước ta có định chế tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ, thông suốt từ trung ương tới các địa phương. Năng lực chuyên môn và trình độ quản lý của những người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc thực hiện. Điều này phải được coi là tiêu chuẩn số một trong nền hành chính phát triển theo hướng hiện đại. 

Nâng cao năng lực, ý thức chịu trách nhiệm của các vị bộ trưởng, nhất là y tế và giáo dục – lĩnh vực trực tiếp liên quan đến mọi thế hệ, mọi nhà, cần trở thành xu thế chủ đạo. Tại sao đã xã hội hóa hai lĩnh vực này bao năm qua, mà chất lượng dịch vụ công không cao, lại luôn quá tải? Để xảy ra tình trạng này trách nhiệm của ai cần phải làm rõ, quy hoạch ở đâu, tầm nhìn ở đâu đối với các cơ quan có trách nhiệm và các cá nhân có trách nhiệm cao nhất? Ai phải chịu trách nhiệm trước tình trạng thiếu trường lớp, thiếu BV triền miên? Sao năm nào trẻ em ở các thành phố lớn đều phải bốc thăm vào mẫu giáo công, và mới đây tại Kon Tum, tuyển chọn học sinh vào lớp 1 công cũng phải bốc thăm? Và BV cứ như trại tỵ nạn? 

Một khi nhà báo cũng bó tay trước cách trả lời "đi hỏi Nhà nước” của Bộ trưởng, trách gì người dân vẫn còn quá khó trong tiếp cận thông tin từ phía các cơ quan nhà nước. Điều này đang hạn chế vai trò giám sát của người dân đối với các dịch vụ và chức năng do Chính phủ cung cấp. 

… Không biết một khi, các đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Tiến về tình trạng quá tải BV, thiếu BV, Bộ trưởng có "xui” các vị này đi hỏi Nhà nước không nhỉ?

Thanh Như
(Đại đoàn kết)

Người khỉ ở Hà jang với chuyện thần kỳ về nghị lực

‘Người khỉ’ ở Hà Giang và chuyện thần kỳ về nghị lực

(VTC News) - "Bản làng rất xem trọng cái đuôi của tôi, nên tôi không bỏ nó đi đâu”. 
Kỳ 1:
Kỳ 2: Nghị lực thần kỳ

Mặt trời lặn nhanh phía bên kia dãy núi. Bóng tối tràn ngập, đại ngàn âm u. Bên bếp lửa bập bùng có cả vợ con ngồi quanh, anh Vàng Seo Chúng, người được gọi là “người khỉ” nhớ lại những năm tháng tuổi thơ của mình. 

Anh Chúng là con thứ ba trong một gia đình nghèo đói như những gia đình H’Mông trong bản Tả Lử Thận (Pà Vầy Sủ, Xín Mần, Hà Giang).

Bố mẹ Chúng đều mồ côi từ nhỏ. Lớn lên, về ở với nhau, nương dựa vào nhau để sống. Rừng già, núi đá, nên cuộc sống của bố mẹ chúng rất khó khăn, đói ăn triền miên. 
‘Người khỉ’ ở Hà Giang và chuyện thần kỳ về nghị lực
Cái đuôi của anh Vàng Seo Chúng 
Bà Hạng Thị Chở, mẹ Vàng Seo Chúng nhớ lại ngày sinh ra cậu con mọc đuôi của mình: “Ngày đẻ thằng Chúng rét lắm. Nước dưới suối đóng băng, tuyết trên trời rơi xuống trắng xóa. Tôi đi nương về thì đau bụng dữ dội, chỉ muốn ngã thôi. Phải vất vả lắm tôi mới lết được vào nhà. Tôi tự đẻ nó, tự cắt rốn cho nó bằng cái cật nứa”.

Ngày đó xã chưa có trạm xá nên tất cả đàn bà H’Mông trong bản đều đẻ ở nhà. Khi Chúng sinh ra cũng giống như bao đứa trẻ khác, chỉ có điều ở vùng thắt lưng có một nhúm lông. Điều này khiến bà Chở hết sức lo lắng. Bởi lẽ từ xưa đến nay chưa bao giờ bà nhìn thấy một đứa trẻ nào có bộ phận đặc biệt đó. 

