Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

ĐẠO GIÁO

Lão Tử (老子)
Đạo giáo ( ) là hệ tư tưởng lấy Đạo () làm căn bản cho mình: xuất phát từ Đạo rồi lại trở về Đạo bằng Đạo. Đạomột khái niệm triết học đã được dùng rất lâuTàu quốc trước khi xuất hiện Đạo đức kinh” mà theo truyền thuyết cổ xưa được tạo tác bởi Lão Tử, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng đặc biệt với giá trị phổ cập trong văn bản đó. Ban đầu, Đạo có nghĩa là con đường”, tức là Đạo được hiểu theo ý nghĩa hẹp nhất thành con đường; nhưng ngay trong Hán văn C xưa, Đạo đã có nghĩa là “phương tiện, nguyên lý, con đường chân chính. Ngày nay, nhờ khoa học phát triển cao với vai trò cách mạng thuộc về Vật lý họcĐạo còn được hiểu theo ý nghĩa rộng hơn, đó là Quy luật, bao gồm cả Quy luật Tự nhiên (Đạo Trời) lẫn Quy luật Xã hội (Đạo Người). Đạo giáo được phát triển bởi nhiều tác gia khác nhau vào nhiều thời đại khác nhau nhưng truyền thuyết cổ xưa cho rằng Lão Tử đã đóng góp nhiều nhất với vai trò tiên phong làm cho Đạo giáo thường được hiểu thành Lão giáo ().
Lão Tử có tiểu sử bí ẩn vốn bị vây phủ bởi huyền thoại gây nên nhiều tranh luận cho giới học thuật. Tương truyền, Ông sống Tàu quốc vào thế kỷ VI trước Công nguyên, tức là Thời đại Chiến quốc, một thời đại được đánh dấu bằng chiến tranh loạn ly. Nhưng Tàu quốc vào thời đại này đã phát triển rực rỡ về triết học với hàng trăm trường phái (bách gia chư tử), bao gồm nhiều triết gia hoặc tư tưởng gia đã tìm kiếm phương cách giải hoá để trị quốc an dân. Đạo đức kinh hàm dung những tư tưởng đó nhằm giúp giới cầm quyền tìm kiếm phương cách để kiến tạo hoà bình.
Đạo đức kinh cũng được gọi bằng tên gọi cho tác giả: Lão Tử. Với phiên bản hiện nay, nó bao gồm hai quyển với tổng cộng 81 chương. Quyển thứ nhất nói về Đạo, quyển thư hai nói về Đức. Tuy nhiên, Đạo đức kinhkhông có kết cấu lôgic cho một thế giới quan mà chỉ bao gồm những ngạn ngữ huyền bí rất tối nghĩa, dường như nó muốn độc giả phải tự lý giải chủ quan. Có lẽ chính đặc điểm này đã làm phát sinh hàng trăm văn bản chú giải cùng với hàng trăm bản dịch cho bộ kinh đó.
Lão Tử, Đạo được hiểu thành một nguyên lý cơ sở cho vũ trụ xuyên suốt mọi sự vật. Theo kinh văn, Đạohiện thật tối cao hoặc sự huyền bí tuyệt đỉnh, “Đạo đức kinh” có nói ở chương IV: 沖,而 。淵 兮,似 (Phiên âm: Đạo xung, nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông. Dịch nghĩa: Đạo trống không, nhưng đổ mãi vào đó mà không đầy. Đạo sâu thẳm như cội nguồn cho vạn vật). Đạom đơn vị tối sơ hoặc nguyên lý chung cho vũ trụ, đó chínhcái tuyệt đối. Mọi sự vật đều xuất phát từ Đạo, nghĩa là cả vũ trụ cùng với trật tự vũ trụ cũng xuất phát từ Đạo, tương tự như nguyên tắc tự nhiên. Nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng mà là nguồn gốc cho mọi sự vật, nó bao hàm mọi sự vật khiến ta không thể định nghĩa được cho nó. Đạo tồn tại vô danh, như câu đầu tiên trong “Đạo đức kinh” đã cho thấy: 道,非 。名 名,非 。無 始,有 (Phiên âm: Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu. Dịch nghĩa: Đạo mà ta có thể nói n được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể gọi lên được, không phải là Danh thật sự. Vô danh làm gốc cho thiên địa, hữu danh làm mẹ cho vạn vật). Theo “Đạo đức kinh”, Đạom một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên hoặc cái tự nhiên có sẵn, rằng: “Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên”. Đạom nguồn gốc cho mọi sự vật. Đức () m hình thức cụ thể biểu hiện cho Đạo trong từng sự vật nhất định. Đạo sinh ra mọi sự vật, nhưng Đức làm cho sự vật nào hình thành ra sự vật ấy để có thể tồn tại được trong vũ trụ. Nếu Đạom cái Tĩnh Vô hình thì Đứcm cái Động Hữu hình cho Đạo. Nếu Đạom bản chất cho vũ trụ thì Đứcm tồn tại cho vũ trụ.
Về mặt triết học, Đạo có thể được xem như siêu việt với mọi khái niệm, nó làm cơ sở cho tồn tại hoặcm nguyên nhân siêu việt cho tất cả để bao hàm tất cả, bao gồm cả tồn tại lẫn phi tồn tại. Vì ta bị hạn chế về khả năng nhận thức với mọi nhận thức đều hữu hạn nên ta không thể luận đàm được hết về Đạo hoặc không thể định nghĩa được cho Đạo, Đạo huyền cơ như vậy khiến mọi sự vật đều tồn tại trong Đạo, Đạo có thể được giác ngộ trực tiếp nhưng cũng có thể được giác ngộ gián tiếp thông qua quá trình tu tập. Nhưng Đạo lại bao hàm cả hai mặt đối lập nhau, cả vật chất lẫn tinh thần, cả không gian lẫn thời gian, cả cố định lẫn biến chuyển, cả xác định lẫn bất định, cả hữu hạn lẫn vô hạn, vừa siêu việt với mọi hạn lượng vừa m nguyên lý bên trong cho vũ trụ. Đạo có cái Dụng () tạo ra mâu thuẫn với cả hai trạng thái đối lập nhau: trạng thái thống nhất đối lập với trạng thái loại trừ (trạng thái đấu tranh) mà từ đó làm phát sinh thế giới hiện thực khiến Đạo phát huy công năng tuyệt đối đối với nhân loại: làm theo Đạo sẽ được trường tồn, làm trái Đạo sẽ bị diệt vong, dù làm theo Đạo để được trường tồn hay làm trái Đạo để bị diệt vong cũng đều thể hiện Đạo. Nói ngắn gọn hơn: theo Đạo sẽ sống, chống Đạo sẽ chết, dù theo Đạo để sống hay chống Đạo để chết cũng đều thể hiện Đạo! Từ đó suy ra rằng: ở mỗi cá nhân nhất định, Đạo thể hiện như thế nào sẽ phụ thuộc vào Đức vốn thể hiện khả năng chủ quan hoặc khả năng nhận thức ở chính cá nhân đó. Đó chính là điểm kết thúc về logic cho Đạo giáo. Về điểm này, Đạo giáo tỏ ra tương đồng kỳ lạ với khoa học hiện đại. Hãy lấy một ví dụ điển hình để chứng thực cho sự tương