Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Giáo hoàng từ chức vì vụ Vatileak?


Cập nhật: 11:05 GMT - thứ sáu, 22 tháng 2, 2013
La Repubblica nói Giáo hoàng quyết định từ chức đúng hôm nhận được báo cáo Vatileak
Việc Đức Giáo hoàng Benedict từ chức có liên quan tới vụ điều tra "các quan chức đồng tính ở Vatican", báo Anh, The Guardian 
Bấm
tường thuật, dẫn nguồn một tờ báo Italy.

Bài của phóng viên John Hooper viết rằng phát ngôn nhân của Đức Giáo hoàng đã không xác nhận, cũng không bác bỏ các cáo buộc do nhật báo La Repubblica đưa ra, theo đó nói có sự liên hệ giữa vụ "Vatileaks" với vụ phát hiện ra "giáo sỹ đồng tính bị dọa dẫm".
Bài tường thuật của La Repubblica, được cho là sẽ có sức công phá lớn, đã kết nối vụ từ chức của Đức Giáo hoàng Benedict XVI với việc có một mạng lưới các giáo sỹ đồng tính ở Vatican, trong đó có một số người mà báo này nói đã bị các đối tượng bên ngoài dọa dẫm.
Tờ báo nói rằng Giáo hoàng đã quyết định hôm 17/12 rằng Ngài sẽ từ chức - đúng vào ngày Ngài nhận được tập hồ sơ do ba hồng y được yêu cầu tập hợp liên quan tới cái được gọi là "Vatileak".

"Sôi sục âm mưu"

Hồi tháng Năm năm ngoái, người phục vụ Đức Giáo hoàng Benedict là Paolo Gabriele đã bị 
Bấm
bắt giữ và bị cáo buộc tội đánh cắp và tiết lộ các thư từ của Đức Chủ chăn, trong đó mô tả Vatican như một nơi sôi sục những âm mưu và đấu đá nội bộ.

La Repubblica nói rằng bộ tài liệu gồm "hai quyển với gần 300 trang - đóng bìa đỏ", đã được chuyển an toàn tới khu nhà của Đức Giáo hoàng và sẽ được trình cho tân giáo hoàng sau khi người kế vị được bầu chọn.
Phát ngôn viên Vatican, Đức cha Federico Lombardi tuyên bố không xác nhận hay bác bỏ các cáo buộc do La Repubblica đưa ra
Tờ báo nói trong bộ tài liệu, các hồng y đã mô tả là có một số phe nhóm, trong đó có một phe gồm các thành viên "đoàn kết với nhau do khuynh hướng tình dục".
Trong đoạn viết có vẻ như được trích nguồn từ bộ tài liệu, La Repubblica tường thuật rằng một số quan chức Vatican đã bị "ảnh hưởng bên ngoài" từ những người không phải là tu sỹ, nhưng có quan hệ "tự nhiên" với họ. Tờ báo nói rằng nội dung này rõ ràng nhằm nói tới việc bị dọa dẫm.
Bài báo cũng trích nguồn "rất thân cận với [các hồng y] chuẩn bị bản phúc trình" nói rằng: "Mọi thứ liên quan tới việc không tuân thủ điều răn thứ sáu và thứ bảy."
Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, còn điều răn thứ sáu cấm tội ngoại tình, nhưng theo học thuyết Catholic thì điều này được diễn tả là có các hành vi tình dục đồng giới.
Được biết Đức cha Federico Lombardi, phát ngôn viên của Vatican, đã nói: "Cả ủy ban hồng y cũng như tôi sẽ không đưa ra nhận xét nhằm xác nhận hay bác bỏ các nội dung được nêu về vấn đề này. Hãy để mỗi người tự nhận trách nhiệm của mình."
Ủy ban điều tra Vatileak gồm ba người, do Hồng y Julián Herranz đứng đầu. Trợ lý cho Ngài là Hồng y Salvatore De Giorgi, cựu tổng giám mục Palermo, và Hồng y người Slovak Jozef Tomko, người từng đứng đầu Bộ truyền giáo của Vatican.
Tường thuật của La Repubblica là bài mới nhất trong loạt các cáo buộc về sự tồn tại của mạng lưới người đồng tính ở trong Vatican.

PGS, TS Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương chưa hề đọc Marx


“Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”
(K.Marx- F.Engels)
Nguyen_Viet_Thong
Trên báo “Nhân Dân online” ngày 20/ 02/2013 có in bài của ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương có tên :