Chồng bà gọi thầy cúng đến nhà. Ông thầy cúng nhìn thấy nhúm lông ở thắt lưng cậu bé thì sợ hãi, chạy mất. Chồng bả Chở lại phải cất công mời thầy cúng ở xa đến. Ông thầy cúng này bảo Chúng bị “ma khỉ” nhập, nên phải làm lễ trừ tà rất to.

Lễ cúng diễn ra suốt nhiều ngày. Thầy cúng giết rất nhiều gà, rắc máu tươi xua đuổi tà ma. Cúng xong, ông bảo vợ chồng bà Chở nên mừng, vì theo ông, nhúm lông này sẽ mọc ra một cái đuôi và nhờ cái đuôi đó, mà gia đình bà sẽ khấm khá về sau.
‘Người khỉ’ ở Hà Giang và chuyện thần kỳ về nghị lực
 
Chẳng biết lời phán của ông thầy cúng kia có hiệu nghiệm không, nhưng sau này, Chúng mọc đuôi dài, thì đại gia đình bà Chở bớt khổ hơn. Cây lúa trên nương trĩu hạt, bắp ngô to như hoa chuối rừng, mọi tai ương bệnh tật trong nhà cũng sợ hãi mà “chạy trốn” hết. 

Nhà bà Chở từ chỗ đói nghèo nhất bản, giờ đã trở thành gia đình khấm khá nhất. Từ đây, ai cũng tin một điều rằng, chính nhờ cái “đuôi” của Chúng gia đình bà Chở mới được như vậy.

Chúng lớn đến đâu thì cái “đuôi” cũng dài thêm đến đấy. Năm lên 7 tuổi, tự nhiên cái đuôi của Chúng bị đứt. Chúng lăn đùng ra ốm. Bố mẹ đã chạy thuốc thang khắp nơi mà Chúng chưa khỏi bệnh. 

Mãi cho đến một ngày cái túm lông ở thắt lưng mọc lại, tự nhiên bệnh tình của Chúng thuyên giảm rồi khỏi hẳn. Từ ngày đó Chúng rất sợ hãi khi nghĩ đến chuyện phải cắt cái đuôi đó đi. 

Không chỉ mang đến may mắn cho gia đình, Chúng là hiện thân của điềm lành cho dân bản nên cả bản Tả Lử Thận xem Chúng như báu vật. Từ người già cho đến đứa trẻ, ai cũng cho rằng được ngồi nói chuyện với Chúng, được uống với anh chén rượu nghĩa là thần may mắn từ Chúng sẽ “lây” sang họ nên dễ hiểu vì sao Chúng được hâm mộ. 
‘Người khỉ’ ở Hà Giang và chuyện thần kỳ về nghị lực
Anh Chúng rất chăm chỉ, lại có sức khỏe hơn người 
Khi Chúng đến tuổi trưởng thành các cô gái trong bản mê Chúng lắm. Anh vừa là hiện thân của thần may mắn vừa là người chí thú làm ăn và biết tính toán hơn người. Chẳng thế mà cô gái ở cùng bản, tên là Giàng Thị Chá đã không ngần ngại làm vợ Chúng. 

Một năm sau ngày cưới, vợ Chúng sinh một cô con gái kháu khỉnh. Trước khi vợ mang bầu, Chúng lo lắng, liệu đứa trẻ có giống mình không? 

Khi đứa bé chào đời, Chúng mừng như bắt được vàng, vì nó không có cái thắt lưng giống bố. Và lần lượt 4 đứa con nữa của Chúng ra đời cũng vậy. Chúng mừng lắm! 

Lạ hơn là cái đuôi ngày nào đó không là một điều đáng lo ngại với Chúng nữa. Chúng bỗng nổi tiếng khắp vùng. Đi đâu mọi người cũng muốn chiêm ngưỡng khiến Chúng cũng vui lây. 

Một lần Chúng sang Trung Quốc làm thuê, đang mải vác gỗ, nên cái đuôi lòi ra lúc nào không biết. Mấy người bạn người Trung Quốc nhìn thấy một mẩu đuôi cứ đung đưa phía sau Chúng, họ hết sức ngạc nhiên. 

