Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Làm sao Cộng sản Việt nam có thể “thoát Trung” được?

 | 
235b1
Hiện nay, một trong những giải pháp được nhiều người đề nghị để giúp Việt Nam thoát khỏi nạn mất nước vào tay Trung Cộng, đó là đảng CSVN phải “thoát Trung”, nghĩa là phải làm sao thoát khỏi vòng kiềm toả hay sự chi phối của Trung Cộng. Giải pháp “thoát Trung” thật là đúng và rất hợp lý trong tình trạng hiện nay của đất nước, vì bộ chính trị, cơ quan thực tế có quyền lực cao nhất nước hiện nay, nếu cứ tiếp tục bị Trung Cộng chi phối và điều khiển, thì việc mất nước vào tay Trung Cộng chỉ là vấn đề thời gian [1].
Nhưng việc “thoát Trung” thật ra chỉ là “cái ngọn”, còn “cái gốc” nằm ở cái “túi tham không đáy” hay tham vọng “quyết tâm giữ ghế” của các cán bộ cộng sản cao cấp và các thành viên bộ chính trị. Có giải quyết được “cái gốc” thì “cái ngọn” mới giải quyết được. Thật vậy, làm sao “thoát Trung” được khi mà các lãnh đạo CSVN không có khả năng từ chối những cái “bả” có giá trị hàng tỷ hay hàng triệu đôla mà Trung cộng đưa đến tận miệng, hay từ chối những gái đẹp mà Trung cộng cố tình gài bẫy để thực hiện “mỹ nhân kế”? Làm sao “thoát Trung” được khi mà bộ chính trị vẫn còn chủ trương phải quyết tâm bảo vệ với bất cứ giá nào “độc quyền trường trị vô thời hạn” trên dân tộc Việt Nam? Với quyết tâm ấy, làm sao CSVN “thoát Trung” được khi mà đảng CSVN phải bám vào Trung cộng như cái phao duy nhất bảo hộ cho tham vọng độc quyền trường trị của mình hầu chế độ độc tài có thể tồn tại? Làm sao bộ chính trị CSVN “thoát Trung” được khi mà vừa có ý định ấy thì Trung cộng đã đe dọa sẽ công bố những mật ước bán nước mà những ông quan CSVN trước đây và hiện nay đã ký kết với Trung cộng, hay sẽ công bố những hành động tội lỗi của họ mà Trung cộng đã gài bẫy để họ sai phạm? Nhiều nguồn tin cho biết: bằng chính sách “cây gậy và củ cà-rốt”, Trung cộng đã mua chuộc và nắm được được cả “hạ tầng cơ sở” của bộ máy nhà nước CSVN, nghĩa là đã điều khiển được cả các chủ tịch UBND phường xã, và cả công an cấp phường xã trở lên.
Phải nói rằng các cán bộ đang làm việc trong bộ máy nhà nước CSVN đang bị kẹt cứng vì “há miệng mắc quai” do những món tiền quá lớn mà họ đã nhận được từ những kẻ thù của dân tộc [2], mà để bù lại những mối lợi to lớn ấy, họ phải thực hiện một điều gì đó có lợi cho kẻ chi tiền nhưng lại rất bất lợi cho quyền lợi của dân tộc.
Cái thế kẹt của những người tự xưng là “đầy tớ nhân dân” nhưng thực tế là “những tên cướp của nhân dân” biết rất rõ là: nếu cứ tiếp tục bị Trung cộng “dắt mũi” như hiện nay thì hiểm họa mất nước là điều chắc chắn không sao tránh được. Vì thế muốn đất nước thoát khỏi hiểm họa đó thì phải “thoát Trung” trước đã. Nhưng làm sao thoát khỏi nanh vuốt của Trung cộng được khi mình đã lén lút nhận của chúng những món tiền quá lớn, hay đã bị chúng “cấy sinh tử phù”?
Để giúp bộ máy lãnh đạo CSVN “thoát Trung”, có người đề nghị là họ phải từ chức, trả lại quyền lãnh đạo đất nước cho người dân mà họ đã cướp được vào năm 1945 tại miền Bắc và năm 1975 tại Miền Nam. Đây là một đề nghị hết sức hợp lý và rất hữu hiệu, nếu làm được thì việc “thoát Trung” hẳn nhiên sẽ trở thành thực tế. Nhưng đối với người cộng sản thì quả là “bất khả thi”, trừ trường hợp có ai kề dao vào cổ hoặc dí súng vào đầu họ. Làm sao một tên cướp tham lam có thể tự nguyện trả lại tài sản cho khổ chủ? Vì thế, sau khi cướp được chính quyền từ tay người dân, đảng CSVN lập tức nghĩ ngay tới việc phải làm sao bảo vệ và duy trì vô thời hạn cái quyền lực vừa cướp được, quyết tâm không nhường lại cho ai. Tham vọng đó đã được thể hiện thành điều 4 trong hiến pháp mà họ lập ra và ép buộc người dân cả nước phải chấp nhận.
Nhờ cướp được quyền lực tối thượng này mà các cán bộ CSVN mới có thể làm giàu một cách nhanh chóng. Quả thật, tổng thống của một nước giàu có như Hoa Kỳ, dù tài ba đến đâu, cũng không thể dùng quyền lực của mình để đạt được một tài sản trị giá hàng tỉ hay hàng triệu đôla một cách nhanh chóng như một bộ trưởng hay một chủ tịch UBND tỉnh ở Việt Nam. Trong một nước nghèo được xếp vào hạng gần chót trên thế giới về kinh tế như Việt Nam, làm sao những người lãnh đạo đất nước lại có thể giàu đến thế được nếu không phải do những hành động phi nhân và bất chính?
Do đó, chỉ những người chưa hiểu được bản chất của cộng sản mới có thể tin được khả năng “thoát Trung” của CSVN.
Trước nguy cơ mất nước vào tay Trung cộng, những nhà lãnh đạo đảng cũng như nhà nước CSVN đang lâm vào một thế kẹt, họ loay hoay không biết phải giải quyết cách nào để có thể vừa giữ được nước lại vừa giữ được quyền lực!? Khổ một điều là muốn giữ được nước thì phải chấp nhận từ bỏ quyền lực! Ngược lại, muốn giữ được quyền lực thì đành phải chấp nhận mất nước! Tình trạng hiện nay khó mà có được trường hợp thứ ba là vừa giữ được nước lại vừa giữ được quyền lực. Đó là điều CSVN đang loay hoay tìm cách thực hiện.
Từ bỏ quyền lực là điều mà người cộng sản không thể tự nguyện làm được. Tâm nguyện của họ đã từng nhiều lần thể hiện thành hành động là “thà mất nước chứ không thà mất đảng”. Nhưng nghĩ lại thì.… để mất nước không hẳn đã thật sự có lợi cho đảng và cho cá nhân họ vì họ sẽ mang tội với dân tộc, sẽ bị các thế hệ sau nguyền rủa hàng ngàn năm. Và một khi nước đã mất thì chưa chắc gì họ đã giữ được quyền lực. Nếu Trung cộng có hứa với họ là dù mất nước cũng sẽ để cho họ tiếp tục nắm quyền cai trị, thì lời hứa ấy làm sao tin được? Chính bản thân họ là những người từng ăn gian, nói dối, hứa lèo hứa cuội không ngượng miệng đúng như bản chất “nói dối như Vẹm” của người cộng sản, thì làm sao họ có thể tin được ông thầy đã truyền thụ chính bản chất dối trá ấy cho họ? Sự dối trá cụ thể của ông thầy vừa xảy ra trước mắt họ mới đây, là vùng chung quanh giàn khoan HD-981, tàu của Trung cộng, ông thầy họ, đã chủ động đến gây sự và tấn công tàu của Việt Nam hàng trăm lần, nhưng ông thầy ấy lại phao tin trước thế giới là tàu của Việt Nam đã đến gây hấn với tàu Trung cộng hàng mấy ngàn lần. CSVN đã dối trá có hạng, nhưng ông thầy họ còn dối trá hơn họ bội phần, thế thì những lời hứa của ông dù có “chắc như đinh đóng cột” cũng không làm sao tin cho được?
Hiện nay, CSVN chỉ còn một cách là làm sao duy trì được quyền lực càng lâu càng tốt trước khi đất nước mất vào tay Trung cộng hoặc trước khi CSVN bị người dân lật đổ. Một trong hai điều chắc chắn sẽ xảy ra, không điều này thì phải là điều kia. Điều nào sẽ xảy ra tùy thuộc rất nhiều vào mức độ dũng cảm và khôn khéo của người dân. Mọi hành động của CSVN hiện nay chỉ là để đối phó với tình trạng “tứ bề thọ địch” của mình. Một đằng là phải làm sao xoa dịu sự phẫn nộ đang ngày càng dâng cao của người dân, vì người dân càng ngày càng nhận ra bản chất bán nước của CSVN; đằng khác lại phải mềm dẻo với Trung cộng để chúng không “bật mí” những mật ước bán nước mà hai đảng Việt cộng và Trung cộng đã lén lút ký kết với nhau, đồng thời kéo dài thời gian thực hiện những mật ước ấy càng lâu càng tốt, nhất là không để xảy ra chiến tranh giữa hai nước vì chắc chắn CSVN sẽ thua một cách thảm hại.
Hiểu vấn đề như thế, chúng ta mới dễ dàng cắt nghĩa được tại sao các thành viên bộ chính trị CSVN lại có những lời nói bất nhất, khó hiểu, kẻ nói xuôi người nói ngược; tại sao ngay trong lời nói của từng thành viên bộ chính trị thì lời nói hôm sau “đá” lời nói hôm trước… Để che dấu cái “đuôi” bán nước của họ trước người dân, họ phải đóng kịch thật khéo (điều này đối với họ thật dễ, vì đóng kịch và giả bộ vốn là nghề của họ). Nhưng trớ trêu thay họ lại phải tỏ ra thật ngoan ngùy trước quan thầy bảo trợ cho tham vọng quyền lực của mình. Làm sao vừa phải giả bộ đe dọa hoặc chửi Trung cộng để lấy lòng dân, lại vừa phải công khai quỳ gối lạy lục ông quan thầy khó tính của mình!? Đó chính là lý do “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” hết sức khó hiểu trong cách phản ứng của bộ chính trị cũng như Quốc hội của đảng CSVN hiện nay!
Houston, ngày 04-07-2014
© Nguyễn Chính Kết
© Đàn Chim Việt
———————————————————————
[1] Hiện nay, số người của Trung cộng được cài vào hàng ngũ lãnh đạo CSVN chắc chắn không phải là ít. Đây là điều chắc chắn vì Trung cộng đã có âm mưu thôn tính Việt Nam từ nhiều thập niên trước (đúng như bản chất cố hữu của Hán tộc như lịch sử từng chứng minh), và các lãnh đạo CSVN đã quá ngu xuẩn khi chọn kẻ thù của dân tộc làm bạn.
[2] Xem: http://dien-hong.blogspot.com/2014/07/tu-san-o-viet-nam.html
“VN có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la.
“Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.
“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500,000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…
“Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
Trang web này còn cho biết chi tiết về giá trị tài sản trên một tỉ đô la của cá nhân 20 đảng viên CSVN cao cấp đang hoặc đã lãnh đạo đất nước.