đồng đó. Vật lý học cho rằng: muốn nhìn thấy một electron, nhà quan sát phải soi sáng electron bằng một tia sáng; nhưng khi được dùng để soi sáng electron, tia sáng lại truyền một phần năng lượng từ nó sang electron làm cho electron phải thay đổi quỹ đạo chuyển động từ quỹ đạo vốn có sang một quỹ đạo khác được gọi là quỹ đạo thấy được, tức là quỹ đạo thấy được hoàn toàn khác hẳn quỹ đạo vốn có; sự thay đổi này làm cho nhà quan sát chỉ có thể nhìn thấy được quỹ đạo khác mà không thể nhìn thấy được quỹ đạo vốn có; quỹ đạo vốn có như thế nào, nhà quan sát không thể biết được mà chỉ có thể đặt để niềm tin vào đó thôi; trái lại, nhà quan sát chỉ có thể biết được quỹ đạo khác, quỹ đạo này chỉ được xác lập bởi hành vi quan sát mà không phải tồn tại tự thân, tức là quỹ đạo này không tồn tại tự thân hoàn toàn mà được quy định một phần bởi chính hành vi quan sát. Từ đó người ta rút ra được một kết luận triết học cho rằng cái tất yếu khách quan luôn luôn bị quy định một phần bởi hoạt động nhận thức đồng thời phải có giá trị phổ quát hoặc phải có giá trị như nhau đối với mọi người, theo đó cái gì đúng với một người cũng phải đúng với mọi người hoặc cái gì sai với một người cũng phải sai với mọi người, tức là nếu cái gì đúng với người này mà lại sai với người khác thì cái đó tuyệt đối không thể tất yếu khách quan. Từ kết luận đó, người ta lại rút ra được một nguyên tắc xử sự rất quan trọng đối với mọi người, theo đó mỗi người phải chịu trách nhiệm với mọi hệ quả được gây nên bởi chính mình. Căn cứ vào đó cùng với vô số ví dụ khác được cung cấp bởi khoa học, tôi có thể xác quyết rõ ràng hơn rằng: người ta quan niệm như thế nào về thế giới sẽ làm cho thế giới trở nên như thế, nếu người ta quy thế giới về “vật chất” thì thế giới sẽ biểu hiện thành “vật chất”, nhưng nếu người ta quy thế giới về “tinh thần” thì thế giới sẽ biểu hiện thành “tinh thần”, v. v., tức là mọi thế giới quan đều có tính chất tương đối đồng thời đều có tính chất bất định. Ngay từ thời đại cổ xưa, Đạo giáo đã hàm dung thế giới quan đó. Chính các nhà vật lý học xuất chúng, như Albert Einstein (1879 – 1955) cũng như Werner K. Heisenberg (1901 – 1976) đã từng xác nhận rõ ràng như vậy vào đầu thế kỷ XX! Nếu tiếp tục tiến lên thì Đạo giáo sẽ phát triển thành chủ nghĩa cá nhânmột trong những con đường chính dẫn đến chính thể dân chủ. Nhưng thật đáng tiếc, Đạo giáo đã không tiếp tục tiến lên mà chỉ dừng lại ở Đức với thái độ vô vi theo kiểu cực đoan thể hiện rõ ràng ở Trang Tử (莊子) với “Nam hoa kinh” vào thế kỷ IV trước Công nguyên (khoảng 369 – 286).

Lão Tử, sự sinh hóa từ Đạo ra Đức rồi từ Đức trở về Đạo đã thể hiện rõ ràng tinh thần biện chứng. Bị chi phối bởi nguyên lý biện chứng, mọi sự vật đều tồn tại theo lẽ tự nhiên: hợp lý, công bằng, chu đáo, nhờ vậy mà mầu nhiệm. Hợp lý, vì theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, nếu cao thì ghìm xuống, nếu thấp thì nâng lên. Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Mầu nhiệm, vì không cần tranh giành mà chiến thng hoặc không cần nói mà ứng nghiệm. Mọi sự bất cập hoặc thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên nhưng sẽ tự điều chỉnh theo nguyên lý biện chứng: vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”. Từ đó Lão Tử suy ra triết lý sống: muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập hoặc phải vô vi (không làm). Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà chỉ có nghĩahòa nhập với tự nhiên hoặc đừng làm gì thái quá. Nếu làm thái quá thì theo nguyên lý biện chứng: vật cực tắc phản, kết quả thu được còn tệ hại hơn hoàn toàn không làm gì. Triết lý vô vi ứng nghiệm với đời sống cá nhân: chỉ vì mình không tranh giành với ai nên không ai tranh giành nổi với mình”. Triết lý vô vi ứng nghiệm với đời sống cá nhân như vậy đương nhiên cũng ứng nghiệm với đời sống xã hội đòi hỏi xã hội phải được tổ chức theo chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa, tức là triết lý vô vi loại trừ chính thể chuyên chế hoặc chế độ độc tài. Lão Tử bác bỏ việc cai trị áp đặt mang tính chất cưỡng chế, ông cho rằng: dân chúng phải được tự do mới làm cho xã hội được yên bình, cũng như “kho một nồi cá nhỏ” phải giữ nguyên cho cá nhỏ: không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo, chỉ làm cho cá bị nát.

Thật ra, Lão Tử đã h thống hóa những triết lý truyền thống thuộc về văn minh nông nghiệp, theo đó Đạo chẳng qua chỉ thể hiện quy luật tự nhiên được khái quát hóa thành một khái niệm triết học, cũng như Đức chẳng qua chỉ thể hiện khả năng chủ quan để vận dụng quy luật tự nhiên mà thôi. Lão Tử đã hệ thống hóa những triết lý đó bằng phép biện chứng khiến George Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) đã đánh giá Lão Tử cao hơn Khổng Tử ( ), rằng Khổng giáo nghèo nàn nhưng Lão giáo lại phong phú hơn để Lão Tử xứng đáng được tôn vinh làm người đại diện cho tinh thần ở Đông phương vào thời đại cổ xưa.
loại trừ chính thể chuyên chế nên Đạo giáo bị truy bức tàn tệ bởi chính thể đó làm cho ngay cả Lão Tử cũng phải mai danh ẩn tích để né tránh tai họa, chính thể đó làm cho người đương thời không những không hiểu được ông mà còn không muốn hiểu ông khiến ông phàn nàn rằng: Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm”. Cũng chính vì bị truy bức tàn tệ bởi chính thể chuyên chế nên sau Lão Tử, Đạo giáo đã phát triển theo xu hướng cực đoan.