“Tính hợp lý của Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi)”
Cập nhật lúc 01:27, Thứ tư, 20/02/2013 (GMT+7)
Chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) xin phép được trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương trên tinh thần của khoa học lý luận, để đảm bảo tính logic của vấn đề ông đặt ra; tuyệt nhiên không muốn và không dám “tranh luận” với hệ thống còng số tám đang lăm le tinh thần học phiệt trong món khoa học mang tính tùy tiện của một kẻ quy chụp, đầy chất công an trong câu văn đầu tiên của nhà lý luận số một của đảng cộng sản Việt Nam là ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông như sau :
Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn kích động đòi chúng ta bỏ Ðiều 4 trong Hiến pháp, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”
 Khi Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam (hai khái niệm này là một) đang kêu gọi nhân dân góp ý cho việc sửa đổi bản hiếp pháp 1992 với chủ trương không hề có sự cấm đoán hay trù dập đe dọa nào, nghĩa là tự do gấp triệu lần món tự do của tư bản; vậy mà ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại đe dọa, quy chụp những ý kiến trái chiều vào cái rọ của điều 88 (hai còng số tám) là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH thì hóa ra, chính ngài Tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương đang chống lại chủ trương dân chủ hóa xã hội của đảng cộng sản Việt Nam hay sao ?
Xin ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông đọc một đoạn văn ngắn này để xem CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH là những “tên” nào :
“Đại diện những người ký tên ‘Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992’ trao Kiến nghị cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp
Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một phái đoàn gồm 15 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.
Thành phần Đoàn đại diện gồm: Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.
Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin.
Tiếp Đoàn có ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và một số cán bộ trong Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.”
Chẳng lẽ các nhân sĩ trí thức lớn vào hàng bậc nhất Việt Nam được kể tên trên đây (hầu hết họ đều là đảng viên lâu năm của đảng cộng sản Việt Nam hoặc là những cán bộ cao cấp, hoặc từng là Ủy viện trung ương đảng) đều là “bọn” như ông Nguyễn Viết Thông gọi tên là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt hay sao ? Đấy là chưa kể những nhân vật nổi tiếng hàng đầu Việt Nam như nhà toán học bác học Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Hạnh, GS TS, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Ban Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, TP HCM, hoặc các vị tướng tá của Quân Đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Toản, giáo sư bác sĩ, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, Hà Nội… cùng với 4.559 người (tính đến 20-02-2013) ký tên vào bản sửa đổi hiếp pháp yêu cầu bỏ điều 04 bất hợp lý của hiến pháp 1992… Chẳng lẽ mấy nghìn người này đều là “ bọn” người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH như PGS.TS.Nguyễn Viết Thông quy chụp và chỉ điểm hay sao ?
Theo logic còng số tám (điều 88) của ông Tổng thư ký hội đồng lý luận Trung ương kể trên thì việc ông Lê Minh Thông, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc Hội , phó ban biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung hiếp pháp 1992 cũng là người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH vì ông này dám tiếp “bọn” yêu cầu bỏ điều 04 trong hiếp pháp, tức “bọn” CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ở chính văn phòng quốc hội ư ?
Trong bài viết của chúng tôi (TMH) in trên internet : “Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời”, có đoạn như sau :
“Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:
1-     Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mac-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx vì nó cấm đối lập chính trị ?”
Khi có dịp tiếp xúc các ông bí thư thành ủy Sài Gòn trước kia, tôi đều hỏi câu trên, nhưng các ông nói để các ông hỏi lại trung ương, nhưng rồi vẫn chìm vào im lặng. Nay chúng tôi xin hỏi PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương xem cái sự vật có tên là NỀN CHÍNH TRỊ CẤM ĐỐI LẬP CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM có nằm trong nguyên lý căn bản của phép biện chứng Mác-xít : “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” hay không ?
Cái thói cho mọi ý kiến trái chiều, trái với mình (tức là ý kiến đối lập) đều phải bị triệt tiêu, tiêu diệt, rằng đó là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH phải nằm trong tầm ngắm của điều luật 88 (hai còng số 8) mang tội danh “ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” không chỉ của PGS.TS. Nguyễn Viết Thông mà chính là quan điểm chính thống của đảng cộng sản Việt Nam đều là những ngụy tín những quy định, những chụp mũ HOÀN TOÀN CHỐNG LẠI PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XÍT. Marx xuất hiện bao giờ cũng trên tinh thần PHÊ PHÁN của một nhà khoa học. Cấm mọi người phê phán mình, Đảng Cộng sản Việt Nam coi như đã cấm đoán và bỏ tù tinh thần phê phán Mác –xít.
Thật nực cười, một vị tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương như PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại chưa hề đọc và học về phép biện chứng Mác Xít, chưa hề được học môn logic học (luận lý học) nên các quan điểm trong bài bài viết này của ông đều giả dối và duy tâm tuyệt đối. Linh hồn của phép biện chứng Mác-xít (lấy từ biện chứng pháp Hegel) là nhịp hai : ĐỐI LẬP (nhịp một : Xuất đề- nhịp hai : PHẢN ĐỀ (tức đối lập), nhịp ba : tổng hợp đề…từ đây lại sinh ra một xuất đề khác…cứ thế căn đuôi cá nhau đi mãi …
Nhân danh chủ nghĩa Marx để phản Marx –Engels chính là những quan điểm phi khoa học (gọi là quan điểm phản động) trong hầu như toàn bộ bài viết kể trên của PGS.TS. Nguyễn Viết Thông trên tờ “Nhân Dân online” ngày 20-02-2013 vậy.
Vì ông tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương của một đảng cộng sản tự xưng là theo chủ nghĩa Marx nhưng chưa hề đọc Marx, chúng tôi đành phải nói qua với ông Thông (PGS.TS. Nguyễn Viết Thông) về tinh thần tự do trong tranh biện của Marx.
Marx có nhiều sai lầm quan trọng như thái độ tuyệt đối hóa trước các sự vật trong một thế giới tương đối; ví như ông nhận thức giai cấp tư bản là tuyệt đối xấu và giai cấp vô sản tuyệt đối tốt, rằng thuyết THẶNG DƯ của ông là sai về kinh tế học, định nghĩa lịch sử loài người là lịch sử của cái ác (…là lịch sử đấu tranh giai cấp) là sai; ví như học thuyết xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất, tuyệt đối hóa công hữu là tốt và tư hữu là xấu là những cái sai căn bản của Marx; ví như mô hình của thế giới cộng sản đại đồng Marx vẽ ra là hoàn toàn duy tâm, hoang tưởng….
Nhưng tinh thần khoa học trong tư duy lý luận của Marx chống lại độc tài, độc đoán trong tranh biện, chống lại bọn học phiệt, chống lại những kẻ muốn bóp chết nền tự do báo chí của Marx cần phải được học tập. Marx qua các bài báo đấu tranh cho tự do dân chủ, luôn luôn lấy tiêu chí của Voltaire làm trọng : “Tôi có thể không đồng ý với quan niệm của anh nhưng tôi sẽ chiến đấu cho tới chết để anh được quyền nói lên chính kiến của mình”…
Xóa bỏ, bắt bớ những người có ý kiến trái chiều như đảng cộng sản Việt Nam đang làm khác gì các ông đang kết án Marx ?
Marx từng khẳng định không có tự do báo chí tư sản thì không có chủ nghĩa Marx. Vậy mà nhà nước của đảng cộng sản Việt Nam tự xưng là đầy tớ của nhân dân lại sở hữu 700 tời báo, trong khi nhân dân là ông chủ thì tuyệt nhiên bị cấm ra báo, cấm lập hội lập đảng; thế mà ông Thông và các ông dám bảo dân ta tự do lắm, hạnh phúc lắm, được sống trong một xã hội “DÂN CHỦ CÔNG BẰNG VĂN MINH” lắm lắm thì sự nói ngược của các ông cần phải được ghi vào kỷ lục guiness thế giới…
Thưa ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, khi ông đẩy những người có ý kiến đối lập vào với cái gọi là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH tức “bọn” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA… như bài viết trên của mình, thì ông và các ông cầm quyền hiện nay đang chống Marx và đang truy nã tinh thần tự do dân chủ mà Marx quảng bá trên 200 năm trước đấy. Hẹn có dịp, chúng tôi sẽ lại được trao đổi với NHÀ KHOA HỌC phi logic và phi Mác-xít Nguyễn Viết Thông.
Sài Gòn ngày 20-02-2013
© Trần Mạnh Hảo