Bài giảng Thánh lễ cầu nguyện cho Anphong Huỳnh Anh Trí



Ánh sáng xuyên màn đêm

Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR

Mấy lời của nhà thơ Hoàng Hưng, cựu tù nhân lương tâm 1982-1985 (trong vụ án “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm):
Tôi không thể im tiếng trước thảm kịch này của tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí và nhiều tù nhân lương tâm cũng như hình sự đang bị đối xử quá dã man, vô trách nhiệm trong hệ thống nhà tù Việt Nam. Tôi đã từng bị biệt giam, cùm chân ít ngày ở trại Cẩm Thủy, Thanh Hoá, cùng khu với linh mục Nguyễn Văn Lý. Nhưng nhà tù thời đó còn giữ vệ sinh tối thiểu, còn đối xử với tù nhân có chút tình người, còn có những “quản giáo” biết lẽ phải, biết ăn ở phải đạo, nên tôi không thể nào hình dung, sau 30 năm, chế độ này lại suy đồi đến mức để mặc cho bọn cai tù coi tù nhân, nhất là tù nhân lương tâm, còn kém cả con vật như thế. Tôi cảm thương vô cùng cho anh Trí, cho anh chị em tù nhân lương tâm đang chịu đọa đày, tôi căm phẫn lên án sự vô nhân đạo không thể biện minh của hệ thống cai tù và nhà tù, đi ngược lại tất cả mọi đạo lý tối thiểu mà bất cứ nhà tù nào cũng phải tôn trọng. Đây là một tội ác, là sự sỉ nhục cho chế độ, cho nhà nước Việt Nam. Tôi yêu cầu chính quyền phải mở một cuộc điều tra công khai về chế độ nhà tù, cải thiện về căn bản chế độ lao tù. Tôi tha thiết mong mỏi các nhà văn, nhà báo, luật gia có lương tâm lập ra một đoàn thanh sát độc lập nhà tù và yêu cầu Bộ Công an, nếu thực tâm muốn nghe sự thật, hãy để cho đoàn làm việc và phản ánh trung thực thực trạng nhà tù, đó là cách duy nhất để ngành Công an có thể sửa lỗi lầm và được các nạn nhân và gia đình của họ, cũng như nhân dân tha thứ.
Thư gửi BVN.
LS Lê Công Định, cựu tù nhân lương tâm
Tôi xác nhận có tình trạng sử dụng một dao lam cạo râu và hớt tóc cho rất nhiều tù nhân ở các trại tạm giam và trại cải tạo mà tôi từng trải qua. Riêng tôi, vì ngay từ đầu tôi yêu cầu dứt khoát phải có dao cạo râu riêng, nên các trại giam đồng ý cho tôi sử dụng riêng, nhưng không được giữ trong buồng giam mà phải gửi cán bộ quản giáo cất giùm. Các tù nhân khác không dám yêu cầu như tôi nên đành chấp nhận cảnh dùng dao cạo chung.
Nội quy các trại giam cấm tù nhân để râu, nhưng ở trại Chí Hoà lại cấm hẳn việc sử dụng dao cạo, nên tất cả tù nhân nam đều phải chế tạo đồ bứt râu. Nhìn cảnh ấy mà rớt nước mắt!
Tình trạng cùm dơ dính máu và thịt cũng có thật và tất cả tù nhân các trại đều kể lại đúng như vậy.
Ngoài ra, việc cấp thuốc và điều trị cho bệnh nhân rất hạn chế và không đầy đủ. Khu G trại Chí Hoà nơi tôi ở chẳng hạn, chỉ đưa tù nhân đi khám bệnh vào sáng thứ hai hàng tuần, nên ai có bệnh đều phải chờ đúng lịch mới được đi khám, bất kể bệnh nặng hay nhẹ, trừ trường hợp quá nặng phải đi cấp cứu mới được cho đi ngay.
Tình trạng y tế tồi tệ là điều đáng báo động ở các trại giam hiện nay. Quyền được bảo đảm sức khoẻ dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào suy cho cùng chính là quyền làm người sơ đẳng nhất mà mọi chính quyền phải tôn trọng.
VRNs (06.07.2014) – Sài Gòn - “Con thì đã xong rồi, nhưng còn các anh em trong tù thì sao?” Đó là câu hỏi của Huỳnh Anh Trí đặt ra với chúng tôi sau khi anh biết mình đã bị nhiễm HIV. Cái ngày mà tôi không thể quên : 28.05.2014.