Sau Lão Tử, truyền thuyết cổ xưa cho rằng Đạo giáo đã được phát triển theo xu hướng vô vi bởi Trang Tử với “Nam hoa kinh” vào thế kỷ IV trước Công nguyên (khoảng 369 – 286). Trang Tử viết “Nam hoa kinh” với những nhận xét chính xác về cả Khổng Tử lẫn Lão Tử làm cho Khổng Tử bị bài bác nhưng Lão Tử lại được đề cao. Trong Nam hoa kinh”, Đạo được miêu hoạ qua những chuyện ngụ ngôn hàm dung sự đàm thoại triết học. Trang Tử đã phát triển Đạo trong “Đạo đức kinh” theo xu hướng vô vi, tức là chỉ coi trọng việc tu tập cá nhânxem nhẹ việc quản trị xã hội (không nhắc nhở các nhà cầm quyền trị quốc an dân) làm cho mẫu hình lý tưởng cho nhân loại chỉ biểu hiện đơn giản thành một chân nhân vô sự. Sự thể này có nguyên nhân thực tiễn đã được giải thích ở trên: vì loại trừ chính thể chuyên chế nên Đạo giáo bị truy bức tàn tệ bởi chính thể đó làm cho Đạo giáo ắt phải phát triển theo xu hướng cực đoan thành một chủ thuyết yếm thế như vậy. Cũng như “Đạo đức kinh” đã được tạo tác bởi tác gia nào vẫn chưa được giải đáp rõ ràng, không ai dám xác quyết chắc chắn “Nam hoa kinh” được tạo tác bởi một tác giả nào đó có tên gọi là Trang Tử mà cũng chỉ giả định gợi mở rằng “Nam hoa kinh” có thể đã được biên soạn bởi nhiều học giả khác nhau cùng làm đệ tử cho Trang Tử hoặc một nhóm học giảtên gọi chungTrang tử.
Trang Tử phát triển Lão Tử vào lĩnh vực nhận thức với tư tưởng biện chứng Lão Tử bằng việc tuyệt đối hóa sự vận động hoặc xóa nhòa mọi ranh giới giữa nhân loại với thiên nhiên, giữa phải với trái, giữa tồn tại với hư vô, đẩy phép biện chứng phát triển theo xu hướng cực đoan thành một thứ tương đối luận làm cho các đạo sỹ xung khắc kịch liệt với chính thể chuyên chế, nếu trước kia Lão Tử chỉ bác bỏ việc cai trị áp đặt mang tính chất cưỡng chế thì đến đây Trang Tử lại căm ghét cực độ những kẻ thống trị chuyên chế, ông không chỉ bất hợp tác với họcòn nguyền rủa họ rồi quy kết chính xác họ thành bọn đại đạo (kẻ trộm lớn). Tư Mã Thiên (145 – 86 trước Công nguyên) với “Sử ký Tư Mã Thiên” đã viết vắn tắt về Trang Tử: Uy vương nước Sở nghe nói Trang Chu (Trang Tử) là bậc hiền tài bèn sai sứ giả đem vàng lụa đến mời đón hứa cho làm tướng. Trang Chu cười nói với sứ giả rằng: “Ngàn vàng đáng trọng thật, khanh tướng tôn quý thật, nhưng ông có thấy con bò bị đem đi tế lễ không? Nó được nuôi nấng vài năm rồi được choàng quần áo sặc sỡ để đưa vào Thái Miếu. Lúc đó, nó muốn làm con lợn đơn độc có được nữa chăng? Ông hãy về đi, chớ làm ta nhơ bẩn. Ta thà cứ rong chơi ở nơi ô trọc này còn thấy sướng hơn bị trói buộc bởi người chủ nước nọ” (Nguyên văn Hán – Việt: Thiên kim trọng lợi, khanh tướng tôn vị dã. Tử độc bất kiến giao tế chi hỉ ngưu hồ? Dưỡng thực chi sổ tuế, y dĩ văn tú, dĩ nhập Thái miếu. Đương thị chi thời, tuy dục vi cô đồn, khởi hà đắc hồ? Tử cức khứ, vô ô ngã, ngã ninh du hí ô trọc chi trung tự khoái). Nhưng Trang Tử lại phát triển phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên Lão Tử theo xu hướng cực đoan thành chủ thuyết yếm thế khuyến khích người ta quay trở về xã hội nguyên thủy: Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú, tức là Trang Tử không khuyến khích người ta xây dựng chính thể dân chủchỉ khuyến khích người ta chạy trốn chính thể chuyên chế cho đến khi không thể thoát chết mới quay đầu chống lại kẻ trộm lớn bằng biện pháp cực đoan nhất trái ngược hẳn với phép vô vi! Quả thật, trong cảnh loạn ly vào cuối Triều đại Đông Hán (thế kỷ II), chủ trương vô vi cùng với thái độ phản kháng ở cả Lão Tử lẫn Trang Tử đối với chính thể chuyên chế đã được lấy làm cảm hứng tinh thần cho các cuộc cách mạng bạo động. Hệ quả này đối lập hẳn với mục đích chân chính cho chủ trương vô vi!
Phát triển theo xu hướng cực đoan như trên, Đạo giáo bị hạn chế về một số mặt quan trọng cần phải được phơi bày ở đây: 1/ Quan niệm tư biện về nhân loại để rồi không biết nhân loại có bản chất như thế nào; 2/ Tuyệt đối hóa kinh tế tự túc mà không quan tâm phát triển kinh tế đổi chác hoặc kinh tế thị trường như vẫn thường gọi; 3/ Chỉ khuyến khích người ta chạy trốn chính thể chuyên chế mà không khuyến khích người ta xây dựng chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hòa; vân vân. Muốn thoát khỏi những hạn chế đó, Đạo giáo cần phải được soi sáng bởi khoa học hiện đại. Chính tiểu luận này cũng nhằm mục đích đó.
TThời đại Lão T đến Thời đại Trang Tử, người ta không thấy dấu tích nào có thể cho thấy Đạo giáo được cơ cấu thành một tổ chức về triết học hoặc tôn giáo. Chỉ có một số tác phẩm hàm dung Đạo giáo được lưu lại, rồi được tôn vinh làm Thánh điển cho sự hình thành dần dần Đạo giáo. Tuy nhiên, tất cả các học giả đều thống nhất với nhau rằng những tác phẩm này đã được phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với những phương pháp tu tập thuộc về tôn giáo hoặc tín ngưỡng.
Người ta lại càng không thể biết chính xác Đạo giáo khởi phát vào lúc nào mà chỉ có thể thấy được tôn giáo này hình thành qua một quá trình lâu dài với việc thâu nhập nhiều trào lưu khác nhau. Quả thật, có nhiều tài liệu khả tín đã cho thấy Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã được phổ biến từ Thời đại nhà Chu ( , 1040256 trước Công nguyên). Thuộc về những tư tưởng này, gồm có vũ trụ luận về Thiên – Địa, Ngũ Hành ( ), luận thuyết về năng lượng, luận thuyết về chân khí (), luận thuyết âm – dương ( ) và Kinh Dịch ( ). Nhưng ngoài ra, những truyền thống tu luyện cho thân tâm, như điều hoà hơi thở, Thái cực Quyền, Khí công, Thiền định, Thiết tưởng Linh ảnh, Thuật Luyện kim ( ) và những huyền thuật, cũng được hấp thụ nhằm đạt được trường sinh bất tử. Việc tu luyện nhằm đạt được trường sinh có lẽ bắt nguồn từ những khái niệm cổ xưa. Giả thiết này có cơ sở thực tế trong “Nam hoa kinh” vốn có nhắc đến các vị tiên trường sinh bất tửđại diện tiêu biểu nhất thuộc về Hoàng Đế ( ) và Tây Vương Mẫu (西 ), những hình tượng này vốn đã có trong Thời đại nhà Thương ( ), thiên niên k 2 trước Công nguyên.
