Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Cải cách hay sụp đổ!?

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 15 tháng tám năm 2013

Tống văn Công

                                                                                     (Đọc “Tôi biết làm thế nào” của Tập Cận Bình)

I. TÔI THƯỜNG ĐỂ TÂM CÂU THÀNH NGỮ TRUNG HOA: ĐỒNG  BỆNH TƯƠNG LIÊN.

“Tôi biết làm thế nào?” là bài được tạp chí Tiền Tiêu, Hồng Công, tháng 4-2013 đăng theo ghi âm phát biểu nội bộ của Tổng bí thư Tập Cận Bình. Viet-studie đăng bản tiếng Việt  ngày 14-7. Đã gần tròn một tháng, Bắc Kinh vẫn không bác bỏ, vậy có thể tin bài này có thật.

Tôi thường để tâm đến Đảng Cộng sản Trung quốc, không chỉ vì nó liên quan đến vận mệnh của đất nước mà còn liên quan đến vận mệnh của Đảng Cộng sản Việt nam như một thành ngữ Trung hoa: “đồng bệnh tương liên”. Năm 2010, tôi viết bài “Những điều nên học và không nên học từ Trung quốc”, cho rằng thuyết “Mèo trắng, mèo đen” của Đặng Tiểu Bình và thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân có ý nghĩa tích cực. Bởi các lý thuyết này giúp Đảng Cộng sản Trung quốc vứt bỏ ý thức hệ cộng sản, thẳng tiến vào chủ nghĩa tư bản (nhiều học giả kèm thêm mấy chữ “hoang dã”, “thân hữu”) mà vẫn có thể khẳng định rằng đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, giữ yên lòng các lão thành cách mạng.

Ngày 25-2-2010, Tuần Việt Nam đưa bài này lên mạng, lập tức  hai cơ quan quản lý nhà nước buộc phải lấy xuống ngay. Theo Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn, các cơ quan này sợ mất lòng Đảng bạn, vì bài viết chỉ trích hai điều không nên học Đảng Cộng sản Trung Quốc:

1-Tham nhũng, gây khoảng cách giàu nghèo rất lớn ;

2- Đàn áp đẫm máu phong trào đòi dân chủ ở Thiên An Môn.

Cả hai vấn đề nay đều được Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhắc đến. Các nhà lý luận chính thống của Việt Nam vẫn không đồng ý hai thuyết nói trên, họ cho rằng “mèo trắng, mèo đen” là thứ chủ nghĩa cơ hội. Kể ra  cũng có lý, bởi để mua lòng “con hổ giấy”, ông Đặng đã  không rung tay chỉ đạo  hai cuộc chiến biên giới phía Bắc và Tây Nam để  lấy máu Việt Nam đem đặt cược. Tuy dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đã nếm quá nhiều vị đắng từ người đồng chí “bốn tốt”, nhưng  tôi vẫn cứ  nuôi ảo vọng trước khi đọc Tập Cận Bình, người cầm trịch của thế hệ lãnh đạo thứ 5 ! Tuy nhiên…

II- ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG  QUỐC  ĐÃ THAY ĐỔI  BẢN CHẤT HAY VỐN NÓ LÀ  NHƯ THÊ ?

Tập Cận Bình có những luận điểm về Đảng cộng sản Trung Quốc rất đáng kinh ngạc :

1-“ Đảng Cộng sản chúng ta làm gì đều xuất phát từ lợi ích căn bản và logic của chúng ta”.

 Nghe cái “lợi ích căn bản” này không khỏi nhớ chuyện chia quả thực trong cải cách ruộng đất. Ở thế kỷ trước, các Đảng cộng sản đều dạy cho  đảng viên  của mình về Đạo đức cách mạng (Hồ Chí Minh) và Bàn về tu dưỡng của đảng viên cộng sản (Lưu Thiếu Kỳ). Cả hai ông đều nói, Đảng cộng sản chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân, ngoài ra Đảng không có  lợi ích nào khác. Hồ Chí Minh còn nói rõ:” Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Nếu đảo ngược lại Đảng làm gì cũng xuất phát từ lợi ích của mình, thì hẳn là chẳng  đếm xỉa tới nỗi  khổ và nguyện vọng của nhân dân!