Mấy chục người đều đổ dồn ánh mắt tò mò vào Chúng. Một người thì bảo: “Đó là cái đuôi giả. Chúng lắp vào để trêu mọi người…”. Chúng giải thích thế nào họ cũng không tin. Cuối cùng Chúng đành trưng bộ phận đó ra cho mọi người xem. Một số người còn sờ tay vào thử xem có phải là thật không.
‘Người khỉ’ ở Hà Giang và chuyện thần kỳ về nghị lực
Anh Vàng Seo Chúng 
Chúng là một người chồng, người cha tuyệt vời trong gia đình. Chúng rất chịu khó làm lụng. Chị Chá vợ Chúng bảo: “Nhà đông con, nên Chúng luôn phải lăn ra làm. Vất vả suốt cả ngày, nhưng chưa bao giờ Chúng mắng chửi vợ con cả”. 

Trưởng bản Giàng Seo Hầu cũng hết lòng khen ngợi: "Chúng và Chá là cặp vợ chồng đặc biệt trên đỉnh Tả Lử Thận. Chúng không bao giờ uống rượu, nát rượu như người khác đâu. 

Mùa khô, khi gió lạnh về, không cây gì mọc nổi, vườn rau cải trong vườn cũng cháy rụi lá vì lạnh giá và sương muối thì cũng là thời điểm Chúng đi sang Trung Quốc làm thuê, kiếm tiền mua áo ấm cho con và mua lợn giống, phân bón… chuẩn bị mọi thứ cho mùa sang năm". 

Ngoài làm nương, làm rẫy, Chúng còn là người đầu tiên của bản nghĩ đến chuyện trồng rừng. Cái ngày Chúng đánh những cây sa mu lên núi trồng, bà con cho Chúng là ngớ ngẩn. 

Sau 10 năm, rừng sa mu của Chúng, cây nào cây nấy lực lưỡng như cột chống trời. Nhà nào trong bản thiếu gỗ làm nhà Chúng cho luôn vài cây. Giờ thì người dân ở bản Tả Lử Thận hết lòng ủng hộ cái sáng kiến phải trồng rừng để giữ nước và lấy nguyên liệu làm nhà của Chúng. 

Tôi đã hỏi Chúng, nếu có một khoản tiền lớn anh có làm phẫu thuật cắt bỏ đuôi không? Anh Chúng lắc đầu nguầy nguậy: “Nhờ nó tôi mới có được sức khỏe, nhà tôi mới ăn nên làm ra. Bản làng cũng rất xem trọng cái đuôi của tôi, nên tôi không bỏ nó đi đâu”. 

Thủy Bình

Chuyện lạ người đàn ông mọc đuôi ở Hà jang

25/05/2013 07:10 | Phóng sự - Khám phá

(VTC News) - Từ lúc sinh ra đến nay đã tròn 40 mươi năm anh Vàng Seo Chúng ở bản Tả Lử Thận (xã Pà Vầy Sủ, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang) mang bên mình chiếc đuôi dài nửa mét. 

Kỳ 1: Đi tìm người mọc đuôi 

“Vùng đất đuôi chồn” là từ mà các chiến sĩ Bộ chỉ huy quân sự Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Giang gọi vùng đất Pà Vầy Sủ - cực Tây của tỉnh địa đầu Tổ quốc Hà Giang.

Mấy đồng chí bộ đội biên phòng bảo rằng, vùng đất ấy có nhiều chuyện huyền bí. Những truyền thuyết xen lẫn sự thật về con người, thế giới tự nhiên, đến giờ vẫn không thể nào lý giải được.

Trong vô số những chuyện kỳ lạ, thì chuyện một người đàn ông mọc đuôi như đuôi khỉ ở “vùng đất đuôi chồn” có lẽ là lạ lùng nhất. Vậy là chúng tôi lên đường, vượt 200 cây số đến mảnh đất nhìn trên bản đồ đúng như cái đuôi con chồn.

Vật vã mãi trên cung đường dốc ngược thì cũng đến được Trạm biên phòng Pà Vầy Sủ, nhưng cuốc bộ từ đồn biên phòng này đến bản Tả Lử Thận thì muốn đứt hơi. 

Con đường dựng đứng như đường lên trời. Những dốc cao dựng ngược đến nỗi gót người đi trước muốn chạm mặt người đi sau. 
Chuyện lạ người đàn ông mọc đuôi ở Hà Giang
Anh Vàng Seo Chúng 
Đứng trên đỉnh dốc nhìn xuống thấy trung tâm xã Pà Vầy Sủ, với những mái nhà lợp phi-brôximăng hắt ánh mặt trời như những bông hoa mận rơi vãi dưới thung lũng.