Đạo giáo tôn vinh Lão Tử làm Giáo chủ được gọi làThái thượng Lão quân”, coi ông hóa thân cho Đạo giáng sinh xuống cõi trần.
Đạo giáo lấy trường sinh (sống lâu) làm mục đích cho việc tu tập cá nhân.
Đạo giáo lấy Đạo tạng kinh làm Kinh điển; ngoài sách vở về nghi lễ cùng với giáo lý, Đạo tạng kinh còn bao gồm cả các sách vở về thuốc, dưỡng sinh, bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký, v. v., tổng cộng lên đến n 50 vạn quyển.
Đạo giáo có hai trường phái chính: Đạo giáo Phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà để trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo Thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử, nó hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử. Tu tiên có hai cách: nội tungoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh được gọi là kim đan (hoặc linh đan, thu được trong lò luyện bằng cách luyện từ một số khoáng chất, như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng). Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công, v. v., lấy thân mình làm lò luyện để luyện tinh thành khí, rồi luyện khí thành thần, rồi lại luyện thần trở về hư vô (Đạo). Vì được sinh ra từ Đạo nên người ta phải tu luyện để trở về Đạo.
Không chỉ dạy người ta trở về với Đạo để huyền đồng cùng vũ trụ, Đạo giáo còn đóng góp rất nhiều giá trị cho nền Văn minh Tàu quốc. Rất nhiều sinh hoạt độc đáo từ người Tàu đã lan truyền khắp thế giới có nguồn gốc xuất phát từ Đạo giáo như: Trường phái Thủy mặc trong Hội họa thể hiện sự cân bằng tuyệt hảo giữa Âm với Dương. Thuật Phong thủy chỉ dẫn cách chọn hướng cũng như cách thiết kế cho môi trường kiến trúc theo một hệ thống phối hợp cho các yếu tố quan trọng về c không gian lẫn thời gian nhằm mang lại sự hài hòa tối đa cho mọi tương tác giữa con người với thiên nhiên. Võ thuật với môn Thái cực Quyền vận hành theo nguyên tắc nhu đạo, “mềm như nước”, nhưng hết sức hữu ích, giúp cho con người giải tỏa những tắt nghẽn sinh lực, đưa thân thể trở về trạng thái cân bằng, hài hòa về cả thể lý lẫn tinh thần mà ngày nay rất phổ biến. Châm cứu cùng với Bấm huyệt trong Y học được xem như cách trị bệnh rất hiệu ích. Chủ trương Bất tử về Tư tưởng, tức là quan niệm cho rằng vào lúc chết, sự sống được thay đổi chứ không bị mất đi, làm cho người tathái độ tích cực đối với chính mình.
Khi mổ xẻ Đạo giáo, cần phải xem xét Đạo giáo trong quan hệ tương tác với Nho giáo. Đạo giáo vốn cực kỳ uyên thâm với tính chất tự tồn nhưng vì được khai sáng trong chính thể chuyên chế vốn phải truy bức các hệ tư tưởng tự tồn như Đạo giáo để có thể tồn tại được làm cho Đạo giáo phải phát triển theo xu hướng cực đoan nên Đạo giáo chỉ có thể phải coi trọng việc tu tập cá nhânxem nhẹ việc quản trị xã hội, chỉ nhấn mạnh quan hệ giữa Nhân loại với Tự nhiên Ngoài Nhân loạibuông xuôi quan hệ giữa Nhân loại với Nhân loại (buông xuôi quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác), chỉ dẫn dắt Nhân loại quay trở về Đạo bằng Đứckhông hướng Đạo vào Nhân loại bằng Đức, chỉ lấy Đạo làm Đích đến cho Nhân loạikhông lấy Nhân loại làm Đích đến cho Đạo. Khi bị truy bức bởi chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo (được gọi là nền Chuyên chế Nho giáo), Đạo giáo đã bị lạm dụng tàn nhẫn bởi chính Nho giáo (hoặc nói chính xác hơn: Đạo giáo đã bị đồng hóa tàn nhẫn với Nho giáo bởi chính Nho giáo thông qua chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo) làm cho Đạo giáo phải làm phương tiện cá nhân cho Nho giáo vận hành theo xu hướng vong thân. Sự thể này đã làm cho nhiều thế hệ học giả ngộ nhận đáng tiếc rằng Đạo giáo tương đồng tự nhiên với Nho giáo!? Đây là sự ngộ nhận tai ác nhất trong Văn hóa Trung hoa vốn bao gồm cả Tàu quốc lẫn một số nước xung quanh. Thật ra, Đạo giáo xung khắc với Nho giáo y như Nước xung khắc với Lửa. Tuy cả Đạo giáo lẫn Nho giáo đều hướng về Đạo nhưng Nho giáo lạm dụng Đạo vào củng cố chính thể chuyên chế làm cho Đạo trong Nho giáo không chỉ khác biệt mà còn đối lập hẳn với Đạo trong Đạo giáo, Đạo giáo phải có Đạo Tự tồn hoặc Đạo Tự do dẫn đến chính thể dân chủ hoặc chính thể cộng hoà nhưng Nho giáo lại chỉ có Đạo Vong thân hoặc Đạo Nô lệ dẫn đến chính thể chuyên chế.
Theo truyền thuyết cổ xưa, Lão Tử nói với Khổng Tử: Ông theo người xưa, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ còn lại những lời bàn luận của họ mà thôi. Hơn nữa, nếu quân tử gặp được thời cơ chính trị thì liền theo chính trị, nếu thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người khác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường có bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.
Nhiều người đã biết Lão Tử chê trách Khổng Tử nhưng rất ít người hoặc thậm chí hầu như không ai có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa cho câu chuyện đó.
Đạo giáo bị đồng hóa khiên cưỡng với Nho giáo bởi Nho giáo rồi bị vong thân khiên cưỡng theo Nho giáo làm cho người ta ngộ nhận đáng tiếc rằng Đạo giáo tương đồng tự nhiên với Nho giáo!? Đạo giáo không có tính chất vong thân từ nội tạichỉ có tính chất vong thân từ ngoại lai. Chính chính thể chuyên chế cùng với các hệ tư tưởng vong thân làm nền tảng tư tưởng cho chính thể đó đã mang lại tính chất vong thân cho Đạo giáo. Tuy nhiên, khoa học hiện đại đã làm cho Đạo giáo phục sinh. Ngay cả tiểu luận này cũng không chỉ góp phần làm cho Đạo giáo phục sinh mà còn góp phần làm cho Đạo giáo trỗi dậy. Amen!