Huỳnh Anh Trí sinh năm 1971 tại Sài Gòn. Đầu thập niên 90, anh Trí theo gia đình di cư sang Thái Lan. Năm 1999, anh tham gia vào tổ chức Việt Nam Tự Do tại Bangkok, một tổ chức có đường lối đấu tranh chống lại sự độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 12.1999, Huỳnh Anh Trí bị bắt cùng với người anh ruột là Huỳnh Anh Tú (sinh năm 1968) tại Sài Gòn. Anh Trí và người anh cùng bị kết án 14 năm tù giam với tội danh “khủng bố” theo điều 79 của Bộ Luật Hình Sự.
Năm 2001, Huỳnh Anh Trí bị chuyển đến giam tại nhà tù Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai). Trong thời gian bị giam giữ tại đây, anh Trí đã đấu tranh với các quản giáo và giám thị trại giam để phản đối tình trạng giam giữ vô nhân đạo đối với tù nhân, đặc biệt là các tù nhân chính trị.
Năm 2005 và 2006, Huỳnh Anh Trí cùng với các tù nhân chính trị đã gởi đơn đến Bộ trưởng Bộ Công an lúc đó là ông Lê Hồng Anh, Ban Giám thị nhà tù để phản đối quy định chỉ cho sử dụng một dao lam cạo râu, hớt tóc cho rất nhiều rất tù nhân (cả thường phạm và chính trị), điều này dẫn đến lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác cho nhiều tù nhân bị giam giữ chung. Nhất là việc sử dụng cùm không sạch, sau khi người nhiễm HIV/AIDS đã cùm bị chảy máu, cho các tù nhân chính trị và Huỳnh Anh Trí đã bị lây nhiễm.
Anh Trí kể, khi bị cùm, người tù rất sợ cùm dơ. Cùm dơ là cùm đã khóa chân người nhiễn HIV/AIDS dính đầy máu, thậm chí có cả da và ít thịt, nhưng không bao giờ được tẩy sạch. Anh Trí nói: “Tôi đã hỏi bác sĩ tuyên truyền về HIV/AIDS của Tổng cục VIII rằng khi cùm dính máu người nhiễm, rồi cùm cho tôi thì tôi có bị nhiễm không? Ông bác sĩ đó trả lời: “Tôi không biết!””.
Người tù muốn thoát cùm dơ thì phải biết điều, phải cắt phần tiền trong sổ cantin trại giam, có khi phải tới một triệu, cho người quản cùm thì mới được cùm sạch. Anh Trí bị cùm dơ trong cả một thời gian dài.
Chúng tôi hỏi, tại sao anh muốn kể lại chuyện anh bị nhiễm HIV/AIDS? Anh Trí cho biết là phải tố cáo những độc ác của nhà tù để bảo vệ những tù nhân chính trị. Ông Nguyễn Hữu Cầu cũng có mặt trong buổi nói chuyện đã bổ sung. “Tôi thấy một anh chuẩn bị cùm vào cùm dơ đã quỳ và bái lạy nhiều lần trung úy Giang để khỏi phải bị đưa chân vào đó”.
Kết quả xét nghiệm làm tại một Trung tâm y khoa ở Sài Gòn, ngày 28.05.2014 cho biết “Test HIV (test nhanh), kết quả phát hiện kháng thể HIV, đề nghị làm thêm Elisa HIV”. Kết quả xét nghiệm Elisa tại Viện Pasteur TP.HCM, ngày 29.05.2014, do thạc sĩ Lê Chí Thanh ký cho biết: Tỉ lệ tế bào TCD4 là 5.89%, trong khi bình thường phải là từ 29.5 – 41.9%. Số lượng tế bào TCD4 là 44.00/mm3, trong khi đó ngưỡng phải đạt từ 576 – 1254/mm3. Cơ thể của anh Huỳnh Anh Trí đã có nhiều bệnh cơ hội phát triển ngoài da và lao. Anh đã vào giai đoạn cuối của AIDS.
Một người em kết nghĩa đã đưa anh Trí đi làm các xét nghiệm kể: “Khi có kết quả, bác sĩ nói chuyện riêng với anh Trí. Anh Trí nói mình đã đoán biết và sẵn sàng đón nhận kết quả hôm nay. Bác sĩ ôm chầm lấy anh Trí và khóc. Ông nói họ đã dùng cách này để giết hại bao nhiêu người yêu nước”. Anh Trí kể, “bác sĩ cho tôi tiền và bảo ông sẽ cố gắng hết sức để cứu tôi. Tôi nói không sao đâu bác sĩ. Tôi chỉ lo cho các chiến hữu còn trong tù của tôi, vì khi ở trong tù, tôi đã chứng kiến 14 trường hợp tù chính trị bị nhiễm SIDA và chết”.
Anh Huỳnh Anh Tú, người anh trai cùng tội danh và bản án nói: “Những người tù chính trị chúng tôi phải giữ tư cách, không có chuyện xâm mình như các tù hình sự, nên không thể nói lây bệnh AIDS qua đó được”.
Khi được hỏi những ngày cuối cùng, anh Trí có ước mơ gì không? Cô Võ Thị Ánh Tuyết, sinh năm 1986, người yêu của anh Trí mới sáu tháng qua và cũng là người chăm sóc anh tận tình kể từ khi anh biết mình bị nhiễm AIDS. Cô nói: “Anh Trí muốn hai chúng tôi về quê chung sống, tôi hỏi ảnh, bây giờ mình làm đám cưới nha anh. Ảnh nói để anh khỏe rồi tính, chứ giờ lỡ có gì thì thiệt thòi cho em lắm”.
“Khi hay tin anh Trí bệnh, ba má chị Tuyết định lên thăm, thì anh Trí nói mình trẻ không đi thăm ông bà, để ông bà đi lên là không được. Anh dậy đi về An Giang thăm ba má vợ tương lai” – người em kết nghĩa của Trí kể.
Ông bà rất muốn con gái mình chăm sóc cho anh Trí, vì xem đây là cái phước cũng như cái nghiệp của con gái mình.
Chúng tôi hỏi, tại sao cô Tuyết là đi yêu một cựu tù nhân? Cô Tuyết lắng lại một lúc lâu rồi nói: “Anh Trí là người rất tình nghĩa”.
Khi nghe anh Trí lâm trọng bệnh, nhiều người đã quen từ lâu, và nhiều người hơn chưa hề quen biết đã hỏi thăm, cầu nguyện và giúp đỡ.
Khoảng hơn 22:00g, ngày 04.07, anh Tú và cô Tuyết thấy tình trạng sức khỏe của anh đã nguy kịch, nên đã đưa anh đến Bệnh viện Nhiệt Đới, nhưng ở đây không tiếp nhận mà chỉ qua bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Những người thân đưa anh đến Phạm Ngọc Thạch thì ở đây không nhận với lý do không có hộ khẩu. Cấp cứu mà cũng cần có hộ khẩu nữa sao? Sau đó anh Trí bị ngất, không biết gì nữa. Các bác sĩ và nhân viên y tế bệnh viện này đuổi anh và người nhà ra. Nhưng có một bác sĩ đến lay lay làm anh Trí tỉnh lại, nên họ chấp nhận đưa anh vào phòng hồi sức.
13:30g, ngày 05.07.2014, anh Huỳnh Anh Trí từ trần tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.
Anh đã ra đi, gia đình xin mang xác về để lo an táng. Đến đây thì bệnh viện không cho với lý do không có ai chứng thực được là thân nhân. Tiêu chuẩn phải để xác định thân nhân là có chung hộ khẩu. Lại hộ khẩu! Anh Tú và anh Trí khi ra tù đến nhà người chị là chị Đào xin nhập hộ khẩu thì công an gây khó khăn, suốt từ cuối năm 2013 đến nay vẫn chưa có hộ khẩu thì lấy đâu ra cùng tên trong hộ khẩu để xác nhận thân nhân.

Cách thứ hai là về công an địa phương xác nhận anh Trí là thân nhân chị Đào. Chiều thứ bảy không tìm được công an, mà gia đình cũng cho rằng công an đã tìm cớ không làm hộ khẩu thì họ cũng tìm cớ không xác nhận. Thế là không còn cách nào để xác nhận người ruột thịt với anh Huỳnh Anh Trí để lãnh xác về.
Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu có mặt ngay sau khi anh Trí mất cho biết, “có mấy người cò mồi cứ đi theo hỏi hoài rằng có muốn lo không, họ sẽ lo từ A tới Z cho”. Theo ông Cầu đây là việc làm có phân công tổ chức, chứ không chỉ là một việc làm kiếm tiền của những người ăn bám vào xác chết. Ông kể: “Một người đang nói thì có một bà mặc quần lửng bước tới nói, hôm nay thứ bảy là ngày lẻ, đâu phải của tụi bay đâu mà nói. Tức thì người kia bỏ đi”.
Chúng tôi vào cùng với anh Tú để thuyết phục cô điều dưỡng trưởng tên Hương rằng anh Tú và anh Trí cùng ra tù, và trên giấy quyết định ra tù có ghi rõ tên cha mẹ của hai người giống nhau, nên chắc chắn hai người này là ruột thịt, nên xin cho anh Tú lãnh xác. Cô Hương trả lời: “Anh này cũng không có hộ khẩu thì làm sao, chúng tôi phải nắm người có tóc”. Giải thích và thuyết phục khá lâu, nhưng cô điều dưỡng trưởng tên Hương vẫn cứ nói rằng “Chúng tôi không thể làm sai nguyên tắc”.
Sau đó chúng tôi yêu cầu gặp trực lãnh đạo của bệnh viện, cô gọi một bác sĩ xuống, có lẽ là bác sĩ phó khoa, ông này cũng xuôi theo cô điều dưỡng. Khi chị Đào mang giấy khai sanh của chị và anh Trí ra, thì ông bác sĩ này mới gọi điện thoại xin ý kiến lãnh đạo, và cuối cùng đã đồng ý cho nhận xác về.
Các linh mục DCCT, các nhân viên truyền thông VRNs, cộng tác viên phòng Công lý Hòa bình, và anh em Con đường Việt Nam cùng vài tù nhân lương tâm có mặt để tẩn liệm cho anh ngay tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch lúc 18:00. Sau đó thi hài anh Trí được đưa về quàn tại nhà nguyện xóm 2 thuộc giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trên đường Hoàng Sa, gần ngã tư Rành Bùng Binh.
Bóng tối không che được ánh sáng, cũng chẳng làm mờ mắt người có ánh sáng trong con tim và cộng đồng như anh Huỳnh Anh Trí.
L. N. T.
http://www.boxitvn.net/bai/27835

Vĩnh biệt Tô Hoài

Một trong vài gương mặt văn học trước 1945 còn sót lại mà bút lực còn sung sức đến mãi sau này, nhà văn Tô Hoài, vừa vĩnh biệt chúng ta.