Đến bản Tử Lử Thận, hỏi ai cũng chỉ nhận được hai chữ “chư pâu” (không biết). Đồng chí cán bộ biên phòng dẫn chúng tôi đến ngôi nhà giữa bản. Nhà chẳng có ai. Chị hàng xóm sau một hồi ngượng nghịu thì mới nói bằng tiếng H’Mông, rằng anh Chúng lên nương từ sớm, chiều mới về.

Mấy cậu bé lem nhem rách rưới trong bản xung phong chạy vào rừng gọi người mà dân bản gọi là Chúng “khỉ”. 

Mặt trời ngấp nghé dãy núi bên kia của tỉnh Lào Cai thì Vàng Seo Chúng xua đàn trâu 3 con từ trong rừng về bản. 

Ở tuổi 43, song anh Vàng Seo Chúng có vẻ khắc khổ, già nua. Vùng đất chỉ có mây vờn gió núi, mùa đông băng tuyết, mùa hè gió như bão, miếng ăn kiếm khó, nên ai cũng có khuôn mặt khắc khổ, chứ không riêng gì anh Chúng. Đồng chí cán bộ biên phòng lý giải như vậy.

Dáng người nhỏ bé, gầy gò, nhưng anh có sức khỏe phi thường. Anh Chúng đi rừng như con dê leo núi. Người đàn ông miền rừng này từng đi bộ ra tận Hà Giang, tới 200km để chơi cho biết.
Chuyện lạ người đàn ông mọc đuôi ở Hà Giang
Đuôi của anh Chúng 
Mấy năm trước, nghe đài nói Sapa đẹp, anh đã đi bộ 300km cắt sang Si Ma Cai, Bắc Hà, rồi đến tận Sapa của Lào Cai vãn cảnh. Thưởng ngoạn chán chê, anh mới về. Anh chỉ mang theo bọc gạo. Trên đường về, anh luồn rừng săn con sóc, con chuột, hái rau rừng, rồi tạt vào nhà dân nấu nướng nhờ. Gia đình nào đón vị lữ khách kỳ lạ này, thì sẽ được bữa thịt rừng tươm tất.

Chúng tôi vạch ống chân nhỏ xíu của người đàn ông kỳ lạ này ra xem. Ai cũng ồ lên kinh ngạc. Cặp chân nhỏ, nhưng vằn lên từng thớ thịt như nhưng sợi dây leo rừng già.

Ngoài khả năng đi rừng khỏe, Vàng Seo Chúng còn nổi tiếng với khả năng chịu lạnh. Mùa đông ở Pà Vầy Sủ thì thực kinh hoàng. Tuyết rơi lả tả, nước trong khe đóng băng. Tiết trời mùa đông lạnh đến nỗi con gà không dám ra khỏi ổ. Ấy thế nhưng, Vàng Seo Chúng chỉ mặc độc một cái áo may ô, hay chiếc áo sơ mi sờn cũ.

Để khẳng định điều hàng xóm kể là đúng, Vàng Seo Chúng dẫn chúng tôi vào trong nhà, chỉ cái buồng nhỏ. Anh đố chúng tôi tìm được chiếc áo rét nào của anh. Giường anh nằm cũng chẳng có chăn bông. Anh bảo, mùa đông lạnh thế nào, anh cũng chỉ cần đốt lửa, rồi cởi trần và lăn kềnh bên bếp lửa ngủ cho ngon.

Nhìn hàng ngàn bắp ngô treo lủng liểng trên mái nhà, quanh bếp ám khói, tôi bảo: “Ngô nhiều thế này, gia đình anh Chúng không lo thiếu ăn nhỉ?”. Anh Chúng cười hiền: “Người H’Mông mình chỉ nghèo, chứ không đến nỗi thiếu cái ăn đâu. Gạo thóc thì ít, nhưng ngô thì nhiều. Ăn hết gạo thì xay ngô ăn mèn mén. Tổ tiên mình vẫn ăn mèn mén từ xưa rồi, không thấy khổ gì đâu”.
Chuyện lạ người đàn ông mọc đuôi ở Hà Giang
Cái đuôi của anh Chúng dài nửa mét 
Biết chúng tôi vất vả lặn lội từ Hà Nội lên vùng đất tận cùng này là để tìm hiểu về cái đuôi của anh, nhưng còn ngần ngại chưa dám hỏi, nên anh bảo: “Các chú muốn hỏi về cái đuôi của anh chứ gì. Thích thì anh cho xem thôi mà, không có gì ngại đâu. 