2- “Nếu xâm phạm quá mức tới lợi ích của quần chúng nhân dân, rõ ràng sẽ tác động không tốt tới lợi ích lâu dài của Đảng”.
Câu này cho thấy lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân  khác nhau. Do đó,  Đảng chỉ nên xâm phạm  lợi ích của nhân dân vừa vừa, phải phải, để dân còn chịu được lâu dài. Nhân dân đang ở vị thế thần dân, tưởng mình còn  nhờ  ơn mưa móc,  không quá bức xúc mà  nổi loạn!

3 - “Chúng ta phải làm thế nào để kiên trì không mệt mỏi sự nghiệp của Đảng ta, củng cố cho được chính quyền mà Đảng chúng ta phải chịu bao nhiêu gian khổ mới giành được”.

Như vậy chính quyền  do Đảng giành lấy thì nó mãi mãi là của Đảng. Trước kia, chúng tôi được dạy rằng “Marx nói quần chúng sáng tạo ra lịch sử”, và “Lê nin nói, cách mạng là ngày hội của quần chúng”(Lê nin toàn tập, tiếng Việt,tập 11, trang 131). Hồ Chí Minh nói “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương  do dân cử ra”(TT, ST, 1985,T1, trang 299 và “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”( TT,ST, 1984, T4, trang 283).

Có lẽ các luận điểm của Tập Cận Bình  xuất phát từ việc kiên trì chủ nghĩa Mao :”Tôi vẫn phải nhấn mạnh tinh thần cách mạng của đồng chí Mao Trạch Đông”. Mao là cha đẻ   thuyết “Súng đẻ ra chính quyền”. Có rất nhiều thức giả trong và ngoài Trung Quốc  đánh giá Mao rất tệ hại : Đảng viên cộng sản, đại tá Tân Tử Lăng, trong quyển sách viết về Mao đã nhận định:” Nhảy vọt lớn và Đại cách mạng văn hóa vô sản là sự phát triển ác tính của chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông. Ba năm nhảy vọt lớn, cả nước có 37, 55 triệu người bị chết đói”. Ông Lý Quang Diệu nói:”Ông ta thật điên rồ”. Nguyên Thủ tướng Đức Helmut Schmidt nói:”Mao là một tay tàn bạo”. Giáo sư Francis Fukuyama, đại học Stanford nói, Mao là một “ngụy vương”…

Nhưng tại sao nhà cải cách Đặng Tiểu Bình lại  chủ trương bảo vệ Mao? Hãy nghe Helmut Schmidt kể với Lý Quang Diệu như sau:”Năm 1983, tôi có buổi trò chuyện với ông ấy. Hai chúng tôi và người phiên dịch. Khi đó, chúng tôi đã quen nhau gần mười năm cho nên nói chuyện khá cởi mở và thân mật.Tôi giễu cợt:” Nhìn kỹ vào thực tế thì thấy những người cầm quyền ở Bắc Kinh không trung thực cho lắm; họ tuyên bố mình là cộng sản, nhưng thực ra thì họ theo Khổng giáo.”  Ông Đặng có vẻ hơi sốc một chút, mất vài giây, nhưng sau đó thì ông ấy đáp lại vỏn vẹn ba từ. Ba từ đó là :”Thì đã sao?”. Ông Đặng công nhận mình theo Khổng giáo,  một học thuyết bảo vệ vương quyền, xưa  là các hoàng đế Trung Hoa,  nay là những vị “vua tập thể”! Do đó, Đặng  bảo vệ Mao đâu có gì khó hiểu! Có lẽ chúng ta đã nhầm, Đảng Cộng sản Trung Quốc xưa nay vốn vẫn y như thế!

III -  GIẢI Mà VỤ THẢM SÁT THIÊN AN MÔN.