 J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Tư 2013)

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Trí thức hải ngoại: Chúng ta cùng đơn ca? (1)

Tháng 10 5, 2013
Từ Linh
Lời thưa
Sau này, người viết sử về Việt Nam giai đoạn hiện tại có lẽ sẽ phải nhắc tới vai trò quan trọng của giới trí thức Việt Nam trong nước trong việc vực dậy xã hội dân sự: Họ nắm bắt thực tại, tụ lại, cùng nhau đưa ra lối thoát, vận động công chúng ý thức và lên tiếng, thông qua hàng loạt kiến nghị, từ Kiến nghị Ngừng Khai thác Bauxite (2009), Kiến nghị về Việc Bảo vệ và Phát triển Đất nước (2011) đến Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 1992 [“Kiến nghị 72”] (Tháng 4/2013), đến Tuyên bố Nghị định 72 Vi phạm Hiến pháp (Tháng 6/2013), và gần đây nhất là Tuyên bố về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị (23/9/2013)… Nhân sĩ trí thức khát khao sự thật, nhân quyền và dân chủ trong nước như những cỗ động cơ giàu năng lượng, quan trọng hơn nữa, họ phối hợp được với nhau, và xã hội đang chuyển động.
Trong khi đó, lịch sử sau này sẽ ghi nhận thế nào về trí thức gốc Việt ở hải ngoại? Không kể những người có chữ nhưng chỉ thích “chơi” với chữ thay vì “chơi” với thực tại – thực tại là mặt trăng, chữ là ngón tay chỉ trăng, có người thích chơi với tay hơn chơi với trăng – ngay cả những người quan tâm đến thực tại Việt Nam, có tài, có tâm huyết, có uy tín và có chung lý tưởng nhân quyền, dân chủ, hòa giải… họ dường như vẫn cứ giữ một khoảng cách nào đó với nhau. Hay là có một thứ dark energy, năng lượng “đen tối”, nào đó đang đẩy họ xa nhau, như đang đẩy các ngôi sao trong vũ trụ xa nhau? Hay là chẳng có thế lực nào quấy phá, mà điều “đen tối” đang nằm ngay trong tâm lý người trí thức?
Bài này xin được nhắc đến hiện tượng vừa kể, và những câu hỏi liên quan, bằng cái nhìn của một thường dân, từ ngoài nhìn vào, với cách viết bình dân, dựa trên lẽ thường (common sense), không phải cái nhìn của người trong cuộc, hay của chuyên gia về cộng đồng lưu dân. Xin phép được “đặt lên bàn” đề tài dường như ít được nhắc tới này để mọi người góp ý, thay vì dấm dúi nó dưới gầm vì nể nang nhau hay vì một sự ổn định ảo nào đó.
Người viết cứ tin, một cách chủ quan, rằng cộng đồng người Việt hải ngoại có tiềm năng lớn, và trí thức hải ngoại có thể đóng góp nhiều hơn rất nhiều.
Những đoạn “nói thêm” trong bài là những ý bổ sung cho mạch ý chính, bạn đọc có thể bỏ qua nếu thấy dài.
Xin bắt đầu câu chuyện ở Paris.
1. Paris chia ly?
Tôi tưởng tượng:
Một buổi sáng mùa thu ở Paris, nhiệt độ là 13 độ C. Lúc 9 giờ 11 phút, cơn mưa thu quen thuộc bắt đầu đổ xuống, nhưng hôm nay gió mạnh hơn bình thường. Lá úa đẫm nước bay vật vờ nặng nề. Một chiếc xe cứu thương hụ còi hối hả chạy ngang Rue Mercière.
Cùng lúc còi hú, trong văn phòng tòa soạn báo Quê Mẹ, ấm đun nước phun khói hú còi báo hiệu sôi. Ông Võ Văn Ái tắt ấm nước, rồi ra đứng cạnh cửa sổ, nhìn chiếc xe cứu thương chạy hối hả, nhìn những hạt mưa đập vào cửa kiếng hối hả, từng cơn.
Cách đó 20 cây số, trong phòng làm việc ở khu Bourg-La-Reine, giáo sư Hà Dương Tường rót nước sôi vào bình pha cà-phê. Bỗng thấy trời tối sầm, giáo sư cũng ra đứng bên cửa, nhìn xuống phố thu âm u.
Lúc này, vừa rời khỏi phi trường Charles De Gaulle sau chuyến thuyết giảng ở World Bank trở về, thầy Thích Nhất Hạnh đang đi ngang Allée Saint-Paul. Ba chiếc lá thu lảo đảo bay ngang cửa kính xe đang chạy. Thầy khẽ ngước mắt dõi theo. Những chiếc lá lại lảo đảo bay theo sau như níu kéo.
Đang trả lời email cho bạn đọc Thông Luận, ông Nguyễn Gia Kiểng dừng tay khi nghe tiếng còi xe cứu thương bỗng dừng đột ngột, liền sau đó là tiếng bánh xe nghiến ken két trên mặt đường trơn trượt. Ông đứng dậy, tiện tay cầm theo ly cà-phê nóng đang uống dở, ra bên cửa xem chuyện gì xảy ra.
Thì ra chiếc xe cứu thương ban nãy chạy vút qua ngã tư này suýt nữa đâm sầm vào một chiếc xe cứu thương khác vút tới từ cánh trái. Anh tài xế này giận dữ nhấn còi nguyền rủa anh tài kia. Người ngồi trong những xe khác quanh ngã tư, họ dừng lại nãy giờ để nhường đường, thì im lìm, đưa mắt nhìn hai anh tài.
Hết tưởng tượng.
***
Buổi sáng hôm đó, dĩ nhiên, không có thật. Nhưng những nhân sĩ, trí thức người Việt ở Paris vừa kể lại rất thật:
Đó là thầy Thích Nhất Hạnh với những khóa tu mời gọi mọi người sống trọn trong giây phút hiện tại, ở Làng Mai, ở các châu lục, với đông đảo người mọi quốc tịch tham dự. Đó là ông Nguyễn Gia Kiểng tác giả cuốn Tổ quốc ăn năn gây chấn động dư luận người Việt ở hải ngoại, cùng Tập hợp Dân chủ Đa nguyên và những chủ trương, quan điểm rất đáng chú ý. Đó là giáo sư Hà Dương Tường, giáo sư Toán tại Đại học Công nghệ Compiègne, người tâm huyết với đất nước, chủ nhân trang mạng diendan.org vừa nghiêm túc vừa nhẹ nhàng văn nghệ. Đó là ông Võ Văn Ái, người thường có các cuộc vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Nghị viện Châu Âu, cũng là một đạo hữu có trách nhiệm lớn trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở hải ngoại.
Họ là những người có tên tuổi trong cộng đồng và trên thế giới, họ tài năng, tâm huyết, không ngừng hoạt động, được nhiều người kính trọng. Nhưng tôi cứ thắc mắc mãi điều này, và xin được đặt câu hỏi ở đây:
Khoảng cách từ văn phòng Quê Mẹ đến văn phòng của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên hay văn phòng của diendan.org chỉ cách nhau 20 cây số, nhưng phải chăng nhiều năm rồi, các nhân sĩ, trí thức vừa kể chưa từng rời vị trí của mình để đến chỗ của người kia, hay cùng hẹn nhau đến một quán cà-phê Paris nào đó để gặp mặt chuyện trò?
