Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

SỰ THA HÓA

Tha hóa là chuyển hóa thành cái đối lập thù địch với mình ở bên ngoài mình để chống lại chính mình.
Sự tha hóa đạt đến đỉnh điểm sẽ trở thành sự vong thân.
Vong thân là bị mất mình, tức là sự tha hóa đã đạt đến mức độ hoàn chỉnh hoặc sự tha hóa đã được hoàn tất. Cũng có thể nói theo một cách khác: sự vong thân làm điểm tận cùng cho sự tha hóaVề tinh thần, sự vong thân biểu hiện rõ rệt nhất qua ý thức mê hoặc làm cho người ta không biết mình đang sống như thế nào ở đâu. Về thể xác, sự vong thân biểu hiện trần trụi nhất qua sự xung đột khốc liệt giữa người với người.
Sự tha hóa có nguyên nhân sâu xa nhất từ các hệ tư tưởng vong thân về nhân loại (các hệ tư tưởng này đặt để nhân loại vào vị thế lệ thuộc với thế giới xung quanh làm cho người ta bị mất mình hoặc làm cho người ta có số phận được quyết định bởi cái tất yếu ngoại tại để rồi bị lâm vào tình trạng nô lệ, tức là tư tưởng vong thân = tư tưởng nô lệ), các hệ tư tưởng này làm nền tảng tinh thần cho chính thể chuyên chế, tức là thể chế chính trị tập trung cả ba thứ quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, vào một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ, chính thể này trực tiếp làm cho người ta bị tha hóa về mọi mặt. Về văn hóa, nếu tạo tác được bất cứ cái gì thuộc về ChânThiệnMỹ thì thế nào cũng bị hãm hại bởi nhà cầm quyền chuyên chế hoặc ít nhất cũng bị hãm hại bởi cả sự đố kỵ lẫn sự ngộ nhậnnhững người xung quanh; ngược lại, nếu tạo tác được bất cứ cái gì chống lại Chân – Thiện – Mỹ thì dù có được tâng bốc lên tận mây xanh cũng phải bị coi như đã tự sát toàn diện rồi mà không cần phải bị hãm hại bởi bất cứ ai cả. Về chính trị, nếu thống trị thì sẽ có kẻ thù nhiều như tóc mọc trên đầu, leo càng cao sẽ gặp càng nhiều gió bão, quyền lực càng lớn sẽ gặp càng nhiều nguy hiểm, đến một mức độ nào đó sẽ khó mà giữ được tính mạng còn nói gì đến quyền lực, của cải, danh dự, v. v.; ngược lại, nếu bị thống trị thì phải coi như đã bị mất hết rồi, chẳng còn gì để nói nữa, càng tin tưởng vào nhà cầm quyền chuyên chế tuyên truyền sẽ càng ngây thơ lố bịch. Về kinh tế, nếu nghèo khó thì sẽ tiến triển càng nhanh đến cái chết mà hầu như chẳng mấy ai có ý niệm gì về nhân tính hay vật tính; ngược lại, nếu giàu có hoặc có nhiều của cải thì chỉ được sống đời sống vật tính mà thôi, chẳng hơn gì các loài vật khác, giàu có nhờ cướp bóc sẽ nguy hiểm, giàu có nhờ may mắn sẽ bấp bênh, giàu có nhờ lao động sẽ ngắn ngủi; vì đã bị tước đoạt hết về cả văn hóa lẫn chính trị rồi nên dù giàu có hay nghèo khó cũng chỉ được sống đời sống vật tính mà tuyệt đối không hề được sống đời sống nhân tính: nếu bóc lột thì sẽ có nhiều kẻ thù nguy hiểm rồi đến một lúc nào đó sẽ bị mất hết, nếu bị bóc lột thì càng làm việc nhiều sẽ càng nghèo khó hoặc càng làm việc nhiều sẽ càng bị bóc lột nhiều hơn nữa. Vân vân, tất cả đều chỉ biểu hiện sự tha hóa. Chính thể chuyên chế làm cho mọi cá nhân tham dự, dù tham dự tự phát hay tham dự tự giác, đều bị tha hoá nhưng mỗi cá nhân đó sẽ bị tha hoá theo một cách thức riêng biệt tuỳ theo khuynh hướng tâm lý. Sự tha hóa đạt đến đỉnh điểm sẽ làm cho người ta bị vong thân, tức là bị mất mình, thể hiện thành chiến tranh giữa người với người.
Muốn khắc phục được sự tha hóa, cần phải đấu tranh tư tưởng kết hợp song song với đấu tranh chính trị bằng giải pháp hòa bình nhằm xây dựng bằng được chính thể dân chủ (thể chế chính trị phân chia cả ba thứ quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, cho mọi cá nhân) đồng thời bảo vệ bằng được chính thể đó, tức là cần phải phê phán các hệ tư tưởng vong thân về nhân loại hoặc thay thế các hệ tư tưởng vong thân về nhân loại bằng các hệ tư tưởng tự tồn về nhân loại với đầy đủ các giá trị thuộc về Chân – Thiện – Mỹ (các hệ tư tưởng này đặt để nhân loại vào vị thế tự chủ với thế giới xung quanh làm cho người ta làm chủ được mình hoặc làm cho người ta có số phận được quyết định bởi cái tất yếu nội tại để rồi được ở vào tình trạng tự do, cũng tức là làm cho người ta được tự do hoặc làm cho người ta có số phận được quyết định bởi chính mình, tư tưởng tự tồn = tư tưởng tự do), rồi thay thế chính thể chuyên chế bằng chính thể dân chủ thông qua đấu tranh ôn hòa dựa vào Đối thoạiTương kínhKhoan dung nhằm bảo đảm Tự do – Bình đẳng – Bác ái cho nhân loại hoặc bảo đảm cho người ta làm chủ bản thân, mới có thể khắc phục được sự tha hóa.
Ai có thể đi tiên phong trong việc đó? Đó là các anh hùng! Thế nào là anh hùng? Anh hùng là người có những phẩm chất đặc biệt: có trí tuệ lành mạnh, có lương tâm trong sáng, ước muốn hạnh phúc cho mọi người, sống kiên định với lý tưởng tự do, sẵn sàng dấn thân vào công cuộc đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa, v. v., chính những phẩm chất đó làm cho anh hùng không bị tha hóa ngay cả khi phải sống trong chính thể chuyên chế!
Trước tôi đã từng có nhiều tác giả lừng danh viết về sự tha hóa mà nổi bật nhất có lẽ phải thuộc về các triết gia Đức, như George Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), Ludwig Andreas von Feuerbach (1804 – 1872) và Karl Heinrich Marx (1818 – 1883). Thế nhưng họ đã không định nghĩa chính xác về sự tha hóa mà lại còn giải thích sai lạc về nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa.
George Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831)
G. W. F. Hegel lấy sự tự mâu thuẫn trong ý niệm tuyệt đối làm nguyên nhân cho sự tha hóahình như không có ý hướng gì muốn tìm cách để khắc phục sự tha hóa.
Ludwig Andreas Feuerbach (1804 - 1872)
L. A. Feuerbach lấy tôn giáo làm nguyên nhân cho sự tha hóa rồi chủ trương cải cách tôn giáo: thay thế tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới, nhằm khắc phục sự tha hóa; tác giả này không thấy được rằng Chúa giáo đã bị lạm dụng vào việc bảo tồn nền chuyên chế thần quyềnTây phương vào thời đại trung cổ từ Julius Cesar đến các cuộc Cách mạng Dân chủAnh (1688), Mỹ (1776), Pháp (1789), v. v., nhưng vì Chúa giáo không có tính chất vong thânchỉ có tính chất tự tồn hoặc không thuộc về hệ tư tưởng vong thân về nhân loạichỉ thuộc về hệ tư tưởng tự tồn về nhân loại nên việc lạm dụng Chúa giáo đã bị chấm dứt nhanh chóng bởi chính các cuộc Cách mạng Dân chủ vừa được kể đến.
Karl H. Marx (1818 - 1883)
K. H. Marx lấy tư hữu làm nguyên nhân cho sự tha hóa rồi chủ trương tiêu diệt tư hữu bằng bạo lực cách mạng nhằm khắc phục sự tha hóa, nhân vật này đã viết cả một cáo trạng hàm hồ nhất về tư hữu nhằm tiêu diệt tư hữu với một niềm tin chắc chắn rằng làm việc đó bằng bạo lực cách mạng sẽ khắc phục được sự tha hóa!? Thế nhưng thực tế hiển nhiên đã cho thấy K. H. Marx không những không khắc phục được sự tha hóa mà còn làm trầm trọng thêm sự tha hóa hoặc chỉ làm cho sự tha hóa lan tỏa sâu rộng hơn. Phật giáo khuyên răn rằng: lấy oán báo oán, oán oán trập trùng, tức là lấy cái ác để chống lại cái ác sẽ không thể tiêu diệt được cái ác mà chỉ làm cho cái ác sinh sôi nảy nở nhiều hơn. Quả thật, dùng bạo lực dù bạo lực được biện minh như thế nào thành bất cứ bạo lực gì để chống lại bạo lực sẽ không thể ngăn chặn được bạo lực mà chỉ làm cho bạo lực lan tràn thêm thôi.
Tôi không muốn làm rối rắm thêm sự tha hóa bằng những lập luận tư biện mà chỉ viết ngắn gọn nhất về sự tha hóa bằng những lập luận chính xác như khoa học tự nhiên làm cho quý độc giả dễ hiểudễ dùngdễ giữ để có thể khắc phục sự tha hóa.

J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Bảy 1999)

MỘT SỐ SỰ KIỆN TRIẾT HỌC

1/ Nhân loại.
Nhân loại là một thực tại siêu việt biểu hiện thành một sinh vật đặc biệt bao gồm tất cả các cá nhân vừa khác nhau vừa giống nhau: khác nhau về cả thể chất lẫn trí tuệ nhưng giống nhau về bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết; bản năng này bắt buộc mỗi cá nhân nhất định phải tiêu dùng nhiều thứ khác nhau để kéo dài sự sống cho mình, nhưng mỗi cá nhân nhất định lại chỉ tạo ra được một hoặc một số ít thứ nhất định để thoả mãn mình mà thôi, tức là mỗi cá nhân nhất định luôn luôn có một mâu thuẫn nội tại giữa nhu cầu tiêu dùng vô hạn với khả năng sản xuất hữu hạn; chính cái mâu thuẫn này đã làm cho mỗi cá nhân nhất định luôn luôn có bản tính vị kỷ; hoặc có thể nói ngắn gọn hơn theo một cách khác: cái mâu thuẫn tự nhiên giữa sự khác nhau về cả thể chất lẫn trí tuệ với sự giống nhau về bản năng sinh tồn biểu hiện cụ thể qua mỗi cá nhân nhất định thành bản tính vị kỷ.
Đây là khái niệm trung tâm cho chủ nghĩa nhân bản vốn lấy nhân loại làm căn bản cho mình.
Chủ nghĩa nhân bản có thể biểu hiện thành chủ nghĩa cá nhân nhưng cũng có thể biểu hiện thành chủ nghĩa xã hội tùy theo người ta quy nhân loại thành cá nhân hay quy nhân loại thành xã hội, tức là tùy theo người ta quan niệm nhân loại có thực thể biểu hiện thành cá nhân hay biểu hiện thành xã hội. Suy diễn sâu rộng hơn, chủ nghĩa nhân bản không chỉ biểu hiện thành nhân sinh quan hoặc “các khoa học nhân văn” mà còn phải biểu hiện thành cả thế giới quan nữa, bao gồm cả “các khoa học nhân văn” lẫn “các khoa học tự nhiên”. Chỉ nhân loại mới có thể suy tư về tự nhiên thôi làm cho chủ nghĩa nhân bản không chỉ biểu hiện thành nhân sinh quan mà còn phải biểu hiện thành cả thế giới quan nữa, trong đó bao gồm cả “các khoa học nhân văn” lẫn “các khoa học tự nhiên”.