Tập Cận Bình nói:”Phong trào dân chủ Thiên An Môn ngày 4-6-1989 cho tới nay là cái cớ để các thế lực phản động trong và ngoài nước công kích Đảng ta. Đồng chí Triệu Tử Dương cũng do đó mà bị hạ bệ và đưa lại hậu quả nghiêm trọng”. Đây không phải ý kiến riêng của Tập Cận Bình mà là quan điểm xuyên suốt  của các thế hệ cầm quyền Bắc Kinh. Phân tích vụ thảm sát Thiên An Môn sẽ cho thấy rõ 3 quan điểm lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

 1- CÁC THẾ  LỰC THÙ ĐỊCH CHÍNH LÀ NHÂN DÂN NHEN NHÓM PHONG TRÀO DÂN CHỦ .
  Mặc dù nhà cầm quyền Trung Quốc đã ký kết các Công ước  dân chủ, nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, nhưng họ luôn luôn bài bác cái gọi là “dân chủ, nhân quyền của phương Tây”. Các nhà lý luận Trung Quốc cho rằng Mỹ và Phương Tây muốn  Trung Quốc “Tây hóa”, hòng chống phá   chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.  Lưu Minh Phúc tác giả  Giấc mơ Trung Quốc ( Gần đây, Tập Cận Bình nêu lên như là một quyết sách của chính ông) cho rằng Mỹ đưa ra “3 định luật chính trị” nhằm lật đổ địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc

:1-Chế độ một Đảng là nguồn gốc tham nhũng.
2- Liên Xô sụp đổ là do chỉ có một Đảng cầm quyền.
3- Phải thực hiện đa Đảng  thì mới là nhà nước dân chủ.

Lưu Minh Phúc cho rằng: “Đảng cộng sản Trung Quốc trường kỳ cầm quyền sẽ bác bỏ “3 định luật chính trị  kiểu Mỹ”(trang 586). Ông cho rằng, Trung Quốc sẽ vô hiệu hóa con át chủ bài “dân chủ kiểu Mỹ” bằng “chế độ thống nhất hữu cơ gồm có 3 yếu tố: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhân dân làm chủ và Nhà nước pháp trị”( trang 579).
Thực tế cho thấy “chế độ thống nhất hữu cơ” này đưa tới: Đảng độc quyền, Đảng làm chủ, Đảng trị. Giáo sư Trương Duy Vi  trong đối thoại với giáo sư Francis Fukuyama, cho rằng hệ thống bầu cử Mỹ chỉ là “trình diễn dân chủ”. Trung Quốc, ngược lại, “ đó là quốc gia chỉ có thể được điều hành bởi những người có đủ tài năng và kinh nghiệm, được lựa chọn theo chế độ tuyển dụng nhân tài truyền thống”. Ông còn lạc quan hơn cả Lưu Minh Phúc về sự trường tồn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi nêu ra khái niệm “khí” của văn hóa Trung Hoa: Mỗi triệu đại hưng thịnh trong lịch sử Trung Hoa đều kéo dài từ 200 đến 300 năm. Sự trỗi dậy hiện nay, do đó có thể coi là chỉ  mới bước vào giai đoạn khởi đầu! Ông đưa ra 4 điều bất cập của chế độ dân chủ, trong đó có tình trạng xấu là rất  khó tạo ra sự đồng thuận cao, một Đảng thắng cử chỉ đạt 51% phiếu bầu.  Trung Quốc không bị ràng buộc bởi thứ dân chủ ấy, nhờ đó  Đảng có thể  quyết định được mọi việc một cách rất nhanh chóng.

Các học giả của Đảng không biết rằng, Tocqueville đã từng lo ngại nguy cơ “chuyên chế của đa số” ông cho rằng phải có  nền quản lý phi tập trung để góp phần cho cá nhân bớt bị bộ máy quan liêu đè nén, và cần phải có tòa án độc lập để đối trọng với quyền lực của đa số. Huống hồ ở Trung Quốc hiện nay là nền chuyên chế không phải của đa số mà là của chế độ toàn trị  một Đảng, lại không có nền  tư pháp độc lập!

2- QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẢNG.
      