Hay là vị này tuy thường xuyên gặp gỡ và làm việc với những người bạn khác của mình, nhưng với các vị vừa nêu kia thì chưa? Hay là cũng đã làm việc với nhau rồi, nhưng không ổn, lại thôi?
Giáo sư Hà Dương Tường vẫn thường xuyên cùng các trí thức Việt ở Pháp, ở nước khác và ở Việt Nam ký tên vào nhiều kiến nghị, trong đó có Kiến nghị 72 về sửa đổi Hiến pháp, và gần đây là Tuyên bố về Nghị định 72, Tuyên bố Thực thi Quyền Dân sự…
Trong khi đó, ông Nguyễn Gia Kiểng lại có những ý kiến rất tâm huyết quanh Kiến nghị 72, và nhận định rằng:
“… ích lợi thực sự của Kiến nghị 72 có lẽ là một báo động. Còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, về mức độ đoạn tuyệt với quá khứ phải có để hòa giải dân tộc, về những khái niệm chính trị, cũng như về những chọn lựa cho tương lai. Phong trào dân chủ cần một cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn để đạt tới đồng thuận nếu không muốn bị chia rẽ và tê liệt vào lúc mà lịch sử đang có dấu hiệu sắp sang trang.”[i]
Nhưng, phải chăng lời kêu gọi ngồi lại để có “một cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn” này vẫn chưa có phản hồi nào, từ trí thức ở Pháp, ở ngoài nước hay trong nước?
Mưa thu và cái lạnh thì ai ở chung thành phố đều cùng thấy. Sấm động trên mây thì dưới trời ai cũng nghe cùng lúc. Nhưng, phải chăng cùng nhìn lá bay thì dễ, cùng nhìn nhau thì chưa, chưa hề là tự nhiên? Gần thì gần, mà xa thì vẫn xa?
Chợt nhớ lời hát của Phạm Duy:
Mùa thu Paris, trời buốt ra đi, hẹn em quán nhỏ… chờ mong em gắng khổ, từng giờ. Mùa thu âm thầm, bên vườn Lục Xâm… không em ôi buốt giá, từ tâm…
Nhưng, phải chăng tình trạng đó không là lỗi của ai cả?
Phải chăng người trong cuộc chẳng thấy có vấn đề gì cả, và không gặp “người kia” cũng là chuyện đương nhiên, thậm chí “phải là” như thế?
Nói thêm:
Đọc đến đây, có thể có người nói bài viết này bất kính, vì “dám” đặt những nhân vật đáng kính kia vào một chuyện tưởng tượng vu vơ.
Phản ứng này cũng dễ hiểu, vì người mình có lẽ chưa quen lắm với việc đưa các nhân vật được nhiều người yêu mến – chứ không chỉ những nhân vật xấu, ác, phản diện – làm đề tài cho những bài báo, tranh vẽ, phim ảnh đủ loại: nghiêm túc có, trào phúng có, giả tưởng có…, miễn không dối trá, phỉ báng, vu khống.
Đức Đạt lai Lạt ma, Đức Giáo hoàng Francis, Tổng thống Obama, Tổng thống mặt lạnh Putin, những người như Bill Gates, Bill Clinton hay Bin Laden… đều có thể trở thành nhân vật của những bức họa, những talk-show, những bài báo nói chuyện đời thường, ví von, cười vui… Có lẽ, đó là dấu hiệu của một nền báo chí lành mạnh, vì góp phần “giải thiêng” những nhân vật được trọng vọng. Giải thiêng không hạ bệ, nhưng là trả họ về vị trí người. Thực ra, nhiều khi nhờ giải thiêng mà họ càng trở nên thật.
Chỉ ở những nước toàn trị tự cho mình là đạo đức và sở hữu chân lý tuyệt đối – trong khi đàn áp dã man mọi đối lập – thì ông Mác mới không được đội xô đá lạnh trên đầu trong quán Cộng, ông Castro mới không được ngậm thỏi thuốc nổ cháy ngòi thay cho điếu xì-gà trên bảng quảng cáo ngoài trời, cậu Kim Jong-Un mới không được tốc váy như Marilyn Monroe trong triển lãm tranh đương đại, tranh ông Mao ngậm hoa theo phong cách Andy Warhol mới không được bày giữa Thiên An Môn, còn ông Hồ thì chết mà không được chôn, cứ phải nằm đó cho ông đi qua bà đi lại nhìn, tượng ông thì cứ phải đứng (ven) đường, cứ phải cười cười và đưa tay lên, hết ở bến thuyền Ninh Kiều Cần Thơ, nay lại sắp đứng bên hông khu thương mại cao cấp Vincom giữa Saigon.
2. 4 triệu, 1 mình?
Hiện nay, người Việt ở nước ngoài tổng cộng khoảng 4.000.000 người, tập trung đông đảo ở các nước như Pháp (250.000), Mỹ (1.700.000), Canada (180.000), Úc (160.000), Anh (55.000), Đức (137.000), Tiệp Khắc (60.000), Ba Lan (50.000), Nga (150.000), Hàn Quốc (117.000), Nhật (40.000), Đài Loan (120.000), Campuchia (600.000), Lào (150.000).[ii]
Trong 4 triệu người Việt khắp năm châu chắc hẳn có đến hàng trăm, hàng ngàn nhân sĩ, trí thức và chuyên gia đẳng cấp thế giới đang hoạt động tại nước họ định cư, hoặc cho cơ quan quốc tế, trong nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau: từ thiên văn học, quân sự, chính trị, kinh tế, tài chính, giáo dục, đến thể thao, nghệ thuật, truyền thông, giải trí… Họ giỏi, họ được đồng nghiệp kính nể, họ đoạt giải, được tưởng thưởng và công nhận xứng đáng. Nhưng xin phép được đặt câu hỏi rằng:
Phải chăng họ chỉ đang được biết đến như những cá nhân xuất sắc riêng lẻ, chỉ có gốc Việt là điểm chung, còn trên thực tế họ cũng chẳng có quan hệ gì với nhau?
Phải chăng hầu hết họ đã phải tự thân vận động và tự tồn tại như những nghệ sĩ độc tấu, rất giỏi khi trình tấu ngón đàn chuyên môn của mình, nhưng lại chưa có dịp để ngồi chung một dàn nhạc 300 người hay 1000 người để tạo nên những đại tấu khúc mà một người không bao giờ làm được?
3. Trí thức thì một mình?
Nói cách khác, người Việt ở nước ngoài muốn đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam phải chăng chưa thực có “chúng ta”, mà đang chỉ có những cá nhân một mình một cõi, tuy “đội trời đạp đất ở đời” nhưng vẫn cứ “một chèo”[iii]?
Tôi lại thắc mắc: Không biết các nhân sĩ trí thức có bao giờ tự chất vấn về tình trạng “độc tấu” của mình không nhỉ?