Cái mâu thuẫn tự nhiên giữa sự khác nhau về thực thể (cả thể chất lẫn tinh thần hoặc trí tuệ) với sự giống nhau về thuộc tính (bản năng sinh tồn hoặc bản năng ham sống, cũng tức là bản năng sợ chết) làm cái trục quay cho chủ nghĩa nhân bản quay xung quanh nó.
Trong nhân loại có một cái duy nhất tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biếnkhông bao giờ thay đổi, đó là bản tính vị kỷ, bản tính này làm cơ sở khách quan để xác định giá trị chân thực cho chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa xã hội, nếu cái nào trong hai cái đó mà lấy bản tính vị kỷ làm căn bản cho mình thì cái đó có giá trị chân thực hoặc giá trị chân thực sẽ thuộc về cái đó.
2/ Cá nhân.
Cá nhân là nhân loại tồn tại với một thể chất nhất định cùng với một trí tuệ nhất định để thực hiện bản tính vị kỷ.
Đây là khái niệm trung tâm cho chủ nghĩa cá nhân vốn lấy cá nhân làm căn bản cho mình.
Bản tính vị kỷ là khuynh hướng tâm lý lấy mình làm mục đích đồng thời lấy mọi thứ khác làm phương tiện để thoả mãn mình; khuynh hướng này làm cái trục quay cho chủ nghĩa cá nhân quay xung quanh nó. Do bản tính vị kỷ tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến nên chủ nghĩa cá nhân chỉ tồn tại cố định với một hình thái duy nhất. Đó là chủ nghĩa cá nhân tự đồng nhất với chính mình.
Do quan niệm đúng đắn về nhân loại nên chủ nghĩa cá nhân làm con đường đúng đắn để giải phóng nhân loại khỏi sự chuyên chế. Suy nghĩ bằng bản tính vị kỷ, người ta có thể thiết lập được một trật tự ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, để nhân loại được sống trong Tự do – Bình đẳng – Bác ái.
3/ Xã hội.
Xã hội là một hệ thống quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác được tổ chức theo một trật tự nhất định hoặc một chính thể nhất định.
Đây là khái niệm trung tâm cho chủ nghĩa xã hội vốn lấy xã hội làm căn bản cho mình.
Do xã hội biến chuyển liên tục nên chủ nghĩa xã hội luôn luôn tồn tại năng động với nhiều dạng khác nhau. Chính vì xã hội biến chuyển liên tục nên sự biến chuyển liên tục làm nền tảng cố định hoặc nền tảng bất biến cho chủ nghĩa xã hội, tức là sự biến chuyển làm thành cái cố định hoặc cái bất biến cho chủ nghĩa xã hội. Hoặc có thể nói ngược lại: chủ nghĩa xã hội có cái cố đinh hoặc cái bất biến biểu hiện thành sự biến chuyển. Với nền tảng cố định luôn luôn biến chuyển như vậy, chủ nghĩa xã hội không thể nào tạo ra được một trật tự ổn định hoặc một chính thể ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, mà chỉ có thể tạo ra được nhiều trật tự bấp bênh, tức là chính thể chuyên chế hoặc chế độ độc tài. Chỉ với dạng nào quay trở về chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa xã hội mới có thể tạo ra được một trật tự ổn định cho nhân loại, đó là chủ nghĩa xã hội dân chủ. Có thể nói rõ ràng hơn: chủ nghĩa xã hội luôn luôn tồn tại với nhiều dạng khác nhau nhưng chỉ dạng nào quay trở về chủ nghĩa cá nhân mới có thể trở thành con đường đúng đắn cho nhân loại tiến lên.
4/ Cái Không.
Cái Không hoặc Không tính là một khái niệm trung tâm cho Phật giáo chỉ sự trống rỗng hoặc sự trống không theo giả định cho rằng mọi cái đều trống rỗng hoặc trống không hoặc không tồn tại.
Đây là một khái niệm vừa trừu tượng nhất vừa quan trọng nhất trong Phật giáo. Trong thế giới vô thường, Phật giáo chứng ngộ được cái Không hoặc Không tính tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biếnkhông bao giờ biến chuyển. Xác quyết tư tưởng cũng có Không tính, Phật giáo muốn xác quyết rằng không thể dùng tư tưởng để tiếp cận ngược lại cái Không đồng thời cũng không thể dùng tư tưởng để tiếp cận được chính tư tưởng, tức là tư tưởng không thể biết được chính mình! Phật giáo Tiểu thừa hình dung thế giới như một cái thùng trống rỗng nhưng Phật giáo Đại thừa lại phủ nhận luôn cả cái thùng đó hoặc xem cái thùng đó như không tồn tại, tức là quy kỳ cùng cái thùng đó về cái Không hoặc tuyệt đối hóa cái Không. Vậy Phật giáo nói chung xem mọi thứ đều không tồn tại hoặc quy mọi thứ thành cái Không vốn không hình thànhcũng không mất đi làm cho cái Không chỉ biểu hiện thuần túy – theo quan điểm khoa học hoặc triết học khoa học – thành một sự kiện tư duy mà thôi. Sự kiện này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng, nó có thể chỉ dẫn cho nhân loại dựa vào đó mà có thể thiết lập được một trật tự ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, để nhân loại có thể sống theo các giá trị tích cực đã được xác lập bởi chính Phật giáo: từ bi – hỷ xả, v. v..
5/ Quân tử.
Quân tử là những người được đào tạo theo Nho giáo để làm công việc cai trị trong xã hội chuyên chế lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống.
Đây là khái niệm trung tâm cho Nho giáo vốn lấy quân tử làm căn bản cho mình.
Quân tử đối lập thù địch với tiểu nhân: nếu quân tử phải cao thượng thì tiểu nhân phải thấp hèn. Tuy nhiên, vì xã hội chuyên chế có mâu thuẫn đối kháng giữa tầng lớp cai trị với tầng lớp bị cai trị biểu hiện về tư tưởng thành mâu thuẫn đối kháng giữa quân tử với tiểu nhân trong Nho giáo, mâu thuẫn này thường xuyên làm đảo lộn mọi thứ hoặc làm cho mọi thứ đều có thể bị tha hóa, nên quân tử có thể bị tha hóa thành tiểu nhân cũng như tiểu nhân có thể bị tha hóa thành quân tử.
Với các chuẩn mực cực đoan như vậy về cả quân tử lẫn tiểu nhân, Nho giáo không thể tạo ra được một trật tự ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, mà chỉ có thể tạo ra được các trật tự bấp bênh, tức là chính thể chuyên chế hoặc chế độ độc tài. Với lịch sử kéo dài qua nhiều biến động tang thương, nước Tàu đã chứng tỏ rõ ràng như vậy.
Nho giáo xung khắc với dân chủ: lẽ nào lại quy kết các công dân vốn làm chủ xã hội thành tiểu nhân, hoặc giả: lẽ nào lại quy kết thành tiểu nhân đối với các cá nhân tinh hoa được bầu chọn cẩn thận thông qua các cuộc bầu cử tự do làm nhà cầm quyền? Sự xung khắc giữa Nho giáo với dân chủ chẳng khác gì sự xung khắc giữa nước với lửa!
6/ Jesus.
Jesus theo tiếng Do thái có nghĩa là Cứu độ. Cứu độ như thế nào hoặc cứu độ bằng cách nào? Câu trả lời ngắn gọn nhất là cứu độ bằng Mầu nhiệm Ba Ngôi. Theo sự thể này, Chúa sẽ thể hiện mình thành ba ngôi nhất thể, tức là ba ngôi vị khác nhau thống nhất với nhau thành một thể thống nhất hoặc một thể thống nhất thể hiện thành ba ngôi vị khác nhau: ngôi vị thứ nhất là Chúa Cha, tức là Đấng Toàn năng hoặc Đạo Vũ trụ; ngôi vị thứ hai là Chúa Con, tức là Chúa Jesus (Jesus Christ); ngôi vị thứ ba là Chúa Thánh thần hoặc Chúa Quan phòng. Chúa thể hiện thành ba ngôi vị như vậy có thể nhằm chỉ dẫn cho nhân loại cách thức để đạt được hạnh phúc. Nếu có thể diễn đạt Jesus thành Mầu nhiệm Ba Ngôi (Jesus = Mầu nhiệm Ba Ngôi) thì cũng có thể diễn đạt Mầu nhiệm Ba Ngôi thành Jesus (Mầu nhiệm Ba Ngôi = Jesus).
Jesus hoặc Mầu nhiệm Ba Ngôi là sự kiện trung tâm cho Chúa giáo (Christianity), sự kiện này tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biếnkhông bao giờ thay đổi trong Chúa giáo. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, Mầu nhiệm Ba Ngôi có tác dụng khai sáng vô cùng to lớn.
So với cái Không hoặc Không tính trong Phật giáo, Jesus trong Chúa giáo có ý nghĩa tương đương nhưng biểu hiện rõ ràng hơn làm cho người ta tiếp nhận dễ dàng hơn. Cụ thể là người ta có thể dựa vào Jesus = Mầu nhiệm Ba Ngôi để thiết lập chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa với ba thiết chế cơ bản: 1/ Nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, theo đó nhà nước này phải được phân chia độc lập về nhân sự thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; sự phân chia quyền lực như vậy làm cho các nhà cầm quyền không thể lạm dụng được quyền lực nhà nước; 2/ Nhà nước dân chủ phải được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể nhân dân, theo đó nhà nước này phải bị kiểm sát chặt chẽ bởi nhiều tổ chức độc lập để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông; 3/ Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì thôi không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp. Vậy Mầu nhiệm Ba Ngôi vừa có ý nghĩa là quy chế phân lập tam quyền, vừa có ý nghĩa là chính thể cộng hòa với ba thiết chế cơ bản đã được trình bày ở trên.
7/ Lao động.
Lao động là hoạt động cần thiết để nhân loại tồn tại được.
Đây là khái niệm trung tâm cho Chủ nghĩa Marx, vốn lấy lao động làm căn bản cho mình.
Vladimir Ilich Lenin đã từng nhận xét chính xác rằng: lý thuyết kinh tế của Karl Marx là nội dung chủ yếu của Chủ nghĩa Marx, trong đó giá trị được biểu hiện phổ biến thành một khái niệm nền tảng đúng như các nhà marxist vẫn xác tín như vậy mặc dù nó được định nghĩa sai lầm. Trong Chủ nghĩa Marx, giá trị vừa trừu tượng nhất vừa quan trọng nhất: vì biểu hiện lao động xã hội vốn chỉ được thực hiện hiện thực bởi một bộ phận nhất định trong nhân loại mà thôi, tức là những cá nhân nào đó có khả năng lao động, nên giá trị trừu tượng nhất mặc dù cái trừu tượng nhất trong Chủ nghĩa Marx vẫn còn có tính chất phiến diện sẽ được biểu hiện ở cuối sự kiện này; vì biểu hiện phương pháp luận nên giá trị quan trọng nhất trong Chủ nghĩa Marx. Với ý nghĩa đó, giá trị đã bước đầu biểu hiện được một phần nào đó sự giống nhau giữa người với người hoặc một phần nào đó đã vượt lên trên sự khác nhau giữa người với người. Lẽ ra K. Marx phải bảo tồn “giá trị” để phát triển khái niệm này thành một triết lý nhân bản cho người ta có thể thiết lập được một trật tự ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa. Nhưng thật đáng tiếc, mọi khái niệm cấu thành Chủ nghĩa Marx – không trừ một khái niệm nào, kể cả “giá trị” vốn được coi như “hòn đá thử vàng” – đều không được phép tồn tại vĩnh cửuđều bị tiêu diệt không thương tiếc bởi phép biện chứng duy vật!