Tô Hoài sớm nổi tiếng với Dế mèn phiêu lưu ký, lấp lánh ý tưởng một thế giới chung tay đẩy lui thảm họa chiến tranh, chung sống hòa bình, giữa lúc Thế chiến II đang hồi ác liệt nhất (1941-1943). Cho đến nay cuốn sách có lẽ đã hút được hàng triệu trái tim con trẻ. Văn xuôi trước 1945 của ông kết đọng nhiều vỉa quặng quý về một mảng sinh hoạt riêng – phong tục tập quán, lối sống, giao tiếp, ngôn ngữ… –  của người dân Hà Nội, nhất là người dân ngoại thành mạn Nghĩa Đô, nơi ông sinh sống, trong buổi giao thời, khi văn minh phương Tây đang bắt đầu lan đến, phá vỡ dần nề nếp cổ truyền.
Là nhà văn tham gia cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám, nhiều thập kỷ được rèn giũa kỹ năng viết “định hướng”, được mài xát bằng vô số cuộc chỉnh huấn tư tưởng, nhưng Tô Hoài vẫn không bị cùn mòn trong tư duy nghệ thật. Những năm hòa bình sau Hiệp định Genève, luồng gió tự do tư tưởng của Nhân văn Giai phẩm đã gián tiếp thổi qua tâm trí ông, giúp ông sáng tác được truyện dài Mười năm(1958), để sau đó bị trả giá bằng những bài phê bình gay gắt. Sau thời Đổi mới, ông cho ra liên tiếp ba cuốn truyện ký làm chấn động dư luận: Cát bụi chân aiChiều chiềuBa người khác đưa lại một cách nhìn “phản tỉnh” về những năm tháng cay nghiệt của một miền Bắc thực hiện chuyên chính theo đường lối vô sản, cải cách ruộng đất ở nông thôn và “cải tạo tư tưởng tiểu tư sản” trong hàng ngũ trí thức, nhà văn. Bút pháp hồi tưởng nửa thực nửa hư, trữ tình xen trào lộng, hiện thực giễu nhại cùng song hành… đã tạo nên trong tâm thế người tiếp nhận một cảm hứng bột khởi, bùng vỡ bức xúc, nhưng không đổ vỡ mà lấy lại được sự thăng bằng. Có thể nói Tô Hoài đã chuộc lại sự thanh thản, thiện lương cho chính mình và cho bạn đọc.
Tô Hoài mất đi là một sự mất mát lớn cho văn đàn dân tộc. Bauxite Việt Nam  xin kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Ông và cầu mong Ông thảnh thơi nơi Cực lạc.
Bauxite Việt Nam 

Nếu không đi vắng thì người thay mặt Bauxite Việt Nam viết lời vĩnh biệt nhà văn Tô Hoài chắc chắn phải là nhà nghiên cứu chững chạc Nguyễn Huệ Chi.
Huệ Chi đi vắng, anh nhắn giao việc này cho tôi, và thế là cái thân phận bé tí của tôi đành đảm đương công việc bày tỏ nỗi tiếc thương cùng những tình cảm khó nói thành lời.
Xin bạn đừng trách tôi hình như đang không được nghiêm trang cho lắm. Không, tôi đang rất nhớ thương Tô Hoài. Chín mươi nhăm tuổi, giải thưởng văn chương cao quý nhất, lớn bé cả trăm tác phẩm gửi lại cho đời, thế là đủ rồi, phải không nhỉ? Là một nhà văn, ai nào cần thêm chút vinh quang nữa?
Từ nhỏ, thế hệ tôi (sinh đầu những năm 1930), đã có Tô Hoài làm bầu bạn. Tô Hoài lúc đó xa xôi cách biệt lắm. Nhưng chúng tôi vẫn đã có Tô Hoài. Lớn lên, đi kháng chiến, khi “Ở rừng”, vẫn được đọc Nam Cao và Tô Hoài, những thần tượng của mình.
Những chuyện về nhân vật A Phủ, về “miền Tây”, về “Tây Bắc” có hơi khiến thế hệ chúng tôi có đôi chút nghi ngờ về học thuyết “hiện thực xã hội chủ nghĩa”, hoặc là hồ nghi về tính trung thực của một nhà văn. Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam, có những lý do khiến chúng tôi phần nào ít gần gụi Tô Hoài…
Cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, công việc nghiên cứu dạy Văn cho học sinh khiến riêng tôi nhiều khi phải dằn vặt vì Tô Hoài. Nhiều lần, các bạn trong nhóm chọn đưa cho tôi những trích đoạn Tô Hoài, và tôi khéo léo bảo các bạn hãy chờ chút chút.
Cuối cùng, vào mùa hè năm 1982, chính tôi ngồi đọc lại toàn bộ Tô Hoài. Và rồi tôi quyết định chọn hai tác phẩm nghĩ rằng đó là những công trình của muôn đời. Tôi đã chọn Nhà nghèo và trích đoạn Dế Mèn làm tài liệu cho các em học sinh trường tiểu học thực nghiệm – lấy đó làm những “gợi ý”, làm những cái “mồi”, làm những cái “cớ”, để học sinh tiểu học tự mình đánh thức những xúc động mỹ cảm đang nằm ngủ trong lòng các em.
Tôi dừng lại đó, và vẫn nhất quyết không “đụng” đến những anh A Phủ, những em Mỵ, những cụ thống lý Pa Tra… Cho đến khi Tô Hoài cho ra mắt “Chuyện ba người khác”. Bữa đó, tại cuộc Hội thảo ở Viện Văn học, tôi đã nói với Tô Hoài “xin vái anh một vái”, nói gần được tất cả những tình cảm cô đọng của mình. Tô Hoài đã về già, nhưng Tô Hoài vẫn trẻ trung, vẫn còn đó trong một con người nhà văn đích thực – con người thủng thẳng nói se sẽ những chân lý to lớn thuộc thân phận con người.
Những năm cuối đời cả của Tô Hoài và của tôi (Tô Hoài tuổi Dần mất năm nay ở tuổi 95, còn mấy con Nhâm Thân chúng tôi năm nay đang loi thoi trên tám chục), tuy vẫn hết lòng yêu Tô Hoài, song chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Nhưng vào đầu năm 2011, trong khi chờ Tết đến, tôi đã lẩn mẩn viết vở kịch cho trẻ em tiểu học,Chuyện Dế Mèn, với tâm niệm rằng, trái đất này có thể xoay tới đâu thì cứ xoay, song Dế Mèn của Tô Hoài thì vĩnh viễn không thay đổi trong lòng bạn đọc đủ lứa tuổi.
Vở Dế Mèn đã được trình diễn vào tháng 11 năm 2011 tại trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội (nhóm kich học sinh trường Nguyễn Văn Huyên), và còn được diễn lần nữa nhân dịp Ngày Hội Sách 2014 bởi học sinh lớp 5 trường Olympia. Trong cả hai dịp, các em học sinh đều không diễn được đoạn tôi viết về nhân vật Cụ Tô Hoài – con người tôi những ước ao đưa lên sân khấu với những nét tinh nghịch, tươi vui, một nhà văn của người lớn và của trẻ em (vì người lớn nào thì cũng có thời là trẻ em – Saint-Ex đã nói thế)…
Và hôm nay thì người đã đi rồi, Tô Hoài ơi. Vĩnh biệt anh, người được yêu nhiều hơn là bị chê trách, người được kính trọng nhiều hơn là bị ngờ vực… Ai ai thì rồi cũng vậy cả thôi. Một cuộc đời khép lại. Những công việc chính mình đã đem lại cho đời mới là phần quan trọng. Không ai đo được những đóng góp đến đâu của một người như Tô Hoài. Mọi kể lể đều vô ích, đều vô lý.
Chỉ tiếc… Tiếc gì? Chín mươi lăm tuổi, tiếc gì nữa? Tiếc không còn thêm thời giờ để có những… Làm sao còn có được những hừng hực Dế Mèn, Giăng thề, Nhà nghèo… Làm sao còn có được những thâm trầm củaCát bụi chân ai, của những Chiều chiều… và của những Ba người khác …
Không tiếc nữa. Tô Hoài, anh đóng góp thế là quá nhiều rồi. Chúng tôi nhớ anh – chúng tôi, những người từng là trẻ em, những người mãi mãi là bạn cùa Dế Mèn.
Vĩnh biệt,
Phạm Toàn
http://www.boxitvn.net/bai/27821

Bàn về “Thoát Trung”

 | 

Bàn về “Thoát Trung”

Ho va mao
Từ khi Trung cộng hạ đặt giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa VN thì như một phản ứng tự vệ mang tính truyền thống người Việt đã gác chuyện làm ăn, chuyện bóng đá, chuyện trên trời dưới biển lại để dành một chút quan tâm đến “đại cục”.

Những cuộc biểu tình đã diễn ra ở Saigon – Hà nội và một số tỉnh thành khác tuy cũng eo sèo như những buổi chợ chiều vẫn bị đàn áp dã man vì nhà cầm quyền CSVN rất nhạy cảm với bất cứ một thách thức nào đối với quyền lực tuyệt đối của họ. Như vậy là Ban tuyên giáo Trung ương đã âm thầm vào cuộc “định hướng” lòng dân, và một “trào lưu” mới xuất hiện nó mang tính thời sự và cả tính thời thượng nữa.
Giới gọi là “tinh hoa” của đất nước được đảng bí mật chỉ đạo tổ chức Hội thảo về đề tài “Thoát Trung”…và mặc nhiên mọi người coi “Thoát Trung” như là một giải pháp để cứu nguy đất nước hiện nay.
Giới tinh hoa được đảng nuôi dưỡng cố tình lèo lái dư luận, đặt vấn đề “thoát Trung” dưới góc độ kinh tế và văn hóa nặng hơn góc độ chính trị và quân sự.
Tôi không phải là thành phần được đảng CSVN xếp vào hạng “tinh hoa” của đất nước, tôi biết mình chỉ là một người áo vải nặng lòng với quốc gia dân tộc xin được đưa ra một vài nhận định.
Văn hóa Trung hoa trong đó có tư tưởng Khổng Nho có một đóng góp vô cùng to lớn trong sự hình thành nên nền văn hóa của các nước như Việt nam, Hàn quốc và Nhật bản và cái ảnh hưởng của nó không phải là tuyệt đối xấu, không phải là nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc của Việt nam với Trung quốc hay nô lệ hóa tầng lớp lãnh đạo đảng CS hiện nay.
Chỉ cần thoáng nhìn qua lịch sử VN thì bất cứ ai cũng nhận ra điều đó: những vị anh hùng dân tộc như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ …v v.. đều sinh ra và trưởng thành trong môi trường Khổng Nho nhưng có ai trong các vị đó chịu khom lưng làm nô lệ cho Trung quốc ?…không ai cả…
truong-tan-sang2
Bước qua thế kỷ thứ 20 khi VN còn là thuộc địa của Pháp và cho đến khi nhà nước Quốc gia Việt nam hình thành ở Miền nam thì những vị như Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Nguyễn tường Tam đều xuất thân từ môi trường Khổng Nho nhưng trong các vị ấy ai là kẻ vong thân , vong bản ?… Không ai cả…