Cái đuôi làm cho mình nổi tiếng khắp huyện nên mình vui lắm, chứ không xấu hổ đâu à. Bố mẹ mình sinh ra thế nào, thì mình vui vẻ chấp nhận như thế ấy”.

Vừa nói dứt lời, anh Chúng vén luôn chiếc ao nâu sồng, vòng tay ra sau lưng, kéo tuột chiếc đuôi dài ngoằng cho chúng tôi xem. 

Hóa ra cái đuôi ấy mọc từ thắt lưng anh Chúng, chứ không phải từ phần hông. Cái đuôi dài tới nửa mét, có màu đen nhánh như tóc. Cầm vào đuôi, vuốt nhẹ, thấy rất mượt mà.

Đồng chí cán bộ biên phòng gọi anh hàng xóm tìm mượn giúp chiếc thước dây. Anh đo từ cuống đuôi, thì thấy chiếc đuôi dài đúng nửa mét. 

Theo lời kể của anh Chúng, bản Tả Lử Thận tuy cao tận trời, mây vần vũ ngày đêm, nhưng lại chẳng mấy khi trời thả nước xuống, nên rất hiếm nước. Mùa đông, nước càng ít hơn. Chính vì thế, vào mùa đông, đồng bào H’Mông gần như không tắm. Tiết kiệm nước, nên anh Chúng cũng chẳng tắm. Vậy nên, qua mùa đông, cái đuôi ấy chuyển sang màu hung.

Thế nhưng, đến mùa hè, trời hay mưa, nước khe chảy đầy bể, anh thường xuyên tắm thì chiếc đuôi lại chuyển sang màu đen bóng như tóc mun, rất mềm mại. 

Theo anh Chúng, anh để ý từ nhiều năm nay, thì thấy mỗi năm đuôi anh lại dài ra thêm khoảng 10cm. Cách đây 4 năm, cái đuôi dài đến nỗi, anh quấn 3 lần vòng bụng mới hết. Khi đó, chiếc đuôi dài phải hơn 3m. 

Tuy nhiên, vì chiếc đuôi dài quá, gây vướng víu, nên vợ anh đề nghị cắt vợi đi. Chiều ý vợ, lại cắt quá tay, nên chiếc đuôi chỉ còn như hiện tại. Sau khi cắt đuôi, anh bị ốm một trận tơi bời.

Vợ đã may cho anh chiếc túi nhỏ, đi đâu xa, anh lại nhét túm “đuôi” vào túi buộc lại và treo ở bụng.

Còn tiếp…


Thủy Bình

Xuất hiện 'liên kết' để tạo sức ép lên cơ quan Đảng, Nhà nước

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 30 tháng năm năm 2013

(GDVN) - Theo Thanh tra Chính phủ: Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại “liên kết” với nhau để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà nước. Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người đi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối.

Trong chương trình làm việc xung quanh Dự thảo Luật tiếp công dân được trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 5, Thanh tra Chính phủ đã công bố tổng kết công tác tiếp dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước trong việc tiếp công dân còn bộc lộ những hạn chế.

Ông Huỳnh Phong Tranh - Tổng Thanh tra Chính phủ
Nguyên nhân cả ở hệ thống pháp luật và người thực thi

Thứ nhất: Công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị chưa tốt nên kết quả, hiệu quả giải quyết đạt chưa cao. Việc nắm tình hình khiếu nại, tố cáo chưa chắc; việc theo dõi, thống kê các vụ việc khiếu nại, tố cáo chưa kịp thời, thực tế còn bị động, lúng túng trong chỉ đạo xử lý tình huống phức tạp xảy ra; kế hoạch giải quyết ở các cấp chưa cụ thể, từng cấp chưa làm đầy đủ trách nhiệm, còn bị động đối phó, chưa giải quyết các vấn đề cơ bản, nhất là cơ chế, chính sách và trong chỉ đạo điều hành. Số lượng vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng vẫn còn nhiều; những vụ việc phát sinh mới có nơi chưa giải quyết kịp thời.

Thứ hai: Một số bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm nhiều đến công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiếp công dân trong phạm vi quản lý của mình hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung chưa phù hợp với quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên.