Trước K. Marx hơn hai ngàn năm, Heraclitus đã từng nói rằng không ai tắm được hai lần trên một dòng sông. K. Marx đã đi xa hơn theo chiều hướng cực đoan bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng với điểm tận cùng biểu hiện thành một ý kiến triết học cho rằng: vận độngthuộc tính cố hữu biểu hiện sinh mệnh của vật chất. Đạt đến điểm đó, K. Marx đột ngột dừng lại mà không bao giờ tiến lên nữa, ông ta thiếu hẳn năng lực khái quát cho việc trừu tượng hóa mọi biến chuyển thành một cái cố định: tuy đã thoáng thấy cái cố định hoặc cái bất biến trong sự biến chuyển nhưng K. Marx không biết giữ lại cái cố định hoặc cái bất biến để thiết lập một trật tự cố định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, mà đã bỏ rơi cho cái cố định hoặc cái bất biến bị tiêu tan theo sự biến chuyển. Vì tự giới hạn mình vào chủ nghĩa duy vật biện chứng vốn xác quyết chắc chắn rằng mọi cái đều biến chuyển vô tận làm cho mọi khái niệm đều bị vong thân nên K. Marx đã thẳng tay tiêu diệt “giá trị” bằng chính phép biện chứng duy vật với một kết luận cực đoan nhất cho rằng giá trị chỉ tồn tại tạm thời hoặc sẽ bị tiêu vong theo lao động được giải thoát khỏi sự tha hóa. Không một triết học nào lại tự phủ định chính mình rồi bị vong thân tuyệt đối như Chủ nghĩa Marx, một thứ triết học lấy việc giải phóng lao động làm mục đích cho mình nhưng lại tự phủ định chính mình để trở thành một thứ triết học lấy việc nô dịch lao động làm kết quả cho mình. Về mặt logic, sự thể đó tự nó đã rõ ràng; về mặt lịch sử, sự thể đó đã được xác nhận rõ ràng bởi chính cái hiện thực marxist, trong đó chủ nhân biểu hiện trái ngược thành đầy tớ cũng như đầy tớ biểu hiện trái ngược thành chủ nhân, tức là “chủ nhânbị bóc lột tàn tệ bởiđầy tớ” hoặc người lao động không những không được tự do mà còn bị nô lệ nặng nề hơn nữa. Vậy Chủ nghĩa Marx chỉ có một thứ duy nhất không biến chuyển, đó chính là sự biến chuyển. Một triết học như vậy không thể tạo ra được một trật tự ổn định mà chỉ có thể tạo ra được các trật tự bấp bênh để mọi cái đều có thể tự phủ định chính mình!
Chỉ cần tinh ý một chút cũng có thể nhận thấy được lao động chỉ được thực hiện hiện thực bởi một bộ phận nhất định trong nhân loại mà thôi, tức là các cá nhân nào đó có khả năng lao động. Sự thể đó cho thấy lao động không có tính chất phổ quát. Từ đó suy ra rằng một triết học lấy lao động làm căn bản cho mình như Chủ nghĩa Marx ắt sẽ không thể có giá trị phổ quát.
8/ Cái Tương đối.
Cái Tương đối được xác lập bởi Albert Einstein (1879 – 1955) với lý thuyết tương đối vốn dựa trên hai giả thiết nền tảng. Giả thiết thứ nhất cho rằng ánh sáng lan truyền trong chân không với một vận tốc như nhau theo mọi hướngkhông phụ thuộc vào hệ quy chiếu hoặc không phụ thuộc vào nguồn sáng chuyển động với vận tốc nào theo hướng nào. Giả thiết thứ hai cho rằng mọi chuyển động đều tương đối, tức là vì mọi vật đều chuyển động nên chuyển động này tương đối với chuyển động khác. Chính giả thiết thứ hai lại dẫn đến giả thiết thứ nhất. Vì ánh sáng lan truyền trong chân không với một vận tốc cố định theo mọi hướng nên vận tốc này cũng tương đối với mọi vận tốc khác thuộc về mọi chuyển động khác, tức là ánh sáng cũng tương đối với mọi vật khác. Đối với lý thuyết tương đối, cả chuyển động lẫn đứng yên đều tương đối như nhau. Vậy chỉ có cái Tương đối mới có thể tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biếnkhông bao giờ thay đổi trong vũ trụ. Đó là kết luận trực tiếp được rút ra từ lý thuyết tương đối. Kết luận này có ý nghĩa quan trọng để ta rút ra được nhiều kết luận triết học về cái Tương đối, rồi từ đó ta có thể suy ra các nguyên tắc triết học cho đời sống chính trị.
Thứ nhất, cái Tương đối chỉ có thể tồn tại hiện thực với hoạt động nhận thức hoặc chỉ có thể tồn tại hiện thực thông qua hoạt động nhận thức, người nào không có khả năng nhận thức sẽ không thể hình dung được cái Tương đối, làm cho cái Tương đối chỉ biểu hiện thuần túy thành một sự kiện tư duy mà thôi. Sự kiện này làm cho hoạt động nhận thức trở thành một hoạt động thường trực, tức là người ta chỉ có thể kiểm chứng được cái Tương đối bằng hoạt động nhận thức làm cho hoạt động nhận thức luôn luôn có khả năng sáng tạo để có thể sáng tạo thế giới, theo đó cả “vật chất” lẫn “tinh thần” đều chỉ có thể được tạo ra từ chính hoạt động nhận thức. Hoặc có thể nói theo một cách khác: cái Tương đối đã cho thấy dù quy thế giới về “vật chất” hay quy thế giới về “tinh thần” cũng đều sai lầm về mặt khoa học đồng thời đã cho thấy việc phân chia triết học thành hai loại đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật đối lập với chủ nghĩa duy tâm, cũng đều sai lầm về mặt khoa học. Quả thật, cái Tương đối đã bác bỏ thẳng thừng mọi triết học tư biện vốn quy thế giới về một thái cực nào đó, như “vật chất” hoặc “tinh thần”, v. v., rồi chỉ cho thấy mọi cái đều biến chuyển liên tục mà không hề cho thấy bất cứ cái gì có thể tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến như cái Tương đối, tức là cái Tương đối đã cho thấy rõ ràng rằng cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm đều không hề có giá trị khoa họcchỉ có giá trị tư biện hoặc chỉ có tính chất siêu hìnhkhông thể có tính chất biện chứng!
Thứ hai, cái Tương đối đã xác nhận rõ ràng giá trị chân thực cho cái Không hoặc Không tính trong Phật giáo vốn cũng chỉ biểu hiện thuần túy – theo quan điểm khoa học – thành một sự kiện tư duy mà thôi. Đó chính là lý do sâu xa để có thể hiểu được tại sao A. Einstein đã đánh giá cao Phật giáo. Giữa cái Không với cái Tương đối chỉ có thể có một sự khác biệt duy nhất: nếu cái Không không thể được kiểm chứng rõ ràng bởi hoạt động nhận thức mà chỉ có thể được giác ngộ mơ hồ bởi chủ thể giác ngộ thông qua cái Niết bàn vốn cũng mơ hồ như vậy thì cái Tương đối lại có thể được kiểm chứng rõ ràng bởi hoạt động nhận thức, trong đó toán học có vai trò quan trọng. Hơn nữa, theo logic vận hành, cái Tương đối sẽ dẫn dắt hoạt động nhận thức đến sự Giải thoát hoặc sự Cứu độ (Jesus) bằng Mầu nhiệm Ba Ngôi trong Chúa giáo (Christianity). Nói như vậy, tôi muốn nhấn mạnh rằng cái Tương đối cũng tương đồng với Jesus hoặc Mầu nhiệm Ba Ngôi trong Chúa giáo. A. Einstein có thể không biết như vậy hoặc không ngờ như vậy nhưng chính sự kiện này đã hiện hữu trong khoa học với giả định đúng đắn đã được xác lập chắc chắn bởi chính vật lý học cho rằng đơn vị cơ bản của vật lýba mối quan hệ: sự kiện, tín hiệusự quan sát, tạo thành một tổng thể. Chính sự kiện đó có thể cho phép người ta suy ra cơ sở triết học để dựa vào đó mà thiết lập được một trật tự ổn định, tức là chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, cho xã hội vốn bao gồm tất cả các quan hệ giữa người với người. Hệ quả này cho phép ta hiểu được tại sao A. Einstein không chỉ đánh giá cao tôn giáo mà còn phê phán gay gắt chế độ độc tàiNga, ĐứcItalia vào đầu thế kỷ XX. Không phải ngẫu nhiên mà A. Einstein đã lựa chọn lý tưởng dân chủ làm lý tưởng chính trị cho mình.
Thứ ba, cái Tương đối theo quan điểm khoa học hoặc triết học khoa học khác hẳn cái Tương đối theo quan điểm thông thường. Theo quan điểm khoa học, cái Tương đối được xác lập nhằm khẳng định sự khác biệt bằng sự tương đồng. Nhưng theo quan điểm thông thường, cái Tương đối lại thường bị xuyên tạc nhằm phủ nhận sự khác biệt bằng sự tương đồng, như phủ nhận sự khác biệt giữa độc tài với dân chủ chẳng hạn; nhà nước độc tài thường tương đối hoá cả hai khái niệm đó bằng luận điệu quen thuộc cho rằng: dù dân chủ hay độc tài cũng đều chỉ tương đối mà thôi, nhằm mê hoặc quần chúng để quần chúng cam tâm chịu đựng sự áp bức đồng thời cũng qua đó mà củng cố chế độ độc tài, v. v.. Vấn đề cốt tử là cần phải hiểu được đúng đắn về cái Tương đối để mới có thể né tránh được những cạm bẫy tư tưởng!
Lý thuyết tương đối biểu hiện cụ thể qua một trường hợp đặc biệt thành Hệ thức Einstein: E = m.c2, tức là năng lượng (E) của một vật nào đó bằng khối lượng (m) của chính vật đó nhân với vận tốc (c) của ánh sáng rồi lại nhân với vận tốc (c) của ánh sáng, trong đó c luôn luôn cố định hoặc luôn luôn bất biến bằng 299.792.458 m/s. Gần đây người ta đã tiến hành một thí nghiệm đặc biệt tại Âu châu. Kết quả sơ bộ được công bố vào ngày 20 Tháng Chín 2011 đã cho thấy neutrino chuyển động với vận tốc lớn hơn 299.792.458 m/s. Kết quả này chưa được kiểm chứng rõ ràng. Một số người vội vã kết luận rằng cần phải viết lại sách giáo khoa về vật lý. Có thể cần phải viết lại sách giáo khoa về vật lý nhưng xin hãy nhớ rằng ánh sáng lan truyền trong chân không với một vận tốc như nhau theo mọi hướngkhông phụ thuộc vào hệ quy chiếu hoặc không phụ thuộc vào nguồn sáng chuyển động với vận tốc nào theo hướng nào! Liệu neutrino có hay không có tính chất đặc biệt như vậy? Vấn đề mấu chốt không phải là vận tốc nào (lớn hay nhỏ) theo hướng nào, mà là vận tốc như nhau theo mọi hướng. Vả lại, nếu neutrino cũng có tính chất đặc biệt như ánh sáng thì vì khác nhau về vận tốc nên giữa neutrino với ánh sáng vẫn có sự tương đối, tức là sự tương đối vẫn tồn tại, hơn nữa còn tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến. Hệ quả này không hề bác bỏ lý thuyết tương đối mà còn đòi hỏi phải mở rộng lý thuyết đó nữa.