Sach 'Bên Thắng Cuộc' là sách gây biến đổi


Cập nhật: 11:28 GMT - thứ sáu, 22 tháng 2, 2013
Nhiều sự kiện tại Nam Việt Nam sau 1975 vẫn còn cần thêm ánh sáng lịch sử
Huy Đức đã mô tả cuốn sách của mình như một "lịch sử thực sự của Việt Nam", tác phẩm đã giành được nhiều khen ngợi từ các nhà sử học cho rằng đây là một "cuốn sách trung thực" đem lại những hiểu biết mới mẻ mà không một học giả nào quan tâm tới Việt Nam trong thời kỳ thống nhất có thể bỏ qua.
Trước khi đánh giá cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi xin lưu ý rằng tôi thuộc bên "thua cuộc," gia đình tôi vượt biên bằng thuyền vào cuối năm 1981, và tôi vẫn còn có người thân ở Việt Nam bị đối xử như là những công dân "hạng hai" vì họ là bên đứng sai trong cuộc chiến.
Trên thực tế, tôi đã cố tình lựa chọn để nghiên cứu và giảng dạy các quan điểm phi cộng sản Việt Nam trước, trong và sau cuộc chiến Việt Nam.
Lý do tôi làm như vậy vì kinh nghiệm của miền Nam Việt Nam đã và đang tiếp tụ bị “xuyên tạc” dưới thể chế Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tại Mỹ, lịch sử của Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã chịu thiệt thòi vì sự nhấn mạnh quá áp đảo về chủ đề "bài học" từ "kinh nghiệm của Mỹ trong chiến tranh”.
Hơn nữa, nhiều học giả người Mỹ gốc Việt của thế hệ chúng tôi đang chuyển đổi mục tiêu chính của các nghiên cứu Hoa Kỳ về Việt Nam vượt qua tiếp cận "nỗi ám ảnh chống cộng" của thế hệ cũ đối với cuộc chiến này.
"
Câu hỏi khi đó sẽ là liệu cái mới của các ông Bùi Tín và Huy Đức có đi xa hơn việc chỉ được coi là đóng góp của "người bên trong hệ thống" hầu dĩ củng cố những gì mà "những người bên ngoài" đã biết về phe thắng cuộc"
TS Lê Sỹ Long
Đối với tôi, sự thất vọng là có nhiều tác phẩm sâu sắc của cả giới "tinh túy" và “bình dân” của người Việt Nam được liên kết với Việt Nam Cộng hòa sẽ không bao giờ được sử dụng trong các trường trung học và đại học ở Hoa Kỳ.
Liên quan đến nỗi thất vọng này là khi các tác phẩm liên kết với bên thắng cuộc được công bố, cho dù như của Bùi Tín và Huy Đức, đã không có sự đánh giá lại các công trình giá trị được viết bởi những người không phải là Cộng sản Việt Nam từng sống và trải nghiệm trong giai đoạn trước và sau 1975.
Chẳng hạn, Bùi Tín lập luận rằng sự thịnh vượng và ổn định thực sự cho Việt Nam chỉ có thể đến từ một nền dân chủ và Huy Đức kêu gọi các lãnh đạo hiện nay học hỏi (hoặc thừa nhận) các "sai lầm" của Đảng trong giai đoạn giải phóng, là những gì đang tạo nên cốt lõi của hệ tư tưởng và khát vọng của bên những người Việt Nam phi cộng sản.
Câu hỏi khi đó sẽ là liệu cái mới của các ông Bùi Tín và Huy Đức có đi xa hơn việc chỉ được coi là đóng góp của "người bên trong hệ thống" nhằm bổ sung cho những gì mà "những người bên ngoài" đã biết về phe thắng cuộc.
Và cũng không rõ liệu ông Bùi Tín và ông Huy Đức có thể có một tác động trong cuộc tranh luận về cách lãnh đạo có trách nhiệm - tức là giới chức không việc gì phải sợ việc nhìn nhận, ghi nhận và trình bày các sự kiện vì lợi ích chung- khi sách của họ phải xuất bản ở Paris và Boston.