Thực ra cũng có. Anh Nguyễn Hưng Quốc, nhà phê bình văn học nhưng gần đây viết nhiều về chính trị, có cho rằng dù trân trọng các tổ chức, nhưng (xin trích):
“… tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào […] tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình.”[iv]
Nguyễn Hưng Quốc nhắc đến quan điểm của Edward W. Said (1935-2003) như lý do ông không thích nằm trong tổ chức và chỉ thích đứng một mình. Nhưng thực ra Said – nhà phê bình người Mỹ gốc Palestine, giáo sư văn tại Đại học Columbia, tác giả cuốn Orientalismlừng danh, người rất tích cực hoạt động cho quyền lợi chính trị và nhân quyền của dân Palestine, một tiếng nói được cho là có ảnh hưởng bậc nhất về đề tài này – lại nằm trong tổ chức Palestine National Council (Hội đồng Quốc gia Palestine) suốt 14 năm, từ 1977 đến 1991. Đến năm 2003, cùng năm ông mất vì bệnh nặng kéo dài, ông lại cùng ba người khác đứng ra thành lập tổ chức chính trị Al-Mubadara (Sáng kiến Quốc gia Palestine).[v]
Mặc dù cái “một mình” trong lập luận “trí thức là kẻ lưu vong, nghĩa là… một mình”, không giống với hành động của Edward W. Said, nhưng phải nói rằng chọn lựa “đứng một mình” hơn là “nằm chung” của anh Quốc dường như không phải là chọn lựa của một mình anh, mà cũng là của khá nhiều trí thức khác.
Nói thêm:
Thực ra thì chọn lựa đứng riêng, xét cho cùng, cũng là quyền tự do cá nhân. Vì vậy, không phê phán được!
Họ không ngồi được với nhau vì không thích thì đó là quyền bất khả xâm phạm của họ!
Như vậy thì: Các trí thức có “một mình”, cũng là việc của họ!? Và bài viết này hết sức tầm phào!?
Đúng vậy!
Nhưng, xin được hỏi tiếp:
Nếu vậy thì hóa ra “tin đồn” rằng người Việt Nam, nhất là giới nhân sĩ trí thức, tuy xuất chúng nhưng không thể ngồi lại với nhau không phải là tin đồn?
Vậy thì có phải cha ông mình “tụ nghĩa” để trừ bạo giữ nước bao đời đã sinh ra một dòng dõi không giống tông cũng chẳng giống cánh? Lông cánh cũ đã cuốn theo gió Bắc gió Tây nào mất rồi?
Trong khi đó, trí thức Tiệp Khắc lại có vẻ không ngại ký tên hay nằm chung. Những người viết ra Hiến chương 77, thành lập Civic Forum (Diễn đàn Dân sự), xuống đường biểu tình, làm nên Cách mạng Nhung 1989… đều là những trí thức mà tiêu biểu là Vaclav Havel và bằng hữu.
Phải chăng vì vậy mà thiên hạ thì có Cách mạng Nhung, có Mùa xuân Ả Rập… còn ta thì chỉ có Cách mạng Mùa Thu, và sau đó thì âm u?
Hay là chỉ có trí thức trong nước như Havel mới làm nên chuyện, còn trí thức ở ngoài nước, dù là Tiệp hay Việt, đều không làm được gì đáng để nhắc tới?
Quả thật, đó là điều đã xảy ra cho trí thức Đông Âu và Nga lưu vong. Tâm bão luôn ở trong nước, ở Ba Lan thì xoay quanh Lech Walesa, Adam Michnick, ở Tiệp thì xoay quanh Havel…
Điều này dường như cũng đang diễn ra trong hoàn cảnh Việt Nam: Ở trong nước nhiều trí thức đã tụ lại, ra kiến nghị, xuống đường chống ngoại xâm, liên tục làm việc để đánh thức xã hội dân sự, còn cộng đồng trí thức hải ngoại khó tụ lại, hầu hết chỉ hỗ trợ với tư cách cá nhân, không giữ vai chính.
4. Tiềm năng chưa khai thác?
Nếu vài ngàn nhân sĩ trí thức, tạm gọi là đang ở đỉnh kim tự tháp dân số, đang “độc tấu”, thì 4 triệu người Việt hải ngoại còn lại đang làm gì? Họ “hòa tấu” chăng?
4 triệu người Việt hải ngoại là con số nhỏ nếu so với 50 triệu người Hoa hải ngoại, nhưng lại rất lớn nếu so với dân số của cả quốc gia Do Thái chỉ có 8 triệu người, hay của Singapore chỉ hơn 5 triệu người.
Nói rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài như một dòng sông cuồn cuộn sức sống có lẽ rất đúng, nhưng phải chăng đó là một dòng sông chưa được đắp đập đúng cách để phát ra năng lượng khổng lồ?
Nếu ví cộng đồng người Việt hải ngoại như một “quốc gia”, thì phải chăng đó là một quốc gia không chính phủ, không công dân, không lãnh thổ, cũng không hiến pháp hay luật pháp, không chính sách, cũng không có người đưa ra, người thực thi hay người giám sát thực thi chính sách, không ai có quyền lực gì với ai, cũng không có quy chế thưởng phạt cho những việc làm đúng hay sai?
Vậy thì phải hiểu thế nào về cộng đồng người Việt ở nước ngoài?
Người Việt khắp nơi có hàng ngàn hội đoàn tự phát. Nhưng, phải chăng hầu hết đều được thành lập như những hội tương trợ, ra đời để giúp nhau hội nhập, duy trì bản sắc, tìm kiếm cơ hội làm ăn sinh sống, trao đổi thông tin, làm việc xã hội, giáo dục, từ thiện… phần lớn không ra đời vì mục tiêu đấu tranh chính trị trực tiếp, những gì vượt ngoài mục tiêu chính, ngoài tầm quan tâm, thậm chí ngoài tầm tin cậy của hội đoàn thì họ ngại, ít tham gia? Bên cạnh đó, phải chăng các tổ chức đấu tranh chính trị cũng chỉ là số nhỏ, chỉ thu hút một số nhỏ trực tiếp tham gia?
Theo thời gian, khi một số hội đoàn tại một địa phương hay quốc gia định cư liên kết được với nhau, họ bầu ra những cơ cấu đại diện và điều phối hoạt động chung, lấy tên gọi chung là “Cộng đồng” (như Cộng đồng Người Việt Tự do tại Úc, Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại Hoa Kỳ…).
Nhưng, phải chăng những tên gọi này thể hiện một ước mơ đáng trân trọng, thay vì là một thực tế? Phải chăng những Cộng đồng này cũng không là đại diện pháp lý cho đại đa số người Việt trong địa bàn? Phải chăng hầu hết các hội đoàn, tổ chức, cộng đồng hiện đang hoạt động với rất nhiều thiện chí và sự hy sinh, nhưng còn thiếu rất nhiều điều kiện, từ ngân sách, cơ sở, nhân sự, đến thời gian, khả năng chuyên môn…?