Cái Tương đối khác cái Bất định hoặc cái Bấp bênh nhưng cái Bất định lại song hành với cái Tương đối để cùng biểu hiện cái Cố định hoặc cái Bất biến cho thế giới, tức là cũng như sự vận động hoặc sự biến đổi, cái Bất định hoặc cái Bấp bênh làm thành cái Cố định hoặc cái Bất biến cho thế giới. Ở đây cái Cố định hoặc cái Bất biến chỉ biểu hiện thuần túy – theo quan điểm khoa học hoặc triết học khoa học – thành một sự kiện tư duy mà thôi, theo đó cái Cố định hoặc cái Bất biến chỉ có thể tồn tại được thông qua hoạt động nhận thức hoặc không thể tồn tại được ở đâu ngoài hoạt động nhận thức làm cho hoạt động đó phải trở thành một hoạt động thường trực mới có thể tạo tác được cái Cố định hoặc cái Bất biến cho thế giới để thế giới có tính chất cố định hoặc tính chất bất biến. Tính chất cố định hoặc tính chất bất biến biểu hiện qua lý thuyết tương đối thành tính chất tương đối nhưng lại biểu hiện qua lý thuyết lượng tử thành tính chất bất định hoặc tính chất bấp bênh.
Werner Karl Heisenberg (1901 – 1976) đã diễn đạt tính chất bất định bằng lời nói vào năm 1927 như sau: “The more precisely the position is determined, the less precisely the momentum is known in this instant, and vice versa” (Vị trí càng được xác định chính xác bao nhiêu, động lượng càng ít được biết chính xác bấy nhiêu tại thời điểm đó, và ngược lại). Rồi W. K. Heisenberg diễn đạt tính chất bất định bằng toán học với một bất đẳng thức như sau:
 (\Delta\ x) (\Delta\ P_x) \ge\  \frac{h}{4 \pi\ }
Trong công thức đó,  \Delta\ x  sai số của phép đo vị trí, \Delta\ P_x  sai số của phép đo động lượng,  h  Hằng số Planck.
Trị số của Hằng số Planck (h) trong Hệ Đo lường Quốc tế:
h \simeq 6,626\ 069\ 3\times10^{-34} J.s.
Sai số tương đối trên trị số này là 1,7×10-7, đưa đến sai số tuyệt đối là 1,1×10-40 J.s.
Theo lý thuyết lượng tử, thế giới luôn luôn tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến với tính chất bất định hoặc tính chất bấp bênh để thông qua hoạt động nhận thức vốn cũng có tính chất bất định hoặc tính chất bấp bênh, tính chất đó lại biểu hiện trái ngược theo nguyên tắc bất định thành tính chất cố định hoặc tính chất bất biến cho thế giới. Ở đây tính chất cố định hoặc tính chất bất biến cũng chỉ biểu hiện thuần túy – theo quan điểm khoa học hoặc triết học khoa học – thành một sự kiện tư duy như tính chất đó biểu hiện tương đối bằng tính chất tương đối qua lý thuyết tương đối. Vậy mà có lẽkhông thể hình dung nổi cái Bất định hoặc cái Bấp bênh lại có thể biểu hiện trái ngược theo chính nguyên tắc bất định thành cái Cố định hoặc cái Bất biến mà (lại có lẽ) chỉ xác tín tuyệt đối rằng mọi cái vào mọi lúc đều bất định làm cho người ta dù ở đâu vào lúc nào cũng bấp bênh nên W. K. Heisenberg đã không rời bỏ nền chuyên chế fascist vốn đầy bất định? Nguyên tắc bất định lại có thể gợi mở bấp bênh rằng không thể có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi đó.
Với ý nghĩa sâu xa vượt qua cả trực giác lẫn kinh nghiệm, cả lý thuyết tương đối lẫn lý thuyết lượng tử đều tham gia làm linh hồn cho phép biện chứng khoa học đồng thời đều đòi hỏi nhân loại phải tổ chức xã hội theo chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa để nhân loại được sống ổn định bằng Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Tôi xác tín chắc chắn rằng nhân loại có thể tạo tác được một trật tự ổn định cho một thế giới bấp bênh bằng triết học khoa học. Chính Chúa đã mang lại sự xác tín đó cho tôi bằng Mầu nhiệm Ba Ngôi. Vả lại, một thế giới bất định càng bấp bênh bao nhiêu càng đòi hỏi bấy nhiêu nhân loại phải tổ chức xã hội theo chính thể dân chủ để bảo tồn mình, nếu không thì nhân loại sẽ bị diệt vong bởi chính cái thế giới bấp bênh đầy bất định. Chúa thể hiện mình thành Ba Ngôi Nhất thể rất có thể chỉ nhằm mở ra con đường sống cho nhân loại bảo tồn mình bằng chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa để nhân loại được sống ổn định trong một thế giới bất định đầy bấp bênh. Có thể chính sự thể này đã giải thích được tại sao càng hiểu biết nhiều sẽ làm cho người ta càng xác tín nhiều hơn vào Chúa.
Nói bằng giọng triết lý để kích thích tư duy: lý thuyết lượng tử làm động lực cho nhân loại tổ chức xã hội theo chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa để bảo tồn mình nhưng lý thuyết tương đối lại làm phương pháp cho nhân loại làm việc đó!
9/ Cái Vị kỷ.
Cái Vị kỷ (hoặc bản tính vị kỷ) tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến trong mọi cá nhân vào mọi thời điểm. Mọi cá nhân dù ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào cũng đều có cái vị kỷ. Cái vị kỷ vừa tồn tại xuyên không gian vừa tồn tại vượt thời gian. Quan điểm lịch sử không có tác dụng gì đối với cái vị kỷ. Sự thể này cho thấy cái vị kỷ tương đồng bản chất với cả cái Tương đối trong lý thuyết tương đối lẫn cái Không hoặc Không tính trong Phật giáo. Sự tương đồng này lại dẫn đến sự Giải thoát hoặc sự Cứu độ, tức là Jesus hoặc Mầu nhiệm Ba Ngôi trong Chúa giáo (Christianity). Kinh thánh đã nói rằng: ta là ánh sáng, là sự sống và là chân lý. Lý thuyết khoa học về chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa đã chứng tỏ rõ ràng như vậy!
Các cá nhân khác nhau về thực thể nhưng giống nhau về thuộc tính. Thực thể được nói đến ở đây phải bao gồm cả thể chất lẫn trí tuệ hoặc tinh thần. Thuộc tính được nói đến ở đây lại chỉ bao gồm bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết. Chính sự đối lập giữa thực thể với thuộc tính đã cấu thành cái vị kỷ; hoặc có thể nói theo một cách khác: cái vị kỷ chỉ hiện hữu trong sự đối lập giữa thực thể với thuộc tính đã được nói đến ở trên.
Với ý nghĩa như vậy, cái vị kỷ làm cơ sở tự nhiên cho đời sống chính trị, theo đó mọi thể chế chính trị đều phải dựa vào cái vị kỷ. Tuy nhiên, nếu chính thể nào dựa chủ yếu vào sự khác nhau về thực thể (cả thể chất lẫn tinh thần hoặc trí tuệ) giữa các cá nhân thì chính thể đó sẽ tồn tại bấp bênh; ngược lại, nếu chính thể nào dựa chủ yếu vào sự giống nhau về thuộc tính (bản năng sinh tồn) giữa các cá nhân thì chính thể đó sẽ tồn tại bền vững. Quả thật, cái vị kỷ đòi hỏi phải có pháp luật để ngăn ngừa các cá nhân làm hại cho nhau đồng thời khuyến khích các cá nhân làm lợi cho nhau hoặc được sống theo Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Nhưng muốn có pháp luật, nhân loại bao gồm tất cả các cá nhân vừa khác nhau về thực thể vừa giống nhau về thuộc tính phải tổ chức xã hội theo chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa. Vậy cái vị kỷ làm cho chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hoà phải dựa chủ yếu vào sự giống nhau về thuộc tính (bản năng sinh tồn) giữa các cá nhân để chính thể này tồn tại bền vững.
Chính thể dân chủ bảo đảm cho pháp luật tồn tại. Pháp luật tồn tại lại thôi thúc mọi người đều phải hành xử theo đạo đức. Đạo đức thể hiện cụ thể thành ít nhất ba giá trị cơ bản: Tự do – Bình đẳng – Bác ái, làm cho người ta biết hướng tới cái Thiện đồng thời cũng biết chối bỏ cái Ác.
Tự do là tình trạng được làm tất cả những gì có lợi cho mình đồng thời cũng có lợi cho cả người khác biểu hiện thành toàn bộ các quyền làm người thuộc về mỗi cá nhân nhất định hoặc nhân quyền như vẫn thường gọi.
Bình đẳng là như nhau hoặc giống nhau về cả quyền lợi lẫn nghĩa vụ.
Bác ái là yêu thương người khác như yêu thương chính mình.
Đạo đức phải tồn tại cố định hoặc tồn tại bất biến cho dù mọi thứ khác đều có thể phải biến chuyển liên tục.

Tóm lại, cái vị kỷ đòi hỏi mỗi cá nhân nhất định phải có tinh thần khoan dung để ứng xử với các cá nhân khác bằng thái độ tương kính mới có thể làm chủ được cái vị kỷ.

J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Mười 2011)

CHÚA GIÁO

Chúa giáo lấy Chúa làm căn bản cho mình. Theo Chúa giáo (Công giáo, Chính giáo, Tân giáo, v. v., mà điển hình nhất thuộc về Công giáo), Chúa đã tạo nên mọi cái, kể cả nhân loại, đồng thời chi phối mọi cái; mọi cái đều khởi phát từ Chúa rồi lại quay trở về Chúa; Chúa lấy mình làm mẫu hình chung để tạo nên nhân loại theo mẫu hình đó đồng thời thể hiện mình thành Ba Ngôi Nhất thể cho nhân loại hiệp thông với Chúa để đạt được hạnh phúc.
Ba Ngôi Nhất thể được lấy làm Mầu nhiệm Trung tâm cho Chúa giáo. Thần học chỉ giải thích Chúa thể hiện mình thành Ba Ngôi Nhất thể để cứu vớt nhân loại mà không giải thích tại sao Chúa lại thể hiện mình thành Ba Ngôi Nhất thể, tức là chỉ giải thích Mầu nhiệm Ba Ngôi Nhất thể (Trinité) nhằm mục đích gì mà không giải thích Mầu nhiệm Ba Ngôi Nhất thể bắt nguồn từ nguyên nhân nào. Nhưng theo quan điểm khoa học được xác lập ở đây, Mầu nhiệm Ba Ngôi Nhất thể có thể bắt nguồn từ Logic học với Lập luận bằng Ba Mệnh đề (Tam Đoạn Luận) vốn được xác lập bởi Aristote (384 – 322 trước Công nguyên) đồng thời cũng có thể bắt nguồn từ bản tính vị kỷ, hoặc cũng có thể bắt nguồn từ cả Logic học lẫn bản tính vị kỷ.