‘Công dân làm báo'

Các nhân vật nước ngoài có liên quan tới cuộc chiến Việt Nam đã tái hiện trong sách
Một câu hỏi đặt ra nữa là liệu cuốn “Bên Thắng Cuộc” có phải là về những công dân đang làm chuyển đổi diễn trình chính trị - xã hội của Việt Nam?
Trong nỗ lực để đánh giá khách quan cuốn sách của Huy Đức, tôi quyết định xem xét câu chuyện kể của tác giả thông qua lăng kính của một nhà báo công dân, trong đó Huy Đức nhấn mạnh rằng ông đang đưa ra sự thật, từ đó, xem xét xem công dân làm báo có thể tác động ra sao đến các lĩnh vực lịch sử và chính trị. Điều này có nghĩa là với sự xuất hiện của một xã hội dân sự chính trị và công nghệ trực tuyến toàn cầu, công dân làm báo ở Việt Nam đã truyền cảm hứng cho mọi người thảo luận và hành động trong kết nối với các hoạt động chính trị - xã hội.
Trong những năm gần đây, các chủ đề đã được nhiều công dân bàn luận trên mạng bao gồm chủ quyền quốc gia, quyền lao động, các quyền về đất đai, dân chủ, và cải thiện quản lý để làm giảm tham nhũng và quyền lực độc đoán, mặc dù lãnh đạo Đảng vẫn muốn kiểm soát và quyết định dòng chảy của dân làm báo.
Với bối cảnh trên, có lẽ những điểm mạnh và điểm yếu trong cuốn sách của Huy Đức có thể được phân tích một cách khách quan hơn. Đối với tôi, đổi mới và sự tươi mới của cuốn sách của Huy Đức đến từ khả năng vận dụng báo chí của ông để tường thuật một sự kiện chính trị mà đi kèm là các yếu tố về "tính khả tín" và "độ tin cậy", dựa vào các sự kiện lịch sử có sẵn, các phóng sự, hồi ức và các cuộc phỏng vấn.
Tránh sử dụng một số nguyên tắc báo chí cầu toàn, Huy Đức tiết lộ lý do tại sao ông viết cuốn sách và dường như ông có được sự độc lập trong suy nghĩ và cởi mở trước các chỉ trích.
Quan trọng hơn, tác phẩm của Huy Đức công khai đưa ra những quan điểm, kinh nghiệm, và sự thật vốn thiếu vắng trong những công bố công khai của chính quyền Việt Nam, như chỉ ra việc các tướng Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết vì tinh thần dân tộc mà họ đặt niềm tin; nói về những kinh nghiệm của những "kẻ thua cuộc," những người phải trải qua các trại cải tạo, các chiến dịch đánh tư sản, và xóa bỏ văn hóa cũ của Sài Gòn, miêu tả cuộc đời bi thảm của nhiều thuyền nhân vượt biên, cùng với những người phụ nữ bị cướp biển hãm hiếp.
"
Huy Đức có vẻ chọn lọc và sáng tạo trong việc sử dụng quá khứ để minh họa cho các mối quan tâm đương đại"
TS Lê Sỹ Long
Tuy nhiên, tôi không nhìn công trình của Huy Đức như một công trình sử học, bởi vì ngay từ đầu, nó đã không đề cập những mối quan tâm về quá khứ - xét lại, sửa chữa, hoặc tái tạo lại quá khứ như nó vốn có. Thay vào đó, Huy Đức có vẻ chọn lọc và sáng tạo trong việc sử dụng quá khứ để minh họa cho các mối quan tâm đương đại.
Điều này bao gồm việc giải quyết các những tấn bị kịch hậu 1975 theo một cách thức hầu dĩ tránh được những sai lầm trong tương lai, để có thể hòa giải với phía "thua cuộc" bằng cách tìm kiếm sự thật, và để thống nhất những người Việt Nam bằng cách "ghi nhớ" Hoàng Sa và Trường Sa cùng cuộc giải phóng chế độ Pol Pot. Tuy nhiên, vì tác phẩm của Huy Đức không phải để viết sử theo nghĩa truyền thống, nó đích thị là lý do tại sao tôi nghĩ rằng cuốn sách là một sự kiện gây "xúc động" mạnh.
Bằng việc xuất bản cuốn sách trực tuyến mà không có bất kỳ một nhà xuất bản lớn nào đứng đằng sau nó, người Việt Nam có thể quyết định xem liệu tác phẩm của Huy Đức có phù hợp với quan điểm chính trị - xã hội cần có của đất nước họ hay là không.