Đến thời Công hòa, một số các nhà lãnh đạo đất nước như Cụ Ngô Đình Diệm , Ngô Đình Nhu, Trần văn Hương, Phan khắc Sửu …đều ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng Nho nhưng ai trong số họ phụ thuộc tư tưởng Trung hoa, nô lệ Trung hoa?…không ai cả…!
Đặc biệt Tổng thống Ngô Đình Diệm là một nhân sĩ có phong thái của một nhà Nho điển hình, xuất thân từ gia đình Nho giáo nhưng những điều này đâu có ngăn cản cụ trở thành một nhà ái quốc vĩ đại ?
Điều này minh chứng văn hóa Khổng Nho không nhất thiết tạo nên những con người nô lệ về tư tưởng và độc tài trong chính trị.
Và ngược lại tại Trung quốc vào thập niên 60 thế kỷ 20, Mao trạch Đông và đảng CS Trung quốc đã làm một cuộc “cách mạng” để loại bỏ tư tưởng Khổng Nho ra khỏi đời sống và xã hội Trung hoa thời đó, nhưng sự bài xich tư tưởng Khổng Nho của đảng CS Trung quốc không giúp hình thành nên một nhà nước dân chủ.
Tại VN sau năm 1975 nhà nước CS cũng một thời bài xích văn hóa Khổng Nho khốc liệt nhưng đến hôm nay CSVN cũng chỉ là một “cậu học trò nhỏ” của Mao Trạch Đông và đảng CS Trung hoa.
Hiện nay Trung quốc hiện nguyên hình là một hiểm họa của các nước trong khu vực và trong tương lai là của cả thế giới, nhưng hiểm họa này không xuất phát từ “sức mạnh mềm” cho dù đảng CS Trung quốc có nhiều nổ lực xuất cảng tư tưởng Khổng Nho ra khắp thế giới, mà nó đến từ “sức mạnh cứng” , tức là sức mạnh hùng hậu của quân đội Trung cộng và khả năng hủy diệt của nó.
Trong khu vực Đông nam Á, Philipine và Mã lai là hai nước bị Trung cộng đe dọa ở mức độ khác nhau nhưng cả hai nước này không hề bị ảnh hưởng văn hóa Khổng Nho trong lịch sử cũng như hiện tại.
Ngược lại Nhât bản và Hàn quốc là hai nước “đồng văn đồng chủng” với Trung hoa nhưng họ không hề lệ thuộc Trung hoa về chính trị và giới lãnh đạo của họ cũng không phải là nô lệ của Trung hoa như lãnh đạo VN.
Sự “đồng văn đồng chủng” với Trung hoa không ngăn cản Nhật bản và Hàn quốc trở thành hai nhà nước dân chủ hiện đại bậc nhất khu vực Á châu… và với họ không hề đặt ra vấn đề “thoát Trung”.
Cho nên để tìm ra một giải pháp cứu nguy đất nước vô cùng cấp bách ngày hôm nay mà lại đặt ra vấn đề làm thế nào để “thoát Trung” thì thật là ấu trĩ.. đây chỉ là một trò chơi của đảng CSVN mục đích là để đánh lạc hướng dư luận hoặc để giảm nhiệt cho xã hội VN đầy bất mãn nhưng chưa dám thể hiện, lòng dân như một hỏa diệm sơn đang âm ỉ chỉ chờ thời cơ.
Người dân VN ngày hôm nay bị sự sợ hãi chế ngự đến mất cả bản năng tự vệ, một số người khá lớn bị “thực vật hóa” lúc nào không hay biết. Hệ lụy này không xuất phát từ nền văn hóa Khổng Nho mà là kết quả của một thời gian quá dài bị khủng bố, đàn áp từ một chế độ độc tài tàn bạo nhất trong lịch sử loài người và dân tộc.
Không chỉ người dân VN bị sự sợ hãi làm cho “mụ mẫm” mà chính người dân Trung hoa, Bắc Triều Tiên và Cu ba cũng đều như vậy.
Cho nên theo tôi để cứu nguy đất nước VN ngày hôm nay trước tham vọng bá quyền đại Hán là vấn đề thuần túy mang tính quân sự, vì trong cuộc đấu tranh để bảo vệ chủ quyền của các nước trong khu vực với một Trung cộng hùng mạnh là sự đối đầu về tương quan lực lượng và kẻ yếu sẽ bị thua bất chấp lẽ phải và chính nghĩa thuộc về họ. Chính nghĩa ngày hôm nay và đối với Trung cộng không nhất thiết bảo vệ được các dân tộc nhược tiểu.
Để bảo vệ đất nước trong cục diện này chúng ta phải thay đổi học thuyết quốc phòng, từ bỏ chủ trương không liên kết đã trở thành không tưởng để đứng trong một liên minh quân sự, trong trường hợp này là đứng trong một liên minh quân sự do Mỹ lãnh đạo, biết khai dụng vị thế chiến lược của VN trong ván bài tranh chấp quyền lực giữa các nước lớn.
Xét tương quan lực lượng giữa Việt nam và Trung cộng chênh lệch quá lớn cho nên sẽ là khôi hài và ấu trĩ nếu CSVN chủ trương không liên kết mà đơn độc đối đầu với Trung cộng để bảo vệ đất nước.
Câu hỏi đặt ra ở đây là với chủ trương không liên kết CSVN có thể thắng được TC và bảo vệ được đất nước không?
Ai cũng biết là không thể được, vậy CSVN chủ trương không liên kết với dụng ý gì?
Điều này buộc lòng chúng ta phải đặt nghi vấn về thái độ và cách hành xử của CSVN, về khả năng VC đã âm thầm bán đứng đất nước này cho Trung cộng để giữ được quyền lực , chấp nhận làm thân phận nô tài.
Còn để được đứng vào liên minh quân sự với Hoa kỳ bắt buộc VN phải thay đổi hệ thống chính trị từ độc tài sang dân chủ vì Mỹ không có tiền lệ liên minh quân sự với một nhà nước cộng sản, cho nên người VN hôm nay cần phải nhận thức một cách rõ ràng rằng giải trừ chế độ cộng sản sẽ mở ra cơ hội cho đất nước chúng ta tồn tại..cho nên nếu đặt ra vấn đề gọi là “thoát Trung” thì phải được hiểu là thoát khỏi quỹ đạo của TC về chính trị và quân sự,. Hủy bỏ ý thức hệ Cộng sản đã trói buộc đất nước và một mối liên kết quân sự không chính thức với Trung cộng của nhà cầm quyền CSVN.
Cục diện chính trị Đông Á giai đoạn này lên đến đỉnh điểm của sự gay gắt, quyền lợi chiến lược của các nước lớn liên quan như Trung- Mỹ, Nhật , Úc đứng trước nguy cơ va chạm mà khả năng thỏa hiệp không thể hình thành. Đất nước chúng ta đang ở trong vòng xoáy tranh chấp đó, đây là một nguy cơ cũng một một thời cơ tùy vào thái độ và cách lựa chọn của chúng ta, nhưng thời cuộc không cho phép dân tộc chúng ta bình chân như vại , không nắm lấy cơ hội hậu quả sẽ khó lường.
Việc xây dựng một chế độ dân chủ là một tiến trình cần nhiều thời gian nhưng chỉ có thể thực hiện được nếu chúng ta bảo tồn được đất nước.
Chung quanh câu chuyện “thoát Trung” ngày hôm nay cũng có ý kiến là kinh tế VN quá lệ thuộc vào kinh tế Trung cộng nên muốn thoát Trung cũng không dể ! Đây là một lý do được đưa ra để biện hộ cho một chính sách vừa nhu nhược vừa ngớ ngẫn của nhà cầm quyền CSVN.
Sự lệ thuộc của nền kinh tế VN “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là một thực tế, nhưng đây chính là thủ đoạn của hai đảng CS Việt nam và Trung hoa, lệ thuộc kinh tế chỉ là phần nổi của tảng băng, phần chìm chính là lệ thuộc chính trị, bởi đảng CSVN đặt sự tồn tại của đảng và chế độ lên trên mọi ưu tiên khác kể cả vận mệnh quốc gia. Với một não trạng của nhà cầm quyền như vậy thì nói chuyện thoát Trung chỉ là viễn vông.
Có ý kiến khác cho rằng nếu chúng ta quyết liệt và không “khôn khéo” trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và danh dự dân tộc sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh với Trung cộng mà “nhân dân VN” thì đã quá chán ngán chiến tranh rồi.
Điều này không loại trừ nhưng cúi đầu nhịn nhục như đảng CSVN đang làm không phải là thượng sách vì có một thực tế là chúng ta không có đủ lãnh thổ lãnh hải để nhường cho TC và làm cho họ vừa long.
Thủ tướng Anh Winston Churchill nói: “Một dân tộc tránh né chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã, cuối cùng sẽ nhận được cả nhục nhã và chiến tranh”.
Nhưng chiến tranh là một việc vô cùng hệ trọng ở đó có một quy luật lạnh lùng: mạnh được- yếu thua. Cho nên chúng ta phải tiến hành chiến tranh nếu bị bắt buộc nhưng tiến hành chiến tranh trong sự khôn ngoan đó là liên minh với các quốc gia dân chủ vì Trung cộng ngày hôm nay đã trở thành hiểm họa của cả khu vực và thế giới.
Còn một khả năng nữa nếu chúng ta liên minh với các quốc gia dân chủ để khép chặt “vòng kim cô” chung quanh Trung cộng cũng là một cách để tránh chiến tranh vì khi bị bao vây TC sẽ ý thức được rằng khai chiến là tự sát.
Kết luận: Vấn đề cấp bách mang tính sống còn của đất nước và dân tộc VN ngày hôm nay không phải là vấn đề “thoát Trung” mà là vấn đề “thoát cộng”. Thoát cộng để dân chủ hóa đất nước, để hội nhập cùng thế giới văn minh phá thế cô lập , thoát Cộng để chuyển hướng triệt để học thuyết quốc phòng và chính trị, “thoát cộng” thì sống, không thoát cộng thì chết.
01/7/2014
© Huỳnh ngọc Tuấn
© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/88655/ban-ve-thoat-trung/2014/07

Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc

Lê Phú Khải

Ba năm trước đây, ngày 20/07/2011, Bauxite Việt Nam đã đăng bài sau đây của nhà báo Lê Phú Khải. Nay chúng tôi đăng lại, là để nói rằng: với sự ra đời của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, lời ai điếu mà nhà báo Lê Phú Khải muốn dành cho một nền báo chí nô bộc, nay đã trở thành hiện thực. Có thể nói chắc rằng xã hội dân sự đã hình thành ở Việt Nam và tuy đang ở chặng đường đầu tiên, nhất định nó sẽ ngày càng lớn mạnh. Đó là lôgic của cuộc sống. Và khi đã là lôgic thì nó cứ lừng lững đi tới, không có một sức mạnh nào cản được.
Bauxite Việt Nam
Tháng 7-2007. Những cơn mưa tầm tã vào lúc chập tối kéo dài tới khuya khiến nhiều đêm tôi không sao chợp mắt được. Hàng trăm nông dân từ các tỉnh miền Tây kéo lên biểu tình tại TP HCM đêm nay làm gì dưới những cơn mưa tầm tả kéo dài đó? Đã cả tháng, đồng bào kéo nhau lên Văn phòng Quốc hội 2 tại đường Hoàng Văn Thụ TP HCM để đòi lại ruộng đất bị mất trắng, bị giải tỏa mà đền bù không thỏa đáng… Băng rôn, biểu ngữ, cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu viết trên giấy dán lên áo, ảnh Chủ tịch Hồ Chí minh… đỏ rực cả dãy phố vòng từ đường Hoàng Văn Thụ sang đường Hồ Văn Huê. Đọc những khẩu hiệu trên băng rôn không khỏi thấy đau lòng: “Thủ Tướng ơi… cứu lấy dân!”, “Đả đảo chính quyền tỉnh X… dối Đảng lừa dân”, có khẩu hiệu còn trích cả lời ông Thứ trưởng Đặng Hùng Võ viết trên báo lề phải: “Tham nhũng ruộng đất là tham nhũng xương máu của dân”… Dưới những khẩu hiệu đó là những gương mặt đen xạm, hốc hác, quắt queo, những hốc mắt sâu hoắm, buồn tủi và căm giận trôi dạt, lan tỏa từ những hốc mắt đó…