Đảng Cộng sản Trung Quốc từ chỗ coi Quân Giải phóng Nhân dân  là công cụ của nhân dân như tên gọi của nó, có nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài  để giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị ngoại bang và các thế lực cường quyền áp bức. Dù tên gọi vẫn không đổi, nhưng ngày nay Quân Giải phóng Nhân dân  bị buộc  phải  là công cụ của Đảng để đàn áp nhân dân gây thảm sát ở Thiên An Môn. Trong lịch sử, các nhà nước độc tài đều dùng bạo lực đàn áp nhân dân, nhưng vụ thảm sát Thiên An Môn đứng đầu về mức độ man rợ. Người ta huy động  quân đoàn 27 và 28  từ  xa, âm thầm tiến vào thủ đô từ  4 giờ khuya, xông thẳng vào  những trí thức,  sinh viên, công nhân  trong  tay không tấc sắt,  bắn chết và  nghiền nát  hơn 800 người, làm bị thương hơn 10.000 người !

Hiện nay, để đáp ứng tham vọng bá quyền, Tập Cận Bình đang đòi hỏi Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đáp ứng cho được “cuộc chiến tranh quy mô lớn trong điều kiện kỹ thuật cao phức tạp, có Mỹ tham chiến”!

3- ĐỒNG THỜI  THẢM SÁT QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA CÁC DÂN TỘC.
       
Vụ thảm sát  dân chủ ở Thiên An Môn cũng đồng thời  thảm sát quyền tự quyết của các dân tộc vừa manh nha trong các  nhà lãnh đạo có tư tưởng cải cách  dân chủ,  để nuôi lớn chủ nghĩa dân tộc  sô vanh Đại Hán. Trước khi gây ra vụ thảm sát Thiên An Môn, Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đã  sa thải liên tục hai Tổng bí thư có tư tưởng cải cách chính trị là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương.

Hồ Diệu Bang bị kết tội “sai lầm trong những nguyên tắc chính trị”: Cảm thông, lắng nghe và  tiếp thu  ý kiến của trí thức về tự do, dân chủ. Tán thành tự do ngôn luận, tự do báo chí. Rút cán bộ người Hán khỏi Tây Tạng, để cho người Tây Tạng điều hành việc quản lý khu tự trị của mình.

Triệu Tử Dương  kế nhiệm và cũng kế tục tư tưởng  Hồ Diệu Bang: Chủ trương phát triển kinh tế phải đi đôi với dân chủ hóa chính trị. Chấp nhận đối thoại với trí thức, sinh viên đang biểu tình ở Thiên An Môn.  Bỏ lá phiếu duy nhất chống quyết định thiết quân luật, để gây ra vụ thảm sát. Trong  hồi ký  viết khi đã bị quản chế, ông cho rằng:”Hệ thống nghị viện dân chủ Phương Tây là con đường duy nhất giúp cho Trung Quốc có thể giải quyết nạn tham nhũng và cách biệt giàu nghèo to lớn”.

Ngay khi còn “ẩn mình chờ thời”, những nhà lãnh đạo nuôi  tư tưởng quân quyền đã  thẳng tay  dìm nhân dân mình vào bể máu Thiên An Môn và  nuốt chững các dân tộc Tây Tạng, Uyghur Tân Cương, Nội Mông. Vậy thì ngày nay, khi đã trỗi dậy, tự cho mình tư cách sắp đứng đầu thế giới, việc họ  ngang nhiên tuyên bố “các lợi ích cốt lõi”, thè “lưỡi bò”  liếm trọn Biển Đông, đe dọa các nước trong khu vực là sự phát triển logic của chủ nghĩa bá quyền!

IV- CẮT CÁI NGỌN THAM NHŨNG, GIỮ CÁI GỐC TOÀN    TRỊ!
       
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có nhiều nghị quyết về chống tham nhũng. Hệ thống  tuyên huấn Đảng, bộ máy truyền thông nhà nước thường xuyên, rầm rộ tuyên truyền  sâu rộng nhằm tạo niềm tin rằng không cần thực hiện đa đảng, cũng không cần tam quyền phân lập kiểu phương Tây, vẫn có thể chống tham nhũng thắng lợi. Chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc là thực hiện dân chủ trong Đảng thay thế cho dân chủ ngoài xã hội, phân chia định chế tổ chức của Đảng thành 3 bộ phận:1-  Ra quyết định. 2- Thực thi chính sách. 3- Giám sát. Tức là chuyên môn hóa theo chức năng “3 định chế”  trong nội bộ của Đảng.