'Ai "giải phóng" ai?'

Nếu điểm mạnh của cuốn sách của Huy Đức về đất nước Việt Nam thời kỳ thống nhất chỉ mang tính “thúc đẩy, sắp xếp lại một số điều chứ không phải là vượt hẳn qua giới tuyến,” tôi tin rằng đây cũng là điểm yếu của cuốn sách.
Ví dụ, một luận điểm ngầm của tác phẩm của Huy Đức có vẻ là về "thuyết vĩ nhân", với các quan chức như Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, và ông Lê Đăng Doanh đã sử dụng ảnh hưởng chính trị của họ để đưa ra một con đường cải cách hầu sửa “sai” thành “đúng” trong tư duy.
Ở đây, vấn đề là tài liệu cho thấy các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt đã được giao nhiệm vụ và đã theo đuổi chính sách loại bỏ chủ nghĩa tư bản ở miền Nam cùng văn hóa 'tân thuộc địa của Mỹ'.
Có một mức độ đạo đức giả nhất định khi những người hăng hái nhất chứng minh lỗi lầm trong quá khứ của họ, cũng như ông Linh và ông Kiệt, và sau đó chính họ lại đòi lại sự lãnh đạo như những người cổ súy, chủ trương các cải cách "đổi mới" như một chân lý mới. Tuy nhiên, nói chung, cả hai ông Linh và Kiệt đều chỉ dám nói lên sự thật khi họ đang tìm kiếm quyền lực hoặc đã không còn nắm giữ quyền lực nữa.
Dựa trên các tác phẩm sử dụng các nguồn và lý giải trước đây đăng tải trên các báo Sài Gòn Giải Phóng, Nhân Dân và Tuổi Trẻ, điều có vẻ giống sự thật hơn được thấy là các hoạt động của những công dân không tuân thủ ở nhiều địa phương là những lý do cho một sự thay đổi trong định hướng quốc gia một cách có hệ thống.
Ông Võ Văn Kiệt và nhạc sỹ Phạm Duy
Cuốn sách đã đề cập đến nhiề̉u nhân vật lịch sử Việt Nam từ thời kỳ chiến tranh và hậu chiến
Các tác phẩm loại này bao gồm “Việt Nam dưới chế độ cộng sản, 1975-1982 của Nguyễn Văn Canh (1983) và “Những mảnh vỡ của Hiện tại: Nghiên cứu đương đại về Việt Nam Cộng hòa” của Philip Taylor (2001).
Như thế, tôi tin rằng các công dân Việt Nam, những người đã dám bất tuân các chính sách mà họ cho là "sai lầm" từ 1975-1986 chính là những người đã thực sự cứu quốc gia không sa chân sâu hơn nữa vào thảm họa.
Tôi không quan tâm quá nhiều về việc liệu Đảng lãnh đạo có thể thừa nhận "những lỗi lầm lịch sử,"hơn là việc đảng sẽ thừa nhận những "sai lầm"để mà không để có bất cứ điều gì xảy ra với chính họ.

'Một sự biến đổi?'