Nhân loại có lịch sử được khởi phát từ chính thể chuyên chế. Khi mới xuất hiện trên địa cầu, nhân loại chỉ nhận thức được hạn chế về mọi cái đồng thời chỉ hoạt động kinh tế thô sơ. Chính vì nhận thức thấp kém cộng thêm kinh tế thô sơ nên nhân loại chỉ có thể tổ chức được xã hội theo chính thể chuyên chế mà thôi.
Qua trải nghiệm thực tế đau thương với chính thể chuyên chế, nhân loại dần dần thức tỉnh. Sự thức tỉnh được thể hiện qua các tư tưởng về tự do. Mọi người đều mong muốn được thụ hưởng tự do nhưng lại khó hiểu được đúng đắn về tự do, làm thế nào để đạt được tự do lại càng khó khăn hơn.
Đã từng xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau có tham vọng giải thoát nhân loại khỏi chính thể chuyên chế, bao gồm cả tham vọng giải thoát nhân loại khỏi những tư tưởng sai lầm; nhưng chung quy lại chỉ có Chúa giáo mới có khả năng đó.
Theo Chúa giáo (Công giáo, Chính giáo, Tân giáo, v. v., mà điển hình nhất thuộc về Công giáo) thể hiện qua Kinh thánh, Chúa Jesus xuống thế gian làm Người thông qua Đức Maria Đồng trinhLàng Bethlem thuộc nước Palestine (vùng đất có dân tộc Israel sinh sống thuộc Đế quốc La mã) vào đầu Công nguyên để cứu vớt nhân loại đang phải chịu đựng vô số tai hoạ khủng khiếp được gây nên bởi chính nhân loại đang ở vào tình trạng u mê, trong đó có các dân tộc thuộc Đế quốc La mã đang phải sống theo chính thể độc tài được thiết lập bởi Julius Cesar.
J. Cesar thiết lập nền độc tài sau khi tiêu diệt nền cộng hoà đã từng tồn tại suốt mấy trăm năm trước đó với nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ có giá trị vĩnh cửu. Ông ta nổi tiếng với lời tuyên bố rằng: “nền cộng hoà là cái quái gì, lời nói của ta chính là luật!” (về sau cả Adolf Hitler lẫn Benito Mussolini đều lấy cảm hứng tinh thần từ lời tuyên bố đó). Với tư tưởng độc đoán như thế, J. Cesar đã thiết lập một nền độc tài điển hình với sự nghiệt ngã cùng cực; nền độc tài đó đã gây nên biết bao tai hoạ đau thương cho Đế quốc La mã mà chính ông ta cũng phải lãnh nhận một cái chết bất đắc kỳ tử.
Chúa Jesus xuống thế gian làm người rất đúng lúc, vào đúng cái lúc mà nhân loại đang cần được cứu độ. Ngài đã làm nhiều việc vừa bí ẩn vừa hữu ích đối với nhân loại, trong đó có việc xác lập Mầu nhiệm Ba Ngôi cho Chúa, theo đó Chúa thể hiện thành ba ngôi: ngôi thứ nhất là Chúa Cha; ngôi thứ hai là Chúa Con, tức là chính Chúa Jesus; ngôi thứ ba là Chúa Thánh thần. Trước đó Chúa chỉ thể hiện trừu tượng thành Một Đấng Toàn năng Duy nhất trong Cựu ước khiến người ta khó cảm nhận được Chúa mà chỉ xác tín rằng có một Chúa tồn tại bí ẩn ở đâu đó bên ngoài nhân loại hoặc xa lạ đối với nhân loại. Với việc xác lập Mầu nhiệm Ba Ngôi cho Chúa, Chúa Jesus đã chỉ ra con đường đúng đắn cho nhân loại thoát khỏi tai hoạ. Chính việc này đã thôi thúc nhiều người tin theo Chúa Jesus trong đó có 12 (mười hai) người gần gũi nhất tự nguyện làm môn đệ cho Ngài khiến Ngài trở thành Vua. Ở đây Vua chỉ theo ý nghĩa khai sáng khởi nguồn từ Chúa Ba Ngôi chứ không phải Vua theo ý nghĩa u mê xuất phát từ quyền lực độc đoán ở thế gian.
Chính vì số người tin theo Chúa Jesus ngày càng đông nên chính quyền độc tài ở La mã với ý thức u mê đã tỏ ra lo sợ cùng cực; chính quyền đó kích động tầng lớp tư tế ở Palestine bài xích Chúa Jesus, quy chụp Ngài thành kẻ dị giáo rồi vu khống Ngài kích động dân chúng nổi loạn; cuối cùng, chính quyền đó đã xử phạt tử hình đối với Chúa Jesus, Ngài bị đóng đinh lên Thập giá rồi chết trên đó.
Các môn đệ đã chôn cất Chúa Jesus vào hang đá. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sống lại rồi ở với các môn đệ thêm 40 (bốn mươi) ngày nữa mới về Trời.
Trước khi về Trời, Chúa Jesus đã thiết lập 7 (bảy) Phép Bí tích làm nghi lễ chính thức để nhân loại hiệp thông với Chúa thông qua Giáo hội Chúa giáo với nhiều hình thức khác nhau.
Với nhiều hình thức khác nhau, Giáo hội Chúa giáo phát triển mạnh mẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề hệ trọng, trong đó có một số vấn đề nền tảng, đó là Chúa có hay không? Nếu có thì Chúa tồn tại như thế nào? Tại sao càng hiểu biết nhiều sẽ làm cho người ta càng xác tín nhiều hơn vào Chúa? Vân vân.
Thuở còn dốt nát trước khi xuất hiện khoa học hiện đại (sinh học, tâm lý học, vật lý học, toán học, tin học, v. v.), người ta chỉ thấy Chúa bằng đức tin; nhưng thời sáng suốt vốn được bắt đầu từ khi xuất hiện khoa học hiện đại, người ta còn thấy Chúa bằng cả lý trí nữa. Chính khoa học hiện đại đã chứng tỏ rõ ràng như vậy.
Ta hãy lấy một ví dụ cụ thể. Vật lý học hiện đại làm cho ta biết được thế giới vừa có tính chất tương đối vừa có tính chất bất định. Tính chất tương đối làm cho ta xác tín chắc chắn rằng thế giới phải có một sự khởi đầu nào đó, chẳng hạn như Vụ Nổ Lớn (The Big Bang) hoặc một cái gì đó tương tự nhưng tính chất bất định lại làm cho ta không thể xác định chính xác sự khởi đầu đó hoặc làm cho ta chỉ có thể xác định được sự khởi đầu đó bằng xác suất. Cả hai tính chất đó đều mở ngỏ cho sự khởi đầu thuộc về Chúa. Vả lại, chính vật lý học đã chứng tỏ rõ ràng rằng nhận thức cũng có cả tính chất tương đối lẫn tính chất bất định; rằng với cả hai tính chất đó, nhận thức chỉ biểu hiện một sự sống mong manh cho ta để ta chỉ có thể sống được bằng một sự sống mong manh. Chính sự sống này bắt buộc ta phải xác tín vào Chúa để ta được an bình, rằng chính Chúa đã tạo tác thế giới để thế giới có sự khởi đầu thuộc về Chúa. Tính chất bất định cũng như tính chất tương đối làm cho nhận thức phải biểu hiện thành nhiều ý kiến khác nhau về Chúa: ý kiến này có thể thừa nhận Chúa nhưng ý kiến khác lại có thể phủ nhận Chúa để Chúa vẫn cứ tồn tại thản nhiên ngay cả khi bị phủ nhận gay gắt nhất. Charles Darwin (1809 – 1882) đã từng phủ nhận mạnh mẽ nhất nhưng rồi lại bị phủ nhận mạnh mẽ hơn bởi Gregor Mendel (1822 – 1884); tuy dung hòa C. Darwin với G. Mendel, nhưng Clinton Richard Dawkins (sinh năm 1941, hiện nay đang sống tại Anh quốc) không thể tránh khỏi phải đối mặt với một câu hỏi gay gắt: một thế giới vị kỷ mà không có Chúa ngự trị sẽ được bảo tồn hay sẽ bị hủy diệt bởi chính thế giới đó? Chính câu hỏi này đã mở ra một con đường thênh thang dẫn ta đến Mầu nhiệm Ba Ngôi vốn đã được xác lập bởi chính Chúa Jesus.
Nhiều người biết Chúa thể hiện mình như thế nào hoặc biết được Chúa thể hiện mình thành ba ngôi như Kinh thánh đã nói: ngôi thứ nhất là Chúa Cha, tức là Đấng Toàn năng hoặc Đạo Vũ trụ; ngôi thứ hai là Chúa Con, tức là Chúa Jesus (Jesus Christ); ngôi thứ ba là Chúa Thánh thần, tức là Chúa Quan phòng. Nhưng ít người hiểu được tại sao Chúa lại thể hiện mình như thế! Vì nhân loại có bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, bản năng này làm cho mọi cá nhân đều có bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợitham lam, mà bản tính vị kỷ lại luôn luôn thúc đẩy các cá nhân sẵn sàng làm hại lẫn nhau hoặc làm cho nhau đau khổ, nên Chúa phải thể hiện mình thành ba ngôi như trên để cứu vớt nhân loại khỏi tội ác! Trước hết, Chúa chỉ dẫn cho nhân loại phải biết sống theo pháp luật để có thể trở nên tốt đẹp hoặc được hạnh phúc; tiếp theo, Chúa khẳng định cho nhân loại hiểu được rằng: muốn sống theo pháp luật, nhân loại phải biết thiết lập nhà nước dân chủ hoặc nhà nước cộng hoà; tiếp theo nữa, Chúa chứng minh cho nhân loại hiểu được rằng: muốn thiết lập được nhà nước dân chủ hoặc nhà nước cộng hoà, nhân loại phải biết sống bác ái, tức là yêu thương người khác như yêu thương chính mình, nếu đấu tranh thì phải đấu tranh bằng ý chí thông qua đối thoại hoà bình chứ tuyệt đối không được đấu tranh bằng bạo lực thông qua gây hấn chiến tranh. Chính Chúa Jesus đã dạy bảo các môn đệ rằng: “kẻ nào sử dụng đao kiếm sẽ bị chết bởi đao kiếm” (ý nói: sử dụng bạo lực sẽ bị chết bởi bạo lực!); rằng: “kẻ nào tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (ý nói: mọi người đều như nhaubình đẳng!); rằng: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em; Thầy đã yêu thương anh em như thế nào, anh em hãy yêu thương nhau như thế” (ý nói: mọi người đều phải biết sống bác ái!). Như thế tức là phương pháp đấu tranh bằng ý chí hoặc phương pháp đấu tranh bất bạo động đã được xác lập lần đầu tiên bởi chính Chúa Jesus. Lời giáo huấn này đã xâm nhập sâu rộng vào toàn thể nhân loại, từ đó đã tạo nên nhiều quốc gia có nhà nước dân chủ hoặc nhà nước cộng hoà, như các quốc gia ở Mỹ châu (Canada, Mỹ, Mexico, v. v.), Âu châu (Anh, Pháp, Đức, Ý, Ba lan, v. v.), Úc châu (Australia, New Zealand, v. v.), Á châu (Ấn độ, Nhật bản, Israel, Đài loan, Nam Triều tiên, v. v.), Phi châu (Nam Phi, v. v.); nhờ biết lắng nghe Lời Chúa đồng thời biết vận dụng Lời Chúa vào đời sống của mình mà tất cả các quốc gia đó đều cực kỳ thịnh vượng: kinh tế giàu có, chính trị tự do, văn hoá tân kỳ (cả khoa học lẫn nghệ thuật đều nảy nở rực rỡ!), chứ không nghèo đói nhếch nhác như các quốc gia không có nhà nước dân chủ hoặc nhà nước cộng hoà. Căn cứ vào thực tế sinh động như thế, khoa học đã hoặc sẽ xác định rằng: Chúa giáo (Công giáo, Tân giáo, Chính giáo, v. v., đặc biệt điển hình nhất thuộc về Công giáo) là Tôn giáo Cộng hoà hoặc Tôn giáo về nền Cộng hoà, cũng như Phật giáoTôn giáo Bình đẳng hoặc Tôn giáo về sự Bình đẳng với quan niệm cho rằng mọi cá nhân đều có Phật tính!