Trên đường phố, những chiếc xe hơi bóng loáng, những chiếc xe hai bánh đời mới chở những cặp đùi nõn nà lướt qua, phảng phất mùi nước hoa ngược gió bay lại, phả vào những gương mặt dúm dó đang trương ảnh Bác Hồ! Có ai đó nghĩ hộ những người nông dân mất đất kia rằng, ruộng đất bị cướp giật của họ đã biến thành những chiếc xe bốn bánh, hai bánh bóng loáng kia, từ công cuộc “đổi mới” do Đảng cầm quyền phát động và lãnh đạo (!).
Cũng có những bà con dân phố nghĩ đến đồng bào đi biểu tình rời quê lên đây cả tháng trời, màn trời chiếu đất, đói khát nên đến tiếp nước, tiếp thức ăn cho họ. Có người khôn ngoan hơn, đã gọi một thanh niên chở sau xe đạp sọt bánh mì đầy, trả tiền hết cả sọt bánh… rồi nhờ anh ta chở vào đám biểu tình phát cho bà con. Anh thanh niên này đã bị những người mặc thường phục bất thần xông ra đánh túi bụi, trào cả máu mồm máu mũi lên những chiếc bánh mì anh đang phân phát…
Tôi có đủ kinh nghiệm của một người viết phóng sự điều tra về tranh chấp ruộng đất ở Đồng Bằng sông Cửu Long những năm cuối thập kỷ 80, nên hiểu rõ những ai sẽ có mặt ở những cuộc biểu tình! Những người quay phim chụp ảnh mặc thường phục nhan nhản ở đường Hoàng Văn Thụ lúc này. Nhưng hễ có một “con nai vàng ngơ ngác” nào đó giơ máy chụp hình lên thì lập tức bị cướp máy ngay, bị kéo về đồn công an ngay! Cả tháng rồi, hàng trăm người biểu tình với cờ quạt rợp trời, căng lều, căng bạt, trải ny lông nằm la liệt tại một ngã ba sầm uất ở trung tâm thành phố… Vậy mà, cả trăm tờ báo, của một thành phố được xem là cái nôi của báo chí Việt Nam, thậm chí tờ báo Tuổi trẻ ở ngay liền đó… vẫn im khe! Các đồng nghiệp của tôi vẫn ung dung ngồi trong phòng máy lạnh như không có gì xảy ra. Thậm chí, có báo còn đăng ảnh một cuộc biểu tình ở một nước Mỹ La-tinh xa xôi nào đó! Một số không nhỏ các đồng nghiệp của tôi đang bận rộn đến quay phim chụp ảnh, đưa tin về một công trình nào đó mới khởi công để nhận những bao thư “nặng túi”! Các “bậc thầy” báo chí, các nhà báo lão thành lúc này vẫn đang được các trường tuyên huấn, các lớp đại học báo chí mời đến giảng bài, các đài truyền hình mời lên tivi… và các vị đó đang lớn tiếng: Nhà báo phải bám sát cuộc sống, phải trung thực, nhân dân cần được thông tin và có quyền được thông tin đầy đủ như luật báo chí đã ban hành, vân vân và vân vân. Tôi không ngờ các nhà báo lão thành mà xưa nay tôi từng ngưỡng mộ lại có thể vô cảm đến thế, dối trá đến thế, hèn hạ đến thế!
Đừng có ai nghĩ rằng nhà báo bây giờ còn nghèo như một câu “ngạn ngữ” thời bao cấp: “Nhà văn, nhà báo, nhà giáo… cộng lại thành nhà nghèo!”. Không ít các đồng nghiệp của tôi như con cáo già đang ngồi co mình ở các tòa soạn, nhưng chỉ một tin tức lộ ra ở đâu đó, xí nghiệp này, công ty kia có chuyện tiêu cực, tham nhũng, được nội bộ tố giác… là họ lao tới gặp lãnh đạo đơn vị, chí ít thì xin cái quảng cáo vài chục triệu để hưởng phần trăm (thường là 2-30%), nếu nắm đầy đủ chứng cứ tư liệu rồi, thì họ ra giá, tống tiền lãnh đạo đơn vị. Những lần “đánh quả” như thế, họ có cả trăm triệu. Có vị Viện trưởng một viện khoa học lớn ở TP HCM than phiền với tôi: Mỗi lần có cuộc triệu tập ra Hà Nội họp hành gì đó thì một nhà báo của một cơ quan báo chí lớn bậc nhất của nước ta, đều đến xin Viện trưởng một cái vé máy bay để đi họp! Không cho thì sẽ bị moi móc, trả thù… Mà cho thì khó coi quá!
Tôi còn biết ở Cần Thơ có một ông cũng thường trú như thế, mỗi lần đi họp ở Hà Nội còn đi nhiều cơ quan, xuống cả các huyện để mỗi huyện “xin một cái vé máy bay” như thế! Đến nổi người ta gọi ông “nhà báo cá rồ”. Nghe đâu giờ ông ta có cả đồn điền trên Tây Nguyên để… dưỡng già!
Có lần tôi đang đi chiếc xe cúp cà tàng trên đường phố, bỗng bị một chiếc xe phân khối lớn ép vào vỉa hè. Hoảng quá, tôi tưởng mình bị cướp! (Mà kẻ cướp nào lại thèm nhắm vào chiếc xe khốn khổ của tôi?). Lúc bình tĩnh được thì nhận ra một đồng nghiệp trẻ. Anh này là con trai một vị Giám đốc đài phát thanh và truyền hình lớn ở miền Trung. Anh ta tốt nghiệp ngành báo chí, nhưng vì người cha là một cán bộ cách mạng lão thành, liêm chính, không chấp nhận xin xỏ và hối lộ để con được làm việc ở một cơ quan báo chí ở TP HCM… anh ta phải đi làm cộng tác viên cho các báo ở thành phố. Quý mến người bạn trẻ này, nhiều lần tôi đi công tác ở Đồng bằng sông Cửu long có xe hơi đưa đi, tôi thường kêu anh đi cùng để có cơ hội hành nghề, kiếm sống ở cái thành phố ồn ào này. Nào ngờ hôm ấy anh là người ép xe tôi vào lề đường! Anh ta ôm lấy bờ vai gầy guộc của tôi cười nói: Bây giờ em khá rồi! Liếc nhìn chiếc xe phân khối lớn của anh, tôi tin là anh ta nói thật. Tôi hỏi: – Làm gì mà khá? Trả lời: – Chạy quảng cáo cho các báo! Nói rồi, anh ta dúi bao thuốc ba số (555) đã hút dở vào túi áo tôi, bằng một giọng rất tự tin, nói: – Một nhà báo như bác thì không thể đi chiếc xe thế này được. Tết này bác đi với em, đến các cơ quan, xí nghiệp, công ty… mà bác quen biết, không cần bác nói gì cả, chỉ cần bác đi cùng em đến đó thăm hỏi lãnh đạo, thế là đủ… Sau Tết em sẽ đổi xe cho bác… Tôi cảm ơn người bạn trẻ có lòng tốt với tôi, nhưng không dám nhận lời! Tôi buồn mất mấy ngày sau đó. Vừa thương một đồng nghiệp trẻ, ban đầu rất hăng hái, say sưa với nghề báo… nhưng không được cuộc đời tiếp nhận, phải bỏ nghề. Lại thấy thật khôi hài cho cái thằng tôi! Đi cái xe tàn tã nhất Sài Gòn hoa lệ, có khi khởi động đến toát mồ hôi mà xe không nổ máy. Chính cái xe này, có lần tôi đến họp báo ở “Nhà hàng nổi” trên sông Sài Gòn (nay không còn nữa), lúc dắt xe vô, người bảo vệ đã quát: – Đến giờ này mà chưa chở đá đến cho người ta! May quá, ông Ca Lê Thuần, Giám đốc Sở Văn hóa lúc đó, người chủ trì họp báo đã chạy lại nói: Mời anh PK vào, mọi người đã đến đông đủ (hôm đó xe tôi cũng không nổ được máy!). Giám đốc Thuần đã cứu tôi một bàn thua trông thấy trước anh bảo vệ to lớn!
Nhưng câu chuyện trên không “đau” bằng một lần, chúng tôi, các nhà báo thường trú của TW và TP HCM đến dự lễ khánh thành một công trình được tài trợ nước ngoài của Hội người mù TP HCM. Sau lễ khánh thành, ông Chủ tịch Hội người mù thành phố là một người đàn ông rất đẹp trai, nói tiếng Anh với khách quốc tế rất lưu loát, đã cầm một tệp phong bì phát cho từng nhà báo, mỗi lần phát cho một phóng viên, ông ta có lời cảm ơn rất lịch thiệp. Nhìn một người mù tay run run phát “bao thư” cho các nhà báo sáng mắt, tôi thấy trái tim mình như đang rỉ máu! Đến phần tôi, tôi phải kéo ông Chủ tịch lại một góc và nói nhỏ vào tai ông: Tôi đến đây tay không là đã thấy băn khoăn lắm rồi, nhận quà của người mù nữa thì còn gì để nói…
Tôi có “phản bội” các đồng nghiệp của tôi không?! Xin các nhà đạo đức học trên cõi đời này cho ý kiến!?
Chuyện đồng bào miền Tây lên thành phố biểu tình đòi đất năm 2007 mà tôi đã nói ở trên phải được nói thêm là, tôi đã trà trộn vào đám biểu tình, hỏi và nghe được nhiều điều bổ ích về các nguyên nhân đi khiếu kiện ruộng đất. Có bà mất ruộng vì Chủ tịch xã cướp ruộng của bà cho vợ bé của ông ta. Có nhiều nguyên nhân đi đòi đất mà tính chất, nội dung của việc đi đòi đất rất… Nam Bộ! Đó là trường hợp bà cụ có 15 công ruộng (mỗi công 1000 m2). Năm 1980 vô tập đoàn sản xuất, thực hiện lời kêu gọi của Đảng “nhường cơm xẻ áo”, cụ đã hiến 11 công đất, chỉ còn được giữ lại 4 công do nhà có bốn nhân khẩu. Những công đất đã hiến cho các hộ tiếp tục mần ruộng thì bà cụ không đòi. Duy chỉ có một hộ, nhận ruộng của bà, nhưng lại cho thuê “sổ đỏ” sở hữu ruộng, lấy tiền đi chơi đề, thì bà nhất định đi thưa kiện để đòi lại. Lý do của bà cụ chỉ đơn giản vậy thôi. Theo cụ thì ruộng đất của ông bà để lại cho con cháu là để mần ăn. Đem ruộng của ông bà “nhường” cho kẻ chỉ quanh năm rong chơi, cờ bạc là trái đạo lý ông bà. Tôi bàng hoàng khi nhận ra “cái đạo lý ông bà” của người nông dân Nam Bộ cao hơn hẳn cái nền chính trị hoang đường mà các đảng Cộng sản trên thế giới đã áp đặt cho dân tộc của họ, trong đó có Việt Nam. Không phải ai cũng yêu quý ruộng đất mà đem cào bằng ruộng đất để đi tìm sự công bằng! Nhà văn Dương Thu Hương đã gọi cái sự thắng thế của những người Cộng sản một thời là “sự hàm hồ của lịch sử”! Bà cụ mà tôi đã gặp trong đám biểu tình này, đang làm một việc là đi chống lại sự hàm hồ của lịch sử! Đương nhiên là cực kỳ gian khó. Tôi đã thu thập tất cả những lý do, những tình huống đi khiếu kiện đòi ruộng đất trong cuộc biểu tình dài ngày đó của nông dân các tỉnh miền Tây năm 2007 ở Văn phòng Quốc hội 2 tại TP HCM để viết một phóng sự điều tra. Kèm theo bài phóng sự là những hình ảnh mà tôi đã chụp được bằng phương pháp nghiệp vụ, chụp toàn cảnh, cận cảnh, nội dung các khẩu hiệu được trương lên (không có khẩu hiệu nào chống chế độ cả). Không một báo lề phải nào dám đăng những phóng sự điều tra như thế cả. Nếu có đăng thì họ sẽ cắt xén, gọt dũa những sự thật gai góc, chỉ để lại những gì có thể vừa lòng, lọt tai cấp trên mà thôi! Cuối cùng tôi phải ra tận Hà Nội, đến tận Văn phòng Chính phủ ở số 2 đường Bách Thảo, đưa tận tay bài viết đó đến Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, tại văn phòng Phó Thủ tướng phụ trách chống tham nhũng của ông. Phó Thủ tướng đã tiếp tôi một buổi chiều và xem kỹ những bức ảnh về cuộc biểu tình mà tôi đã chụp. Nhưng đã là một bài báo thì nó phải được đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, để tạo dư luận xã hội, cách làm đi bằng con đường “tiểu ngạch” của tôi như thế là “không giống ai”!
Cuộc biểu tình của nông dân miền Tây năm 2007 đó, đã được dọn dẹp vào ban đêm bằng cách các địa phương đưa xe lên rước về. Nếu “giải thích” mà ai không nghe thì được ném lên xe đưa về! Sáng hôm sau tất cả các báo ở TP HCM đều đưa tin, nông dân miền Tây đã “ vui vẻ” ra về!!!
Sau này, tôi đã nhờ nhà thơ Hoàng Hưng đưa bài viết đó lên mạng Talawas với nhan đề “Thư ngỏ gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – Cần có cuộc Hội thảo khoa học về khiếu kiện ruộng đất…”. Khi bài viết đã được tung lên mạng rồi, gặp một số quan chức ở Đồng bằng Cửu Long, nhiều người đọc được đã bảo tôi: Bài của đồng chí rất trung thực, có thiện chí, có nhiều phát hiện… vì sao không đưa các báo đăng!
Thế đó, các giáo trình báo chí ở các quốc gia dân chủ đều dạy rằng, nhà báo là người đứng trên cây cầu để canh chừng con tàu chính phủ. Nó báo cho con tàu đó thời tiết xấu hay tốt ở phía chân trời. Nhưng ở các quốc gia toàn trị thì báo chỉ để làm vừa lòng cấp trên, chỉ để làm cảnh và để “đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống” chứ không phải làm theo quy luật của nhận thức là đưa cuộc sống vào nghị quyết Đảng để rồi Nghị quyết Đảng sẽ tự nhiên đi vào cuộc sống!
Lối tư duy ngược này là thảm kịch của những nhà nước độc tài và sớm muộn sẽ dẫn đến sụp đổ. Hiện tượng Vinashin là một ví dụ rất điển hình. Không phải các nhà báo không biết đầu tư lớn cho ngành đóng tàu Việt nam (thực chất là đóng vỏ tàu) là phi hiệu quả. Giữa những năm 90, tôi đã được Tiến sỹ P.N.H, chuyên gia hàng đầu của VN về đóng tàu biển, ông tốt nghiệp hạng ưu ở Liên Xô về… đưa cho một tập tài liệu phản biện về việc đầu tư cho ngành đóng tàu VN. Đưa cho tôi tài liệu, ông hy vọng là để một nhà báo lâu năm lên tiếng hộ cho quan điểm của các chuyên gia đóng tàu VN… Nhưng báo chí chỉ được phép minh họa đường lối của Đảng và nhà nước mà thôi! Cho ăn kẹo cũng không một Tổng biên tập nào dám đăng bài của các nhà báo lúc đó phản đối đầu tư cho Vinashin. Chỉ đến khi chuyện vỡ lỡ thì nhân dân là người chịu thiệt thòi nhất, vì gánh chịu nợ nần chồng chất, nhưng các nhóm lợi ích thì đã no nê! Và chẳng ai bị kỷ luật về món nợ khổng lồ ấy!
Bây giờ thì rừng vàng đã bị phá gần hết, rừng đầu nguồn đã cho nước ngoài thuê, tài nguyên dưới lòng đất đã cạn kiệt, đến than cũng phải đi nhập về, bauxite cũng phải khai quật lên để bán cho người Tàu, chỉ còn biển bạc, đảo vàng ngoài khơi thì đường lưỡi bò đang lăm le liếm hết. Biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc mà ông bà ta gìn giữ bằng máu xương từ bao đời, nay đồng bào Quảng Ngãi, đồng bào miền Trung ra khơi đánh bắt tôm cá thì bị giặc Tàu bắn giết, cướp bóc bất kỳ lúc nào. Nhân dân Hà Nội, TP HCM và các tỉnh phẫn nộ biểu tình khí thế bừng bừng mà 700 tờ báo, gần trăm đài phát thanh truyền hình trên cả nước vẫn im khe, không dám đăng một tấm hình, một dòng tin nào về những cuộc biểu tình yêu nước của nhân dân. Chỉ có Thông tấn xã VN đưa một cái tin về biểu tình ngày 5-6 vừa qua thì lại xuyên tạc trắng trợn sự thật: “một số người tự phát tụ tập đi ngang qua…”. Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến lời nhà văn Nguyễn Khải trong tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” của ông rằng, người ta đã “nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không biết xấu hổ, nói dối không biết khiếp sợ…”! Các nhà báo nước ta từng có thời áo vá cơm khoai, cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân, vác cây bút đi phụng sự chính nghĩa dân tộc, đánh Tây đuổi Nhật năm xưa… Nay báo chí nước ta vì miếng cơm manh áo, vì muốn yên thân “sống mòn” lại dễ dàng làm nô bộc cho các nhóm lợi ích, các nhóm quyền lực, quay lưng với vận mệnh của Tổ Quốc hay sao?
Nếu mai mốt bọn Tàu cộng với máu AQ truyền kiếp, lại thêm bệnh “mót” làm siêu cường thời đại, điên cuồng kéo giàn khoan khổng lồ của chúng ra khai thác dầu trên vùng biển đặc quyền của nước ta đã được luật pháp quốc tế thừa nhận… mà đội ngũ báo chí “hùng hậu” của ta vẫn im khe, chỉ “anh bán thuốc cao” Lại Văn Sâm khua môi múa mép trên tiết mục “Ai là triệu phú” của đài Truyền hình Quốc gia thì bài viết này của tôi xem như “Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc” đã tha hóa và thối rữa đến chân lông.
Gần 40 năm viết báo từ Bắc chí Nam, làm cả báo nói, báo hình, báo viết, báo mạng… đi từ minh họa đến phản biện, phải chăng số phận đã giao cho tôi viết lời ai điếu này cho nền báo chí VN hôm nay. Tôi mượn chữ “Ai điếu” của nhà văn quá cố Nguyễn Minh Châu để tưởng nhớ ông trong bài viết này.
Không phải không có lý do mà nhân loại đã đặt tự do ngôn luận, tự do báo chí lên hàng đầu trong những quyền về con người.
Tự do thông tin ở thời đại thông tin toàn cầu sẽ cứu các quốc gia nhỏ bé không bị các “siêu cường mới” nuốt chửng; sẽ cứu cả các đảng cầm quyền biết đứng về phía nhân dân, cùng nhân dân cứu đất nước khỏi bị các đế quốc mới xâm lược nếu không muốn tự sát.
Vai trò của các nhà báo vô cùng quan trọng trong thời khắc lịch sử này. Hỡi những người anh em báo chí đồng huyết, đồng bào, đồng chủng, đồng quốc của tôi.
TP HCM 7–2011
L.P.K.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
http://www.boxitvn.net/bai/27811