Một thiếu sót khác là khi Huy Đức kể về việc giải phóng của chế độ Pol Pot, mà không giải thích quan điểm của những người tị nạn Campuchia.
Tuy nhiên, từ những gì tôi đã đọc được, người tị nạn Campuchia có vẻ nhìn nhận nghiêng hơn về quan điểm cho rằng sự can thiệp quân sự của Việt Nam tại Campuchia là một cuộc "tấn chiếm," là "cơ hội", hơn là một hành động "cứu sống nhưng hà khắc".
Đối với các học giả Mỹ gốc Campuchia, một số người đã thừa nhận rằng việc tiếp quản quân sự của Việt Nam tại Campuchia có thể được xem như là "giải phóng", chứ không phải là một "cuộc xâm lược". Tuy nhiên, đối với các học giả đó, việc "giải phóng" khỏi Khmer Đỏ đi kèm với "những di sản lịch sử" mà người Campuchia phải tiếp tục trả giá và chung sống.
Mặc dù vậy, tôi nghĩ rằng cho dù cuốn sách của Huy Đức là 'bình cũ rượu mới,' thì nó vẫn mở ra một câu hỏi.
Đó là, chính quyền sẽ có cho phép Huy Đức đi tiếp những khát vọng của ông tại Việt Nam sau khi kết thúc học bổng tại Đại học Harvard?
Đồng nghiệp của ông tại Việt Nam liệu sẽ có thể hỗ trợ để cuốn sách của ông có thể có mặt trên các giá sách ở các cửa hàng sách hay không?
Liệu các giáo viên lịch sử hay các giáo sư tiến bộ tại Việt Nam sẽ có thể sử dụng cuốn sách của Huy Đức trong lớp học của họ hay không?
Và rằng liệu công dân Việt Nam ở Việt Nam có thể bắt đầu viết blog về kinh nghiệm cá nhân hoặc kinh nghiệm của gia đình họ trong thời kỳ đất nước thống nhất hay không?
Đối với tôi, nếu một số câu trả lời là có, thì cách tiếp cận của Huy Đức kể lại về Bên Thắng Cuộc có thể được xem như là sự biến đổi.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang làm việc ở C.T. Bauer College of Business, Đại học Houston, Hoa Kỳ.

Việt nam trước cơ hội dân chủ đa đảng !?


Cập nhật: 17:42 GMT - thứ sáu, 22 tháng 2, 2013
Một nền dân chủ lành mạnh đòi hỏi sự tham dự của cử tri
Quyết định của Quốc hội trong việc chính thức công bố Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân đang làm dấy lên những hy vọng về một thay đổi vốn có thể là một chuyển biến lớn thứ nhì sau cuộc cải tổ kinh tế "Đổi Mới" từ cuối thập niên 1980.
Nhiều người đang đặt ra câu hỏi, nếu việc mở cửa kinh tế từ hơn hai thập niên trước đã đưa Việt Nam trở thành một loại rồng nhỏ ở Châu Á, nhưng chính vì cơ chế chính trị không thích hợp đã khiến con rồng không thể cất cánh thì liệu cuộc thay đổi về chính trị lần này có thực sự tháo gỡ được những bế tắc về cơ chế của nhà nước Cộng sản Việt Nam hay không?
Ngay sau khi quyết định thu thập ý kiến công chúng, nhiều tầng lớp trí thức, chuyên gia và kể cả các cựu quan chức cao cấp trong đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam đã mạnh dạn đưa ra những đề nghị tích cực và táo bạo.
Nổi bật nhất là những đề nghị loại bỏ Điều 4 (Hiến pháp 1992) vốn nêu bật tính độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam và những đề nghị bổ sung nhằm duy trì, bảo vệ hiệu quả quyền con người tại Việt Nam.