Ngày nay, Kinh thánh vẫn là bộ sách quan trọng nhất trên thế giới. Trừ những người bị khuyết tật về trí óc, có lẽ không một người bình thường nào dám coi thường Kinh thánh. Vì mang thông điệp về Chúa Ba Ngôi nên Kinh thánh trở nên thiêng liêng nhất đối với các Christians (Tín đồ Chúa giáo) nhưng lại trở nên cần thiết đối với tất cả mọi người.
Chúa giáo khởi nguồn trực tiếp từ Judaism (Do thái giáo) qua Cựu ước đồng thời tiếp nhận ánh sáng phát ra từ Triết học Hy lạp mà điển hình nhất thuộc về Aristote, chính nhờ đó mà Chúa giáo thể hiện bản chất thành tôn giáo cộng hoà. Do mang bản chất cộng hoà nên Chúa giáo đã trở thành tiền đề trực tiếp cho tư tưởng khai sáng xuất hiện ở Tây Âu châu vào thế kỷ XVIII mà điển hình nhất thuộc về Charles de Secondat Montesquieu. Quả thật, tư tưởng khai sáng thể hiện nổi bật nhất qua C. S. Montesquieu. Chính nhờ tiếp nhận ảnh hưởng phát ra từ Chúa giáo mà ông đã viết được “Tinh thần Pháp luật”, trong đó ông đã xác lập được quy chế phân lập tam quyền cho việc thiết lập nhà nước cộng hoà. George Soros đã đề xuất yêu cầu phải hiện đại hoá tư tưởng khai sáng 157), tôi đã nỗ lực hết mình để góp phần nhỏ bé vào việc thoả mãn yêu cầu đó!
Nhân loại có bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, bản năng này làm cho mỗi cá nhân nhất định luôn luôn có bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợitham lam; bản tính vị kỷ làm cho mỗi cá nhân đó luôn luôn phản ứng lại mọi tác động từ bên ngoài bất kể những tác động đó tích cực hay tiêu cực; phản ứng đó biểu hiện thành phản xạ xã hội, đúng như G. Soros đã giả định bằng reflexivity (phản xạ tính hoặc tính phản xạ).
Vả lại, nhân loại lại bao gồm tất cả các cá nhân khác nhau về cả thể chất lẫn trí tuệ, theo đó mỗi cá nhân nhất định luôn luôn bị hạn chế về cả thể chất lẫn tinh thần khiến cá nhân đó có thể làm được việc này mà không thể làm được việc khác cũng như có thể biết cái này mà không thể biết cái khác, tức là nhận thức của mỗi cá nhân nhất định luôn luôn có khả năng sai lầm, đúng như G. Soros đã giả định bằng fallibility (sai khả tính hoặc tính có thể sai).
Vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải làm thế nào để nhân loại tồn tại theo một chỉnh thể thống nhất hài hoà, trong đó các cá nhân bổ sung cho nhau mà không loại trừ nhau?
G. Soros đã giả định đúng đắn nhưng lại không biết cội nguồn sâu xa dẫn đến cả reflexivity lẫn fallibility. Nhưng chính nhờ đã giả định đúng đắn mà ông đã đặt ra rất đúng đắn những vấn đề đúng đắn mặc dù không có tham vọng giải quyết một lần cho xong tất cả những vấn đề đó. G. Soros đã để ngỏ những vấn đề đó cho chúng ta phải giải quyết, hoặc có thể nói thật vui vẻ: ông đã tạo ra nhiều việc làm bổ ích cho chúng ta phải làm!
Qua nghiên cứu công phu nghiêm túc, tôi thấy rằng cần phải thiết lập chính thể dân chủ cho toàn thể nhân loại để các cá nhân có thể bổ sung cho nhau thông qua cả hợp tác lẫn cạnh tranh mà quyết không thể loại trừ nhau thông qua cả tranh giành lẫn thôn tính. Chính thể dân chủ sẽ bảo đảm thúc đẩy cạnh tranh diễn biến hài hoà theo xu hướng hợp tác để phát triển; ngược lại, chính thể chuyên chế sẽ chỉ thúc đẩy cạnh tranh diễn biến cực đoan theo xu hướng thôn tính để tự huỷ diệt.
Tôi giác ngộ được sự thể đó chính nhờ Chúa Jesus đã xác lập Mầu nhiệm Ba Ngôi cho Chúa.
Chúa giáo mang tư tưởng hoài niệm về nền dân chủ chủ nô, sự thể này biểu hiện hết sức rõ ràng qua Giáo lý Nguyên thủy.
Theo Giáo lý Nguyên thủy, thế giới (bao gồm cả nhân loại nữa) được tạo dựng bởi Chúa, mà Chúa lại có ba ngôi nhất thể: ngôi thứ nhất là Chúa Cha; ngôi thứ hai là Chúa Con, tức là Chúa Jesus (Jesus Christ); ngôi thứ ba là Chúa Thánh thần; cả ba ngôi đều chủ trương cứu vớt nhân loại khỏi mọi tội lỗi, mọi đau khổ, mọi nỗi khiếp sợ. Để thực hiện chủ trương này, Chúa dạy bảo nhân loại phải tôn kính Chúa hoặc phải thờ phượng Chúa như con cái thờ kính cha mẹ vậy, mà muốn thể hiện thái độ tôn kính đối với Chúa lại phải sống bác ái, theo đó mọi cá nhân đều phải yêu thương người khác như yêu thương chính mình (thương người như thể thương thân). Bác ái không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng hành động. Nếu sống được như vậy thì sau khi chết sẽ được lên Thiên đàng để sống tiếp một cuộc sống đầy hạnh phúc cùng Chúa; ngược lại nếu không sống được cuộc sống bác ái với cuộc đời này mà lại cứ phạm tội lỗi thì sau khi chết sẽ bị đẩy xuống Luyện ngục để sống cuộc đời đầy đau khổ ở đó, hoặc phải tu dưỡng thêm ở đó rồi mới được lên Thiên đàng, tức là rốt cuộc, dù thế nào cũng được cứu vớt bởi Chúa vốn đầy lòng bác ái. Nhưng nếu không biết sám hối (ăn năn hối hận) ở đó thì sẽ bị sa xuống Hoả ngục rồi bị đày đoạ vĩnh viễn ở đây. Vậy nếu muốn tránh sa xuống Hoả ngục thì phải biết sám hối!
Vì Chúa sinh ra nhân loại cũng như cha mẹ sinh ra con cái nên nhân loại phải thờ kính Chúa cũng như con cái phải thờ kính cha mẹ đã đành nhưng nguyên lý này lại được mở rộng cho cả quan hệ nô lệ lẫn quan hệ hôn nhân bởi Thánh Paul, theo đó Chúa cũng dạy bảo nô lệ phải phục tùng chủ nô cũng như vợ phải phục tùng chồng. Qua đây chúng ta thấy được rằng Giáo lý Nguyên thủy vừa mang tư tưởng cộng hoà vừa mang tư tưởng chuyên chế.
Tư tưởng cộng hoà thể hiện qua mấy điểm sau đây: 1) Mọi cái cũng như mọi cá nhân đều được tạo nên bởi Chúa, mà Chúa lại có ba ngôi nhất thể. Sự thể này vừa thể hiện tư tưởng về sự bình đẳng vừa thể hiện tư tưởng về quy chế phân lập tam quyền; 2) Cả ba ngôi đều thực hiện chủ trương cứu vớt nhân loại khỏi mọi tội lỗi, mọi đau khổ, mọi nỗi khiếp sợ; tức là mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Sự thể này thể hiện tư tưởng về sự bình đẳng, nhưng ở đây sự bình đẳng có phạm vi rộng lớn hơn nhiều, không chỉ có sự bình đẳng giữa ba ngôi mà còn có cả sự bình đẳng giữa Chúa với nhân loại lẫn sự bình đẳng giữa các cá nhân khác nhau nữa kia. Sự bình đẳng giữa Chúa với nhân loại thể hiện rõ rệt nhất qua ngôi thứ hai, tức là Chúa Jesus. Chúa Jesus có cả Thần tính lẫn Nhân tính, vừa mang bản tính của Chúa vừa mang bản tính của nhân loại; 3) Kêu gọi mọi người hãy yêu thương người khác như yêu thương chính mình hoặc hãy thương người như thể thương thân. Sự thể này thể hiện tư tưởng về bác ái. Nhờ mang nặng tư tưởng cộng hoà mà Chúa giáo trở thành nền tảng đạo đức cho nền dân chủ tự do. Mặc dù ở một số nước dân chủ không có Chúa giáo, có thể người ta không biết hoặc chỉ biết được rất ít về Chúa giáo nhưng thực tế hàng ngày đa số người ta vẫn thực hành những nguyên tắc cơ bản đã được xác lập bởi Chúa giáo. Cũng chính vì trở thành nền tảng đạo đức cho nền dân chủ tự do nên Chúa giáo thu hút được ngày càng nhiều tín đồ. Hiện nay, Chúa giáo có tín đồ nhiều nhất so với tất cả các tôn giáo khác.
Tư tưởng chuyên chế thể hiện qua lời kêu gọi vợ phải phục tùng chồng hoặc nô lệ phải phục tùng chủ nô cũng như khẳng định chồng có quyền hành tuyệt đối đối với vợ hoặc chủ nô có quyền lực tuyệt đối đối với nô lệ. Nhưng hình như tư tưởng này không tồn tại tự thân trong Giáo lý Nguyên thủy mà có lẽ chỉ được tạo tác khiên cưỡng theo ý đồ xuyên tạc nhằm lạm dụng Chúa giáo vào việc bảo tồn chính thể chuyên chế bởi nền chuyên chế thần quyền làm cho Chúa giáo bị biến dạng với tư tưởng chuyên chế như thế. Chính vì bị biến dạng theo ý đồ xuyên tạc bởi việc lạm dụng mà phải mang nhẹ tư tưởng chuyên chế như thế nên về sau Chúa giáo cũng lại trở thành nền tảng tinh thần cho một số nền chuyên chế hết sức nghiệt ngã đến mức độ mà nó đã bị đả kích dữ dội rất thái quá bởi một số triết gia ngây thơ, trong đó có Jean Jacque Rousseau (1712 – 1778).
Sau cuộc Cải cách Tôn giáo xảy ra ở Âu châu vào thế kỷ XVI làm phát sinh Tân giáo hoặc Giáo phái Tin lành, đặc biệt cuộc tự vấn lương tâm vào cuối thế kỷ XX đã làm cho tư tưởng chuyên chế bị loại bỏ hoàn toàn khỏi Giáo lý Nguyên thủy để Giáo lý Nguyên thủy trở thành Giáo lý Hoàn chỉnh như ngày nay. Với giáo lý hoàn chỉnh, Chúa giáo làm nền tảng chắc chắn nhất cho chính thể dân chủ đang tiến triển mạnh mẽ trên khắp thế giới.