Thực ra, người Việt định cư ở nước nào thì trước hết họ là công dân của nước ấy. Họ đóng thuế, tuân thủ luật pháp, đi học, đi làm, hưởng mọi chính sách an sinh, được bảo vệ khỏi tác hại của thiên tai, tội ác, bất công, ngược đãi, được đại diện bởi những dân biểu mình bầu ra, khi ra nước ngoài họ cũng cầm hộ chiếu nước mình định cư cấp…
Trong khi đó, cũng nên thấy rằng: Họ không phải là “công dân” của một cộng đồng người Việt nào đó về pháp lý, họ không bị buộc phải gắn kết, tương tác với những người Việt khác. Họ như chim trời cá biển, không là “của” cộng đồng. Họ có tham gia việc chung thì hoàn toàn do tự nguyện. Mà tự nguyện thì không phải bổn phận, sẽ lúc có, lúc không.
Cũng vì vậy mà những người kiên trì làm việc, cống hiến cho cộng đồng, dù rất đáng quý, vẫn chỉ là con số nhỏ.
Tất nhiên, con số nhỏ ấy đã làm được nhiều việc để giúp đỡ người vượt biên, vượt biển, hỗ trợ công cuộc tái định cư, duy trì văn hóa, ngôn ngữ, hoạt động của họ cũng mang lại những kết quả đáng kể trong việc trình bày sự thật về thực tại đau thương của đồng bào Việt Nam dưới chế độ cộng sản cho thế giới bên ngoài, góp phần đấu tranh và hỗ trợ cho những con người bị đàn áp, tiếp sức cho những nỗ lực đấu tranh vì nhân quyền, dân chủ từ trong nước…
Nhưng, càng nhìn kỹ càng thấy rằng cộng đồng, các hội đoàn, các tổ chức của người Việt hải ngoại có thành công hay không, và thành công lớn hay nhỏ, đều tùy thuộc vào việc họ có được nhiều hay ít những người có tài, có tâm, có điều kiện và tự nguyện tham gia hay không.
Rút cuộc, cũng lại là những cá nhân. Lại là vấn đề con người.
Thời đại internet càng củng cố vai trò của cá nhân. Với tư cách cá nhân, họ có thể tiếp cận thông tin thẳng từ nhiều nguồn, không qua bộ lọc là một tờ báo duy nhất nào, hay quan điểm chính thống của một tổ chức nào. Và đông đảo người Việt hải ngoại đã tham gia ký kiến nghị, tự tổ chức những cuộc vận động, đấu tranh… cũng chỉ với tư cách cá nhân. Họ phản ứng nhiều khi còn nhanh hơn các tổ chức hay hội đoàn.
Vậy, điều gì đang kìm giữ những cá nhân kia, khiến họ vẫn “một mình”, và tiềm năng cộng đồng chưa phát huy được?
Điều gì đã khiến các nhân sĩ, trí thức người Việt hải ngoại thích đứng một mình và đứng hơi xa nhau?
Có nhiều lý do, từ ngoài tới, từ sự đổ vỡ niềm tin, từ đòn phép phân hóa của nhà nước cộng sản…, nhưng ở đây xin tập trung nói về những lý do bên trong.
5. Mình ta Napoléon?
Tờ The Economist số ra ngày 24/8/2013 có một bài thú vị, với cái tên cũng thú vị “A Problem of Cosmic Propotions” (Vấn đề khủng, khủng cỡ vũ trụ), bàn về dark energy (năng lượng tối), một thứ “thế lực” đang làm vũ trụ “xa nhau”. Điều đáng chú ý là bài báo cũng nói về thái độ của các nhà khoa học đối với nhau.
Bài báo cho biết: Các nhà thiên văn học thế giới từ năm 1998 đã đưa giả thuyết rằng vũ trụ đang nở ra, và nở càng lúc càng nhanh, vì tác động của dark energy. Nếu trọng lực là sức kéo vào, đưa các ngôi sao đến gần nhau, thì năng lượng tối lại là sức đẩy ra, đẩy các ngôi sao càng lúc càng xa nhau.
Nhưng, gần đây lại có ý kiến của một nhà khoa học Đức cho rằng chẳng có năng lượng tối nào hết, chỉ là các ngôi sao đang tự sướng, tự “béo phì”, tạo cảm giác chúng xa nhau, thế thôi!
Xin so sánh, dù khập khễnh: Phải chăng các “ngôi sao” nhân sĩ trí thức của người Việt dường như cũng đang bị một “thế lực đen tối” nào đó đẩy xa nhau, hoặc ít nhất là chưa đến được với nhau? Hay cũng chẳng có thế lực nào, chỉ tại các ngôi sao tự béo phì, tạo cảm giác xa nhau, thế thôi?
Trả lời cho thắc mắc trên, bài báo nhắc đến Giáo sư tiến sĩ Cliff Burgess, thuộc Viện Vật lý Lý thuyết Perimeter Institute, Canada. Giáo sư Cliff nói: Khi bàn về năng lượng tối, các nhà khoa học có quá nhiều ý kiến trái ngược, không ai chịu ai. Họ như một đám đông, ai cũng nghĩ mình là “Napoléon thứ thiệt”, còn chú Napoléon đứng bên cạnh chỉ là thằng khùng giả danh.[vi]
Nói thế chẳng khác nào Giáo sư Cliff chửi xéo các nhà khoa học, rằng họ đều là những Napoléon tự kỷ, không thèm biết người bên cạnh là ai, đang nghĩ gì, làm gì.
Nhưng, có lẽ giáo sư Cliff cũng đúng một phần. Ảo tưởng “mình duy nhất đúng” không chỉ là vấn đề tâm lý của kẻ cuồng tín, mà có thể là của bất cứ ai, của cả các nhà khoa học nữa, cả khi các nhà khoa học nghĩ về đồng nghiệp, đồng loại, đồng chí của mình. Đồng thì đồng, mà xa thì vẫn xa, chỉ vì ta mới thật, còn nó thì giả!
Phải chăng đó cũng là một rào cản tâm lý khiến người ta, dù không “đánh” nhau, vẫn cứ ở xa nhau?
(còn tiếp 1 kì)
© 2013 Từ Linh & pro&contra


[i] Nguyễn Gia Kiểng, “Hiến pháp: yêu cầu và kiến nghị”, trên trang www.ethongluan.org, tháng 2/2013.
[ii]  Nguồn: Wikipedia, từ mục “Overseas Vietnamese”. Số người Việt ở Nga theo thống kê chính thức năm 2002 là 26.000, nhưng có nguồn tin cho rằng con số không chính thức lên đến 100.000-150.000. Số người Việt ở Đài Loan cũng được cho là từ 120.000-150.000, trong số có đến gần 120.000 phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan.
[iii] Mượn lời Nguyễn Du trongTruyện Kiều, đoạn nói về Từ Hải.
[iv] Nguyễn Hưng Quốc, “Tôi không chống Cộng”, đăng trên trang mạng Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ngày 8/5/2013. Nguyên văn đoạn này như sau: “Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào, dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong ‘đội ngũ’, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ ‘Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ’, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. ‘Lực lượng’ của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.”
[v] Nguồn: Wikipedia, từ mục “Edward W. Said”
[vi] The Economist, số 24/8/2013, “A Problem of Cosmic Propotions”
ShareSHARE
http://www.procontra.asia/?p=3446