Mở cửa một quá trình

Nếu được chấp thuận, tất cả những đề nghị này rõ ràng khai mở một quá trình dẫn đến tự do, dân chủ đồng thời có thể chuyển đổi một nhà nước độc đảng trở thành đa đảng tại Việt Nam.
Trước khi thảo luận về những hệ quả và tính khả thi của chương trình lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân để sửa đổi Hiến pháp này, thiết tưởng cần nhìn lại Điều 4, Hiến pháp hiện tại của Việt Nam:
Điều 4, Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam xác định:
"Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lương lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật."
Điều Hiến luật này khẳng định đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo người dân. Do đó, đảng Cộng sản là một bộ phận không thể tách rời của Nhà nước.
Đáng lưu ý là tuy người dân có quyền lập hội (Chương 5 điều 69) nhưng trong cả Chương I (Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Chế độ Chính trị) không hề đề cập đến sự tồn tại của các tổ chức chính trị khác.
Trong thực tế, Việt Nam thường được xem như một quốc gia độc đảng nhưng trong quá khứ vẫn đã có những đảng chính trị khác, như Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam.
Người dân Việt Nam đang tự tập hợp thành các phong trào dân sinh và dân sự
Mặc dù các đảng này chủ yếu phụ thuộc vào đảng Cộng sản và đã bị giải tán (sau đó một Đảng Dân chủ mới của Việt Nam đã được thành lập như một tổ chức bất đồng chính kiến) nhưng đấy vẫn là một bằng chứng cho thấy Việt Nam đã có nhiều tổ chức chính trị cùng hiện diện song song với đảng Cộng sản.
Lâu nay, việc khẳng định quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản, không nhắc đến các tổ chức chính trị khác nhưng vẫn nhìn nhận quyền lập hội và tham chính của công dân đã dẫn tới những hệ luỵ trong đời sống chính trị và xâm phạm các quyền của người dân.
Thành thử, không ngạc nhiên gì khi một làn sóng kiến nghị thay đổi đã tập trung vào việc loại bỏ Điều 4 Hiến pháp và đòi hỏi sự tôn trọng hơn nữa các quyền con người ngay khi chính phủ tiến hành thu thập ý kiến người dân để sửa đổi Hiến pháp.
Và rõ ràng, sắp tới, nếu Việt Nam tiến tới một hệ thống chính trị đa đảng, sẽ có rất nhiều thành phần chính trị quan trọng khác tham dự, không chỉ đơn thuần là những tổ chức ở trong nước (các tập hợp những nhà bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền, các cựu quan chức Đảng Cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, văn hóa, xã hội, nghiệp đoàn, vv ...) mà còn cả những tổ chức từ bên ngoài vốn lâu nay đã và đang trực tiếp can dự vào sinh mệnh chính trị Việt Nam.
Trước hết, cần hiểu rằng đảng Cộng sản hiện nay là một khối đoàn kết. Sẽ là sai lầm để tin rằng lợi ích của các tầng lớp lãnh đạo đảng phù hợp với những tầng lớp dưới cơ sở, vốn các tiêu chuẩn sống có thể không cao như các nhà lãnh đạo của mình.
Và như ai cũng biết, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa chứ không còn là một con tàu chuyên chở ý thức hệ Cộng sản. Đảng đã phần lớn trở thành một phương tiện để giới lãnh đạo đảng duy trì vị thế của họ.
Nói trắng ra rằng ở một chừng mực nào đó, các chia rẽ giữa tầng lớp lãnh đạo và cơ sở cùng các nguyện vọng của họ sẽ trở nên quá rộng, khó hàn gắn, đảng Cộng sản sẽ phải bắt đầu rạn vỡ. Do đó, sự thay đổi là điều không thể tránh khỏi. Hơn ai hết, đảng ý thức sâu sắc được hiểm họa đổ vỡ này.
Từ một nền kinh tế hoạch định tập trung nhường bước cho một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các chính sách kinh tế tự do của Việt Nam trong những năm 1980 đã mang lại một số tăng trưởng kinh tế rất cần thiết cho một quốc gia đói khổ và bị cô lập khi đó.
Chính phủ Việt Nam buông các nguyên lý lỗi thời vì nhu cầu kinh tế
Nếu Hiến pháp năm 1992 (đã được đưa ra sau các cải cách kinh tế), từng được thực hiện như một bản kinh Phúc âm thì rõ ràng là chủ nghĩa Mác-Lênin đã đi đến cuối đường, và từ lâu chính phủ đã buông bỏ các nguyên lý lỗi thời ấy vì niềm cám dỗ của chủ nghĩa tư bản.
Cuộc chuyển đổi kinh tế này đã phải thực hiện khi tình thế rõ ràng cho thấy rằng Việt Nam, nếu không thay đổi, sẽ phải sụp đổ. Do đó, thay đổi là sự cần thiết cho sự sống còn không chỉ của đất nước mà còn cho sự tồn tại của bản thân đảng Cộng sản.
Ngày nay, chính cuộc tăng trưởng kinh tế ì ạch của Việt Nam sau gần hai thập niên bùng nổ, đời sống dân chúng đi vào bế tắc cùng các vụ bê bối, tham nhũng, chia rẽ đấu đá của chính phủ ở tầng lớp cao nhất, đã khiến không chỉ chính phủ mà cả người dân cũng ý thức được nhu cầu phải thay đổi.