Chúa Ba Ngôi làm nên đặc trưng nổi bật nhất cho Chúa giáo, chính nhờ đó mà Chúa giáo dễ dàng xâm nhập đời sống chính trị hơn bất cứ một tôn giáo nào khác. Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo quy chế phân lập tam quyền thường được chỉ dẫn bởi những tư tưởng chính trị bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ giáo lý về Chúa Ba Ngôi. Sự thể này cũng biểu hiện đặc trưng nổi bật nhất cho văn hoá ở Tây phương, vốn có khả năng ứng dụng rất cao vào đời sống thực tế.
Hầu như tôn giáo nào cũng hướng người ta đến cái Thiện để sống bác ái, nhưng có lẽ chỉ Chúa giáo mới xác lập được con đường hiện thực để có thể đưa người ta đến được cái Thiện. Con đường ấy chính là Mầu nhiệm Ba Ngôi. Chính mầu nhiệm này đã làm cho Chúa giáo trở thành một tôn giáo thấm đẫm giá trị hiện thực đến mức độ mà hầu như sự kiện nào cũng xác nhận sự thể đó! Chẳng hạn, khoa học chỉ có thể phát triển được rực rỡ trong chính thể dân chủ, mà chính thể này lại chỉ có thể tồn tại được với quy chế phân lập tam quyền, quy chế này lại hiệp thông thống nhất với Mầu nhiệm Ba Ngôi; hoặc Chúa Jesus ra đời theo một mầu nhiệm đặc biệt mà phải đợi đến khi phát minh được kỹ thuật nhân bản vô tính vào năm 1997 với việc cho ra đời chú Cừu Dolly, người ta mới có thể hiểu được, v. v.. Vô số sự kiện tương tự đã xác nhận giá trị hiện thực cho Chúa giáo. Chính nhờ đó mà Chúa giáo có thể đã mang lại sự hoàn thiện cho mọi tôn giáo khác, tức là mọi tôn giáo khác đều có thể hiệp thông với Chúa giáo!
Với nhiều căn cứ thực tế, chúng ta có thể tin rằng Chúa giáo nối tiếp Phật giáo rồi đưa Phật giáo lên một tầm vóc cao hơn thể hiện thành con đường hiện thực hơn cho việc giải thoát nhân loại. Con đường đó chính là Mầu nhiệm Ba Ngôi, trong đó ngôi thứ nhất có lẽ thể hiện Đạo Vũ trụ vốn đã được định hình bởi chính Phật giáo.
Chúa Jesus đã phán truyền rằng: “kẻ nào tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (ý nói: mọi người đều như nhaubình đẳng!); “kẻ nào sử dụng đao kiếm sẽ bị chết bởi đao kiếm” (ý nói: sử dụng bạo lực sẽ bị chết bởi bạo lực!); “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em; Thầy đã yêu thương anh em như thế nào, anh em hãy yêu thương nhau như thế!” (ý nói: mọi người đều phải sống bác ái!). Phán truyền như thế, Chúa Jesus có ý muốn nói rằng: do bình đẳng với nhau nên mọi người đều phải sống bác ái mới có thể đến được với một Chúa Ba Ngôi để được lên Thiên đàng (ý nói: được hưởng hạnh phúc!) rồi sống mãi ở đó (ý nói: sẽ bảo tồn được mình!).
Lời phán truyền này có ý nghĩa sâu xa rằng: phải đấu tranh bằng con đường hoà bình để thiết lập chính thể dân chủ với một nhà nước pháp quyền được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, thiết lập được chính thể dân chủ với một nhà nước pháp quyền được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền sẽ làm cho nhân loại được hạnh phúc! Đó chính là lý do sâu kín làm cho tất cả các nhà độc tài vừa khiếp sợ vừa thù ghét Chúa giáo đến mức độ mà Chúa giáo đã từng bị truy bức hết sức đẫm máu theo suốt chiều dài lịch sử hoặc các vua chúa sẵn sàng làm ra sách báo độc hại như Tây dương Gia tô Bí lục chẳng hạn để truy bức Chúa giáo về mặt tư tưởng. Nhưng vì có tư tưởng thấm đẫm giá trị hiện thực như thế nên dù bị đàn áp khốc liệt nhất, Chúa giáo vẫn hiên ngang phát triển mãnh liệt hơn mọi tôn giáo khác!
Tôi cảm thấy mình được cứu rỗi bởi Chúa khi giác ngộ được rằng nhân loại có bản tính vị kỷ: cá nhân nào cũng ích kỷ, tư lợi và tham lam, khiến nhân loại phải hành xử theo pháp luật mới trở nên tốt đẹp; rằng nhân loại phải biết sống theo Mầu nhiệm Ba Ngôi, tức là phải biết tổ chức bộ máy nhà nước theo quy chế phân lập tam quyền (ứng nghiệm với Mầu nhiệm Ba Ngôi!) lấy nguyên tắc đa nguyên bình đẳng làm cơ sở tự nhiên để thiết lập bộ máy đó thông qua chế độ bầu cử tự do, mới được hạnh phúc (được hạnh phúc tức là được lên Thiên đàng!); rằng sống theo Mầu nhiệm Ba Ngôi sẽ được hạnh phúc ngay ở đời này mà không cần phải đợi đến đời sau, tức là Mầu nhiệm Ba Ngôi mang lại hạnh phúc cho nhân loại ngay khi còn sống chứ không phải đợi đến sau khi chết; rằng Chúa sẽ mang lại hạnh phúc cho người nào biết sống theo Mầu nhiệm Ba Ngôi! Tôi luôn luôn cầu mong cho mọi người cũng như cả thế giới đều biết sống theo Mầu nhiệm Ba Ngôi để được hạnh phúc hoặc thoát khỏi mọi hình thức chuyên chế!
Tại sao Chúa lại có Ba Ngôi mà không thể có nhiều hơn hoặc ít hơn? Vấn đề này đã được giải đáp bằng tất cả các đoạn văn nói về chính thể dân chủ hoặc nhà nước cộng hoà. Vậy căn cứ vào đó, người ta có thể khẳng định lại chắc chắn rằng Chúa giáo là Tôn giáo Cộng hoà hoặc Tôn giáo về nền Cộng hoà, có thể bao quát hoặc dung nạp được tất cả các tôn giáo khác, tức là tất cả các tôn giáo khác đều có thể hiệp thông mà không hề mâu thuẫn với Chúa giáo trong nền cộng hoà! Sự thể này đã giải thích được tại sao Chúa giáo ở các nước dân chủ rất dễ dàng chấp nhận các tôn giáo khác (chẳng hạn: chùa chiền mọc lên khá nhiều ở các nước cộng hoà có Christians (Tín đồ Chúa giáo) chiếm đa số, v. v.) hoặc coi việc chấp nhận các tôn giáo khác như một trong những việc đương nhiên thuộc về lòng bác ái vốn tồn tại tự thân trong bản thân mình, đồng thời cũng giải thích được tại sao chính thể chuyên chế luôn luôn bài xích Chúa giáo: tất cả các nhà độc tài đều rất thù ghét Chúa giáo, thậm chí ngay cả các Chức sắc Chúa giáo nắm giữ quyền lực nhà nước trong chính thể chuyên chế cũng phá hoại Chúa giáo!
Do bị lạm dụng vào việc biện minh cho nền chuyên chế thần quyền ở Tây phương vào thời đại trung cổ nên Chúa giáo vào thời đại đó có diện mạo bạo tàn hết sức đáng sợ đã góp phần quan trọng làm phát sinh Hồi giáo. Hồi giáo chống lại Chúa giáo ngay từ nền tảng quan trọng nhất. Sau khi góp phần quan trọng bằng diện mạo bạo tàn làm phát sinh Hồi giáo, Chúa giáo đã bị phân hoá ít nhất hai lần. Lần thứ nhất liên quan chủ yếu đến giáo lý cơ bản xảy ra vào thế kỷ XI (năm 1054) làm cho Chúa giáo bị phân hoá thành hai nhánh khác nhau về mối quan hệ giữa ba ngôi nhất thể: Công giáo (Catholicism) cho rằng ngôi thứ ba được sinh ra từ cả ngôi thứ nhất lẫn ngôi thứ hai, khác hẳn Chính giáo (Orthodoxism) cho rằng ngôi thứ ba chỉ được sinh ra từ ngôi thứ nhất mà thôi. Trong một tài liệu tuyên truyền được biên soạn rất lộn xộn bởi Lương Thị Thoa: Lịch sử Ba Tôn giáo Thế giới. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 2000, thông tin ở trang 13 khác hẳn thông tin ở trang 23; trang 23 nói rằng ngôi thứ ba chỉ được sinh ra từ ngôi thứ nhất, nhưng trang 13 (chú thích) lại nói rằng ngôi thứ ba được sinh ra từ ngôi thứ hai vốn được sinh ra từ ngôi thứ nhất, làm cho độc giả không thể biết được chính xác về Chính giáo. Tôi cũng bị lâm vào tình trạng đó khiến tôi rất cảnh giác với các tài liệu như vậy. Nhưng dù thế nào tôi cũng tin rằng quan niệm về mối quan hệ giữa ba ngôi nhất thể chắc chắn phải có ảnh hưởng đến cách thức để tổ chức bộ máy nhà nước. Nếu ngôi thứ nhất sinh ra ngôi thứ hai rồi ngôi thứ hai lại sinh ra ngôi thứ ba, hoặc chỉ ngôi thứ nhất sinh ra ngôi thứ ba, thì tự do sẽ bị hạn chế. Sự thể này đã giải thích được tại sao dân chủ phát triển chậm chạp ở các nước theo Chính giáo nhưng lại phát triển nhanh chóng ở các nước theo Công giáo (ngay cả Hy lạp vốn đã từng phát minh được nền Dân chủ Cổ điển nhưng về sau có lẽ vì theo Chính giáo nên mãi đến cuối thế kỷ XX mới có nền Dân chủ Hiện đại, muộn mằn hơn nhiều so với các nước theo Công giáo!) làm cho Chúa giáo không thể tránh khỏi tiếp tục bị phân hoá sâu sắc hơn nữa. Lần thứ hai liên quan chủ yếu đến tổ chức giáo hội xảy ra trong Công giáo vào thế kỷ XVI với cuộc Cải cách Tôn giáo làm phát sinh Tân giáo (Neoism) hoặc Thệ phản (Protestantism), còn được gọi là Tin lành (Evangelism) hoặc Cải giáo (Reformism), v. v.. Lương Thị Thoa cho rằng Tân giáoAnh quốc được gọi là Anh giáo (Anglicanism). Stop Here! Tôi đề nghị Lương Thị Thoa xem lại “Anglicanism”, tôi thấy hình như đại đa số dân chúngAnh quốc theo Công giáo nhưng Giáo hội Công giáo ở Anh quốc tách khỏi Giáo hội Công giáo ở Roma. Tân giáo đơn giản hoá cả giáo lý cơ bản (chỉ lựa chọn 36 sách trong Cựu ước mà từ bỏ 10 sách trong đó) lẫn tổ chức giáo hội (từ các thiết chế tôn giáo đến các nghi thức tôn giáo đều được đơn giản hoá) nhằm thế tục hoá sinh hoạt tôn giáo hoặc biến sinh hoạt đó thành một sinh hoạt phổ thông hơn. Như thế tức là xét đến cùng, Tân giáo không hề xung khắc với Công giáo! Nếu có xung khắc đẫm máu giữa hai nhánh này thì sự xung khắc đó chỉ bắt nguồn từ việc Giáo hội Công giáo nắm giữ quyền lực chuyên chế trong nền chuyên chế thần quyền mà thôi. Việc từ bỏ 10 sách trong Cựu ước có thể đã giải thoát Tân giáo khỏi ảnh hưởng chuyên chế từ Do thái giáo (Judaism) chứ không làm cho Tân giáo xung khắc với Công giáo như một số người vẫn nghĩ như vậy. Việc đơn giản hoá cả thiết chế tôn giáo lẫn nghi thức tôn giáo có thể chỉ làm cho giáo hội bị tách khỏi nhà nước chứ chưa chắc đã gây nên tổn thất cho giáo hội!