Cách làm đó  giữ cho  Đảng đứng trên sự giám sát, đứng trên Hiến pháp. Ủy ban trung ương về Chính trị và Pháp luật của Đảng (CCPL- Chính pháp Ủy) chỉ đạo các cơ quan chức năng của nhà nước như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ An ninh quốc gia. Đây được coi là bộ máy quyết định tiêu diệt tham nhũng của Trung Quốc.

Nhiều nhà lý luận lớn của họ viết sách cổ vũ cho niềm tin này. Trong Giấc mơ Trung Quốc của Lưu Minh Phúc xuất bản năm 2009 có đoạn: “Làm nên kỳ tích “Trị quốc liêm khiết lâu dài” hiệu quả hơn cạnh tranh đa Đảng”. Ông  thuyết lý vấn đề  một cách rổn rảng dài dòng: ”Chúng ta cần phải đi con đường liêm khiết đặc sắc Trung Quốc, xây dựng quốc gia đặc sắc liêm khiết Trung Quốc, xã hội liêm khiết đặc sắc Trung Quốc. Trung Quốc giàu mạnh ắt phải là Trung Quốc liêm khiết. Xây dựng một hệ thống chính quyền liêm khiết  đặc sắc Trung Quốc là như thế nào? Đây là một vấn đề cần bứt phá và sáng tạo mới.” Nhưng sau đó không thấy ông chỉ ra thế nào là sự “ bứt phá và sáng tạo mới”!

Giáo sư Trương Duy Vi  cho rằng tham nhũng là vấn đề kinh tế chứ không phải chính trị, khi nói “các vùng đã phát triển của Trung Quốc miễn dịch tốt hơn với tham nhũng” và kết luận rằng để chống tham nhũng đạt hiệu quả thì “Quản trị tốt là điều quan trọng hơn dân chủ hóa theo phong cách Phương Tây”.  Tập Cận Bình nhiều lần nói về nạn tham nhũng, gọi nó là “con hổ” và đồng ý với Trưởng ban kiểm tra kỷ luật Trung ương Vương Kỳ Sơn rằng cách làm hiện nay chỉ là “xì hơi khi quả bóng quá căng”, “lấy đũa khuấy nồi canh đang sôi để nước không tràn”, “chỉ là trị ngọn chứ không trị tận gốc”. Như vậy Tập Cận Bình đã phải công nhận sự phá sản của chiến lược chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Thực ra  từ lâu người dân Trung Quốc đã thấy điều đó.  Vụ Bạc Hy Lai vỡ ra cho thấy những kẻ tham nhũng lớn không phải là cá biệt mà là sản phẩm phổ biến của chế độ Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật. Chế độ đảng trị đang dung chứa ngày càng  nhiều những “đồng chí chưa bị lộ”. Trong cuộc đối thoại với Trương Duy Vi, giáo sư Francis Fukuyama có nhận xét xác đáng: ”Ở nhiều khía cạnh khác, cơ cấu quản trị xã hội ở Trung Quốc ngày nay lại rất giống với những gì từng tồn tại dưới triều đại Tần Thủy Hoàng. Đó là một chính phủ quan liêu tập trung có chất lượng cao được xây dựng trên sự tuyển chọn khách quan và các luật lệ mang tính hình thức”. Và, “Ngày nay trong chính phủ Trung Quốc tính giải trình và chịu trách nhiệm theo chiều từ cấp dưới lên cấp trên trong hệ thống do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thay vì Hoàng đế hay vua như trước kia”. Và “đặc tính quan liêu luôn mang lại tình trạng tham nhũng và điều hành yếu kém.” Trả lời bạn đọc BBC “ vì sao tham nhũng là vấn nạn lớn của Trung Quốc?”, nhà bình luận quốc tế kỳ cựu John Simpson đáp:” Nó luôn là vấn nạn lớn khi các xã hội khép kín đột nhiên tiếp xúc với tiền bạc mà không có sự giám sát phù hợp”. Có lẽ nên nói thêm: Tuy đã mở cửa, nhưng bên trong xã hội Trung Quốc, vẫn tiếp tục là một xã hội khép kín, vì nó không có tự do tư tưởng, tự do báo chí, không có  một xã hội dân sự đúng nghĩa.