Thứ ba: Nội dung phổ biến pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nhiều nơi còn sơ sài, hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, chưa thu hút và tạo sự quan tâm của người dân. Ngoài ra, đa số địa phương đều gặp khó khăn trong vấn đề kinh phí tổ chức, do vậy số xã, phường, thị trấn được tổ chức tuyên truyền chưa được nhiều và hiệu quả tuyên truyền còn hạn chế.

Thứ tư: Việc bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân ở một số địa phương chưa được chú trọng. Hiện vẫn còn nhiều cán bộ tiếp công dân chưa được đào tạo nghiệp vụ tiếp công dân.

Thứ năm: Một số nơi công tác chỉ đạo hoạt động tiếp công dân còn thiếu quyết liệt, chưa toàn diện, có chỉ đạo nhưng thiếu đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nên hiệu quả chưa cao. Một số trường hợp cấp trên có chỉ đạo nhưng nội dung không rõ ràng hoặc hoặc thiếu thống nhất, dẫn đến cấp dưới lúng túng trong tổ chức thực hiện. Có những trường hợp cấp trên chỉ đạo nhưng cấp dưới không thực hiện nghiêm túc.
"Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại “liên kết” với nhau để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà nước. Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người đi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối...". Thanh tra Chính phủ

Thứ sáu: Công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được làm ráo riết; qua thanh tra, kiểm tra mặc dù phát hiện ra nhiều vi phạm nhưng xử lý chưa nghiêm. Chính vì vậy, hiệu quả thanh tra trách nhiệm mới dừng ở mục đích phòng ngừa là chính (rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, đôn đốc), chưa thực sự có tác dụng “răn đe” (xử lý nghiêm các hành vi vi phạm).

Bên cạnh việc chỉ ra những hạn chế, yếu kém, Thanh tra Chính phủ cũng nêu rõ những nguyên nhân dẫn tới tình trạnh này, bao gồm: Nguyên nhân khách quan là do các quy định pháp luật về tiếp công dân ban hành chưa đầy đủ, chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn; Nguyên nhân chủ quan do nhận thức của một số lãnh đạo bộ, ngành, địa phương chưa đầy đủ, chưa đúng mức, chưa thực sự coi công tác tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần ổn định chính trị, xã hội, phát huy quyền dân chủ của công dân.

hanh tra Chính phủ chỉ rõ 6 hạn chế, yếu kém trong công tác tiếp dân thời gian qua. Ảnh minh họa, nguồn internet.
Xuất hiện “liên kết” để tạo sức ép lên cơ quan Đảng, Nhà nước

Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ, từ năm 2008 đến năm 2011, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp hơn 1,5 triệu lượt người đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận, xử lý 672.990 đơn thư. Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng cả về số đoàn đông người, số vụ việc (từ 187.037 vụ việc năm 2008 tăng lên 236.466 vụ việc năm 2011; từ 2.466 lượt đoàn năm 2008 tăng lên 4.056 lượt đoàn năm 2011).

Về tính chất, mức độ phức tạp mặc dù so với những năm 2006-2007 tình hình khiếu nại, tố cáo từ 2008 – 2011 ở một số địa bàn có giảm, nhưng về tổng quan thì tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi, có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là: số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thư gửi tràn lan mang tính phổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họp Quốc hội, Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng…).

Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện dự án tại các địa phương như TP Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Đăk Lăk, Đắc Nông, Thanh Hóa, An Giang, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai…., các vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân tại các địa phương như: Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh...

Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại “liên kết” với nhau để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà nước. Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người đi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối. Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy cơ làm mất ổn định chính trị - xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm.

Trong một số trường hợp đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư. Trong nhiều dự án, do tác động của tình hình khiếu nại, tố cáo nên đã làm cho dự án bị chậm triển khai, kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội. Một số vụ việc khiếu kiện người dân thể hiện thái độ sẵn sàng đối đầu, bất phục tùng chính quyền, thậm chí hăm dọa cán bộ có trách nhiệm. Điều đáng lo ngại là tình hình khiếu nại, tố cáo đã tác động tiêu cực vào tâm lý, hành động của cán bộ, vào đời sống xã hội và niềm tin của một bộ phận không nhỏ nhân dân, cán bộ đối với chính quyền, đòi hỏi phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt.

   Ngọc Quang

  •  (Giáo Dục)