Không chỉ có Chúa giáo bị lạm dụng vào việc biện minh cho chính thể chuyên chế mà ngay cả Đạo giáoTàu quốc cũng bị lạm dụng vào việc củng cố chính thể chuyên chế. Nhưng những người thiển cận thảm thương đã hồ đồ đồng nhất Chủ nghĩa Marx với Chúa giáo, rằng Chủ nghĩa Marx cũng gây nên “núi xương sông máu” như Chúa giáo. Họ không hiểu rằng đối với tội ác nhân danh ý thức hệ như thế, Chúa giáo phải làm nạn nhân đối lập hẳn với Chủ nghĩa Marx lại chỉ làm tác nhân. Chúa giáo phải làm nạn nhân cho những tội ác tày trời được gây nên bởi nền chuyên chế thần quyền mạo nhận Chúa giáo nhưng Chủ nghĩa Marx lại chỉ làm tác nhân cho những tội ác tày trời được gây nên bởi nền chuyên chính vô sản lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thức. Nền chuyên chế thần quyền đã thực hiện sai lạc Chúa giáo dẫn đến những tội ác tày trời nhưng nền chuyên chính vô sản đã thực hiện đúng đắn Chủ nghĩa Marx dẫn đến những tội ác tày trời. Chúa giáo luôn luôn được bảo vệ thành công bởi những trí tuệ siêu phàm, như Nicolaus Copernicus (1473 – 1543), Galileo Galilei (1564 – 1642), Isaac Newton (1642 – 1727), Albert Einstein (1879 – 1955), v. v., những trí tuệ đó đã giải thoát thành công Chúa giáo khỏi những giáo điều chuyên chế được tạo nên bởi các nền chuyên chế thần quyền. Nhưng Chủ nghĩa Marx lại luôn luôn bị bác bỏ thành công bởi những trí tuệ siêu phàm từ giữa thế kỷ XIX đến nay, trong đó có Albert Einstein. Nhân loại phải quay trở về Chúa giáo mới có thể tiến lên được nhưng nhất định phải từ bỏ Chủ nghĩa Marx mới có thể tiến lên được. Người ta có thể bào chữa đúng đắn cho Chúa giáo bằng nhiều lý do khác nhau nhưng không thể biện bạch đúng đắn cho Chủ nghĩa Marx bằng bất cứ lý do nào.
Thiết tưởng ở đây cũng nên nhắc lại một sai lầm đáng tiếc đã xảy ra ở các nước thuộc Tây phương vào thời đại trung cổ, ở đó Chúa giáo vốn có khuynh hướng khai sáng cho khoa học chân chính nảy nở nhưng các Chức sắc Chúa giáo nắm giữ quyền lực nhà nước trong chính thể chuyên chế lại truy bức tàn tệ khoa học đó làm cho khoa học đó bị thui chột đồng thời cũng làm suy giảm cảm hứng tìm hiểu Chúa bằng câu chuyện về Thánh Augustin được nghe thấy Thiên thần hiện thân thành một em bé bảo rằng đừng nhọc công suy nghĩ về một mầu nhiệm vượt quá trí khôn nhân loại, tức là Mầu nhiệm Ba Ngôi; câu chuyện đó ít nhiều đã cho thấy thái độ bài bác đối với việc tìm hiểu Chúa bằng khoa học! Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XX, Chúa đã soi sáng cho Giáo hội Công giáo ăn năn hối hận về mọi sai lầm trong quá khứ. Sự kiện này đã xác lập một dấu mốc chói lọi cho thấy Chúa giáo chính thức đồng hành với khoa học đồng thời cũng phân biệt dứt khoát Giáo hội Công giáo với nhà nước chuyên chế: Giáo hội Công giáo có thể sửa mình nhưng nhà nước chuyên chế lại không thể sửa mình! Thật vậy, cuộc cách mạng khoa học đang xảy ra hàng ngày đã cho phép chúng ta tìm hiểu Chúa bằng khoa học; bằng khoa học, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu biết được tại sao Chúa lại có ba ngôi mà không thể nhiều hơn cũng như không thể ít hơn với những kết quả nghiêm túc sẽ mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp để có thể thống nhất Chúa giáo (Công giáo, Chính giáo, Tân giáo, v. v.) thành Một Giáo hội Duy nhất lấy Mầu nhiệm Ba Ngôi làm nền tảng thống nhất, đồng thời có thể thăng tiến đời sống xã hội (social existence) theo chiều hướng dân chủ hoá; bằng khoa học, chúng ta đã có thể hiểu được rõ ràng Chúa giáo có tính chất cộng hoà thể hiện ẩn ngầm qua Mầu nhiệm Ba Ngôi; bằng khoa học, chúng ta đã có thể hiểu được rõ ràng tính chất cộng hoà sẽ làm thất bại mọi mưu toan lạm dụng Chúa giáo vào biện minh cho chính thể chuyên chế; bằng khoa học, chúng ta đã có thể hiểu được chính tính chất cộng hoà đã làm cho Chúa giáo trở thành nguồn cảm hứng cho Phong trào Khai minh khởi phát vào thế kỷ XVIII rồi chặn đứng việc lạm dụng Chúa giáo vào biện minh cho chính thể chuyên chế bằng các cuộc Cách mạng Dân chủ. Chính vì Chúa giáo có tính chất cộng hoà nên ngày nay, nhờ nền cộng hoà đang thăng tiến mạnh mẽ mà người ta bắt đầu hiểu được ý nghĩa sâu xa cho Chúa giáo. Thánh nhân Mahatma Gandhi cũng đã từng thừa nhận rằng chính Chúa Jesus đã xác lập được một con đường chắc chắn nhất cho nhân loại đi lên! Những người nào còn nuôi dưỡng hoặc còn tin tưởng những thành kiến, những định kiến, những thiên kiến, v. v., về Chúa giáo hãy tỉnh ngộ mà suy ngẫm nghiêm túc về những sự thật hiển nhiên được nêu ra ở đây.
Kinh thánh nói Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc nên Christianity trong Anh văn cần phải được chuyển dịch sang Việt ngữ thành Chúa giáo mới thật sát nghĩa, nếu chuyển dịch Christianity thành Thiên Chúa giáo thì “Thiên Chúa giáo” không thể hiện được hết ý nghĩa đích thực cho Christianity, vì Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa Trời nên danh xưng này dễ làm cho người ta hiểu sai rằng Chúa chỉ có ở trên Trời, hiểu như vậy rất sai lạc so với Kinh thánh. Tức là trong quan hệ ý nghĩa với Christianity, Chúa giáo sát nghĩa hơn nhiều so với Thiên Chúa giáo: nếu Thiên Chúa giáo chỉ cho thấy Chúa ở trên Trời thì Chúa giáo lại phải cho thấy Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc (cả trên Trời lẫn dưới Đất, cả trong Ta lẫn ngoài Ta, cả Không gian lẫn Thời gian, v. v.). Đó chính là lý do thực tế để tôi chỉ nói Chúa giáo mà không nói Thiên Chúa giáo như nhiều người vẫn nói sai như vậy, nói như vậy vừa sai lạc vừa dài dòng, thừa chữ nhưng thiếu nghĩa.
Theo Ngôn ngữ Israel, Christ (Chúa) có nghĩa là Tẩy rửa; Jesus có nghĩa là Cứu độ hoặc Cứu vớt; Jesus Christ (Chúa Cứu độ hoặc Chúa Cứu vớt) có nghĩa là Tẩy rửa Cứu vớt hoặc Cứu vớt Bằng Tẩy rửa. Vì xác lập Mầu nhiệm Ba Ngôi (Trinité) nên Jesus Christ phải được hiểu sát nghĩa nhất thành Tẩy rửa Cứu vớt Bằng Mầu nhiệm Ba Ngôi. Vậy từ đó có thể suy ra rằng Chúa giáo (Christianity) là tôn giáo tẩy rửa tâm hồn cho nhân loại bằng Mầu nhiệm Ba Ngôi được xác lập bởi Chúa Jesus làm cho nhân loại thoát khỏi đời sống dã man như thú vật vốn được ẩn dụ thành Địa ngục để được sống đời sống thánh thiện như thiên thần vốn được ẩn dụ thành Thiên đàng.
Nhân tiện đây, tôi xin nói sơ qua về J. J. Rousseau. Với chủ nghĩa lãng mạn, nhân vật này có ba nhược điểm lớn: thứ nhất, ông cho rằng mỗi người không nên có quá nhiều tài sản, tức là chống sở hữu tư nhân để chủ trương sở hữu công cộng; thứ hai, ông cho rằng chính thể dân chủ không thích hợp với các nước lớn; thứ ba, ông cho rằng Chúa giáo chỉ thích hợp với chính thể chuyên chế. Ba nhược điểm này về sau đã trở thành một trong những nguồn gốc sâu xa dẫn đến những tai hoạ khủng khiếp cho nhân loại suốt từ đầu thế kỷ XIX đến nay: nhược điểm thứ nhất đã góp phần đẻ ra Chủ nghĩa Marx gây nên vô số tai họa khủng khiếp cho nhân loại trong thế kỷ XX, nhược điểm thứ hai đã góp phần củng cố chính thể chuyên chế ở các nước lớn gây nên nhiều khó khăn nghiêm trọng cho công cuộc dân chủ hóa thế giới, nhược điểm thứ ba đã góp phần vào việc truy bức Chúa giáo ở chính nước Pháp ngay sau Cách mạng 1789 làm cho lý tưởng tự do bị phản bội trắng trợn nhất ở ngay nước Pháp, chưa kể việc truy bức Chúa giáo được gây nên bởi chủ nghĩa vô thần lan tràn từ nước Pháp đến khắp các nơi khác sau đó, lại càng chưa kể việc truy bức Chúa giáo ở các nơi khác suốt từ đó đến nay với nhiều hệ quả bi thảm hơn. Thực tế ngày nay đã vượt qua ba nhược điểm đó. Sở hữu tư nhân trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ, Ấn độ xây dựng thành công chế độ dân chủ, Chúa giáo đã hoặc sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc dân chủ hoá thế giới. Ngoài các nhược điểm nói trên, J. J. Rousseau còn chủ trương trao một phần quyền lực công dân cho nhà nước để được tự do nhiều hơn (!?) Ông ta không thể hình dung được rằng: một khi đã nắm được một phần quyền lực công dân, nhà nước sẽ nuốt chửng tất cả quyền lực đó để biến mỗi công dân thành một nô lệ. Chưa kể đến việc ông ta ném cả ba đứa con đẻ của mình vào Cô nhi Viện mà không bao giờ biết được mặt chúng. Chủ nghĩa lãng mạn đã biến ông ta thành một kẻ tàn nhẫn như thế đấy! Một người như J. J. Rousseau sẽ chẳng có bất cứ một thẩm quyền nào để phê phán Chúa giáo.



157) George Soros: Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Việt ngữ. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội 1999, trang 209.

J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Sáu 2010)