ĐỪNG RŨ BỎ TRÁCH NHIỆM CHO ĐỜI SAU

Vương Trí Dũng

Gần đây một số người hay phát biểu: “Hoàng Sa mãi là của Việt Nam, đời này không đòi được thì đời sau sẽ đòi”. Không ai phủ nhận điều đó. Tuy nhiên tùy thuộc vào vị trí quyền lực của từng người mà đánh giá độ chân thành và tính trách nhiệm của lời phát biểu.
  1. Không hô khẩu hiệu suông
Thực vậy, nếu bạn nắm quyền lực mà bạn lại không hành động để dành lại Hoàng Sa, chỉ hô khẩu hiệu mồm, để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực rồiyên vị cai quản nhiều năm, không liên tục tấn công dành lại quyền kiểm soát Hoàng Sa, thì bạn chính là người đã có tội với tổ tiên, có lỗi với con cháu. Bạn chỉ hô khẩu hiệu suông. Bạn đã không thực thi trách nhiệm của một người có thẩm quyền. Đó chính là một thái độ vô trách nhiệm trước chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Đó là một tội lớn.
  1. Hãy hành động để dành lại Hoàng Sa
Đời mình ngồi trơ mắt nhìn để Trung Quốc bình an vô sự xây dựng kiên cố Hoàng Sa rồi yên vị cai quản Hoàng Sa, thì đời sau làm sao có thể đòi lại hay đánh chiếm lại được Hoàng Sa? Sao mình không hành động ngay bây giờ mà lại rũ bỏ trách nhiệm cho đời sau? Chính đời mình đã đánh mất Hoàng Sa của Tổ Quốc cơ  mà!
Hãy hành động ngay để dành lại Hoàng Sa, chứ không đòi lại Hoàng Sa. Hoàng Sa chỉ có thể dành lại được chứ không thể đòi lại được. Trung Quốc sẽ không bao giờ chịu trả lại Hoàng Sa cả.
Bởi vậy, nếu không thể dùng vũ lực để lấy lại Hoàng Sa, thì hãy tiến hành những hành động pháp lý để dành lại Hoàng Sa. Trước hết là phải kiện ngay Trung Quốc ra tòa ánquốc tế để Hoàng Sa và Biển Đông là vấn đề nóng cần giải quyết và phải giải quyết.Dẫu biết rằng nếu công lý và lẽ phải được thực thi, quốc tế công nhận Hoàng Sa là của Việt Nam và xử choViệt Nam thắng thì Trung Quốc cũng không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam một cách hòa bình. Nhưng thắng lợi về mặt pháp lý sẽ vạch mặt Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế và làm chùn bước sự tham lam hung hăng ngang ngược của Trung Quốc
  1. Hãy hành động để không mất thêm Trường Sa và Biển Đông
Hành động để dành lại Hoàng Sa là nhiệm vụ cấp thiết bắt buộc, nhưng cũng cấp thiết bắt buộc nữa là hành động để không mất thêm Trường Sa và Biển Đông cho Trung Quốc. Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Gạc Ma và sẽ bành trướng hơn nữa. Đây là một mối nguy hiểm to lớn cho Việt Nam, bởi vậy phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về Hoàng Sa, về dàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, về đường 9 đoạn. Kiệnkhông chỉ để dành lại Hoàng Sa mà còn là để không mất thêm Trường Sa và Biển Đông.
Nhưng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế chưa đủ để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Phải tiến hành ngay nhiều biện pháp khác nữa, trong đó có năm điều tiên quyết sau đây.
  1. Phải cải cách thể chế để có thể xây dựng đất nước giàu mạnh
  2. Phải thoát khỏi sự phụ thuộc Trung Quốc về chính trị và kinh tế
  3. Phải xây dựng đất nước giàu mạnh trở thành một quốc gia hùng cường
  4. Phải có tiềm lực quốc phòng và lực lượng bảo vệ biển hùng mạnh
  5. Phải có liên minh chính trị và quân sự để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ.
Hãy hành động ngay. Đừng hô khẩu hiệu suông. Nếu không có năng lực hãy nhường lại vị trí cho người khác ngay bây giờ. Đừng rũ bỏ trách nhiệm cho đời sau.
V.T.D
Tác giả gửi BVN
http://www.boxitvn.net/bai/27857