Hứa hẹn mỏng manh của Tự do và Dân chủ

Thế nhưng, một chuyển đổi từ độc đảng đến đa đảng có nhất thiết dẫn đến tự do và dân chủ không?
Dưới một hệ thống đa đảng, sự thử thách sẽ là liệu các quyền của phe thiểu số sẽ không bị phe đa số cai trị lạm dụng hoăc bỏ qua. Trong một hệ thống mà 51% người dân có thể chi phối tương lai của 49% người dân còn lại, điều quan trọng là phải nhớ rằng dân chủ, nếu thực sự là quyền làm chủ của người dân, bản thân nền dân chủ ấy phải được kiểm tra, để không rơi vào ách chuyên chế của phe đa số.
Bản thân nền dân chủ không là sự hứa hẹn của sự tự do hơn. Dù đa đảng sẽ cho phép những đại diện lớn hơn trong chính trị nhưng nếu đảng cầm quyền hoặc một liên minh của các phe đa số, khi nắm được phần lớn hỗ trợ của dân chúng lại quyết định theo đuổi một tiến trình trái ngược với phúc lợi của các nhóm thiểu số, thì tự do còn có ý nghĩa gì?
Thử nghĩ, nếu phe đa số cầm quyền quyết định giới hạn, ngăn cấm các hoạt động, tập tục hành xử văn hóa của một phe thiểu số, khi các hoạt động hành xử ấy không vi phạm pháp luật hiện hành của quốc gia và hạnh phúc của những người khác, thì một quyết định như thế của phe đa số lớn hơn dù được coi là dân chủ (nếu như được bàn thảo hợp pháp thông qua chính quyền và cơ quan lập pháp), nhưng thực sự không có giúp gì trong việc bảo vệ các quyền và sự tự do của các phe thiểu số.
Và ngay cả nếu có các biện pháp bảo vệ hữu hiệu được đặt để nhằm đảm bảo nguyên tắc đa số cai trị và các quyền của phe thiểu số, chắc chắn khung cảnh chính trị mới ở Việt Nam vẫn sẽ phải đối mặt với một vấn đề khác: sự tham gia của cử tri.
Một nền dân chủ lành mạnh đòi hỏi sự tham dự của cử tri, đòi hỏi cử tri phải tham gia công khai trực tiếp và bỏ lá phiếu của mình. Nếu chỉ có một thiểu số cử tri đi bầu cho chính phủ mới của mình, nghĩa là phe cầm quyền chỉ nhận được ít hơn 50% của tất cả các phiếu đủ điều kiện, thì thực tế này có trở thành sự cai trị của thiểu số?
Đã có vô số những bài cãi đầy tính học thuật để so sánh về giá trị và hiệu quả của dân chủ và độc tài phi dân chủ hoặc những thể chế dân chủ giới hạn. Tuy nhiên, các bài học từ thế giới tiến bộ chung quanh đã cho thấy một hình thức dân chủ của chính phủ vẫn là hình thức tổ chức có hiệu quả hơn và duy nhất có thể được mô tả như là một chính phủ của người dân.
Một hệ thống chính trị đa đảng, cần thiết trong một nền dân chủ, cho phép những đại diện chính trị lớn hơn cùng sự đa dạng của niềm tin và tư tưởng triết học.
Dân chủ không phải là điều dễ dàng. Dân chủ đòi hỏi những nỗ lực và hy sinh. Với hơn 80 năm dưới nền cai trị độc đảng (trừ hơn 20 năm tương đối dân chủ hơn ở miền Nam), hơn ai hết, người dân Việt Nam chắc chắn ý thức được các cơ hội và phần thưởng của dân chủ.

Các chuyển động Dân chủ

"
Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa chứ không còn là một con tàu chuyên chở ý thức hệ Cộng sản"
Một hệ thống đa đảng không phải là viên thần dược để con rồng Việt Nam ốm yếu có thể chỗi dậy ngay, tuy nhiên, đấy là một bước đi cần thiết và đúng đắn.
Nhà cầm quyền có thể chủ quan hoài nghi về hiệu quả của dân chủ và đa đảng nhưng dân chúng Việt Nam thì không.
Những chuyển động trong các tầng lớp nhân sĩ, trí thức Việt Nam trong ngoài nước sau khi việc thăm dò ý kiến nhân dân để sửa đổi Hiến pháp được khởi động cho thấy người dân Việt Nam đã, đang sẵn sàng gánh vác trách nhiệm của mình, và nhanh chóng xem đây là một cơ hội để nắm bắt.
Cho đến nay, dù vẫn còn không ít những nghi ngại về thiện chí của chính quyền. Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều người, nhiều giới tham gia đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp dưới hình thức này hay hình thức khác.
Ở Hà Nội, 72 nhân sĩ trí thức trong, ngoài nước và các quan chức trong đảng Cộng sản, chính phủ Việt Nam đã công bố "Kiến nghị về Sửa đổi Hiến Pháp 1992" gồm 7 điểm chính, trong đó nhấn mạnh tới việc bỏ Điều 4 Hiến pháp, vốn đề cao một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Bản kiến nghị này đã thu thập được hơn 4500 chữ ký và con số sẽ còn gia tăng trong những ngày tới...
Thậm chí đã có những chuẩn bị cho một tình thế đa đảng ở Việt Nam như theo một nguồn tin chưa qua kiểm chứng tin rằng trong nước sẽ có cuộc ra mắt của một "Liên Minh Chính Trị Việt Nam đối lập với đảng Cộng sản" chậm nhất trong mùa hè năm nay và, đảng Dân Chủ Việt Nam sẵn sàng giới thiệu chương trình của mình với quốc dân đồng bào ở Việt Nam nếu thời cơ cho phép.
Nhưng hiện vẫn còn mối nghi hoặc rất lớn về thiện chí của chính quyền, liệu họ có thực tâm bước vào cuộc thanh tẩy về chính trị bằng cách chủ động xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng hay chỉ dàn dựng một vở tuồng nhằm khai sinh một loại dân chủ trá hình?
Tuy nhiên, thực tế cho thấy ván cờ đã động và những cơ hội đã ló dạng, phong trào đóng góp ý kiến cho Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 đang dần vuột khỏi tầm kiểm soát của chính phủ và trở thành một phong trào đòi hỏi Tự do, Dân chủ.
Liệu những nhà hoạt động Dân chủ Việt Nam có đủ sẵn sàng, tận dụng được cơ hội này để mở ra một vận hội mới cho đất nước?
Câu trả lời dường như vẫn còn ở phía trước và cũng đang ở trong tay tất cả mọi người.
Bài viết thể hiện quan điểm của các ông Lê Quốc Tuấn và Vũ Đức Khanh từ Canada.