Tập Cận Bình đặt câu hỏi và trả lời:”Khi nào chúng ta mới trị được tận gốc nạn tham nhũng ? Có lẽ phải đợi tới khi mà lý luận, đường lối, chế độ bắt đầu đứng trước sự điều chỉnh thực sự. Có người hỏi, tới khi đó có quá muộn không? Tôi cho rằng có lẽ chúng ta phải tìm câu trả lời trong cuốn sách “Chế độ cũ và Đại cách mạng” mà đồng chí Vương Kỳ Sơn giới thiệu với chúng ta.”  Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn muốn nói đến quyển Chế độ cũ và Cách mạng ( L` ancien Régime et la Révolution) của Tocqueville  xuất bản năm 1856 . Tocqueville cho biết đây là tập 1 của bộ Lịch sử Cách mạng Pháp, nhưng cái chết đột ngột đến với ông khiến cho  không có tập 2. Tác phẩm này chứng minh, cách mạng   hoàn tất sự phát triển đã hình thành sẵn trong lòng của chế độ cũ. Ngày 30-11- 2012,  Vương Kỳ Sơn kêu gọi các quan chức và học giả nên đọc quyển sách này. Sau đó, các báo chính thống đều đăng tin này, nhưng tóm tắt nội dung sách méo mó và  chỉ gọn lỏn hai câu:”Chế độ phong kiến trước kia sụp đổ và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng”.

Từ cách làm này cho  thấy mục đích chính của Tập Cận Bình, Vương Kỳ Sơn chỉ là muốn cảnh báo với các quan chức của Đảng Cộng sản rằng, quan liêu và tham nhũng có thể làm cho một chế độ hùng mạnh phải  sụp đổ. Đồng thời, cảnh báo với  giới  trí thức rằng nếu đòi  dân chủ hóa nhanh chóng, thì  có thể gây ra hỗn loạn, đổ máu và nhiều hậu quả khôn lường. Đây là  thủ đoạn “quản lý thông tin” phục vụ cho điều ông gọi là tiếp tục “3 tin tưởng”  để thực thi  “liệu pháp giữ nguyên”, khiến cho việc chống “con hổ tham nhũng” chỉ nhằm “cái ngọn”, còn “cái gốc” là chế độ toàn trị thì không được động đến bởi sợ “rút dây động rừng”!

V- LỜI GIẢI CỦA NHÀ CÁCH MẠNG VĨ ĐẠI TÔN TRUNG SƠN.
         
Tập Cận Bình nhắc lời Hồ Cẩm Đào, phải sáng tạo, đổi mới  phương pháp quản lý xã hội và bác bỏ “một số dư luận lại cho rằng đây chỉ là chủ nghĩa kỹ trị để tăng cường tính chuyên chế độc đoán của một Đảng”. Các nhà lãnh đạo và học giả Trung Quốc tìm cách chứng minh rằng phát triển kinh tế phồn vinh là bảo đảm vững chắc cho độc quyền lãnh đạo của Đảng. Giáo sư Trương Duy Vi cho rằng Mùa Xuân A rạp không phải là phong trào  tự do mà chỉ là vấn đề kinh tế. Nhiều người  bác bỏ ý kiến này cho rằng: Kỹ sư Bouazizi - người châm ngòi nổ Mùa xuân A rap – tự thiêu không phải vì bị thất nghiệp mà để phản đối sự xúc phạm nhân phẩm!  Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào tìm đến thuyết kỹ trị của các học giả Mỹ  thế kỷ 20, cho rằng có thể  thực hiện một cuộc “cách mạng quản lý” để ổn định xã hội,  không cần phải cải cách chính trị.

Trong Giấc mơ Trung Quốc, tác giả Lưu Minh Phúc có một nhận định đúng là “Làm người cải cách khó hơn làm người cách mạng”…Người cách mạng bao giờ cũng là động lực của cách mạng chứ không thể trở thành đối tượng của cách mạng; người cải cách vừa là động lực cải cách lại vừa là đối tượng của cải cách”. Chứng minh cho việc này, ông cho biết có đến 97% quan chức Trung Quốc phản đối công khai tài sản riêng. Về vấn đề này Việt Nam có câu thành ngữ rất hay “Không ai muốn lấy đá ghè chân mình”!

Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều nhân dân và đảng viên cộng sản Trung Quốc công khai  đòi hỏi phải cải cách chính trị.
Ngày 25-12-2012,  hơn 70 trí thức hàng đầu Trung Quốc trình Bản Kiến nghị kêu gọi Ban lãnh đạo mới sau Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải  cải cách chính trị, thực hiện bầu cử tự do,  tự do ngôn luận và nền tư pháp độc lập. Kiến nghị có đoạn:” Nếu những cải cách hệ thống chính trị mà xã hội Trung Quốc đang đòi hỏi khẩn cấp tiếp tục bị ghìm nén và tình trạng tham nhũng, bất bình xã hội tích tụ đến mức độ nguy hiểm và bùng nổ thì lúc đó Trung Quốc sẽ một lần nữa để lỡ cơ hội cải cách hòa bình, sẽ chìm  trong hỗn loạn của cách mạng bạo lực”.*

Trước đó, ngày 29-11-2011, giáo sư Tôn Lập Bình, người thày hướng dẫn Tập Cân Bình làm luận án tiến sĩ , đã  phát biểu tại cuộc hội thảo ở Bắc Kinh:”Tôi nghĩ rằng, vào lúc này, dân chúng vẫn còn một chút tin tưởng và cảm tình dành cho chính quyền. Nếu một vấn đề nào đó không được giải quyết mà lãnh đạo xin lỗi thì người dân vẫn cảm động đến khóc. Tuy nhiên cơ hội này không kéo dài. Nhiều lắm là 5 đến 10 năm. Có thể không đến 10 năm. Có thể trên dưới 5 năm. Khi đó chỉ còn một cách là: Cai trị bằng bạo lực, đàn áp bất cứ ai chống đối”. Ông trùm bất động sản Nhiệm Chí Cường viết trên blog của mình: ”Nếu không cải cách sẽ không có Đại hội Đảng lần thứ 19 !” *
Gần đây ở Trung Quốc có hai hiện tượng  rất đáng coi trọng là:

1- ĐANG  XUẤT HIỆN NHIỀU ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN MUỐN THỰC HIỆN  MỘT NỀN DÂN CHỦ ĐA ĐẢNG .

Càng ngày càng có nhiều đảng viên cộng sản cao cấp, đặc biệt là các nhà lý luận của Đảng  lên tiếng yêu cầu thực hiện nền dân chủ kiểu phương Tây. Nhà lý luận nổi tiếng của Đảng cộng sản Trung Quốc, Du Khả Bình viết: ”Sẽ nguy hiểm chết người nếu cho rằng Trung Quốc chỉ cần dân chủ trong Đảng, thay vì một nền dân chủ thực sự cho nhân dân (nhân dân dân chủ) hay dân chủ xã hội ( xã hội dân chủ), cả hai hình thức dân chủ này đều bao hàm bầu cử đại chúng và thực hiện từ cơ sở”.  Giáo sư Vương Trường Giang chủ nhiệm bộ môn xây dựng Đảng của Trường Đảng Trung ương nói: ”Thúc đẩy dân chủ trong nội Đảng không vì thế mà hi sinh dân chủ của toàn xã hội.” Ông dẫn chứng những cuộc khủng hoảng ở Tây Tạng , Tân Cương và những cuộc bạo loạn xã hội nổi lên khắp nơi, rồi nhận định: ” Dân chủ cho xã hội là thứ không thể ngồi chờ mà có được!”. Nữ học giả Từ Trung Quân, nguyên giám đốc Viện nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội TQ, phê phán các nhà lãnh đạo có quan điểm cho rằng dân chủ là thứ không phù hợp với truyền thống Trung Quốc và “những giá trị phổ quát toàn cầu” chỉ là âm mưu của Phương Tây nhằm chống phá Trung Quốc. Cả ba học giả nổi tiếng nói trên đều là đảng viên cộng sản, vậy tại sao họ lại tán thành nền dân chủ đa nguyên chính trị, sẽ xuất hiện  những chính Đảng cạnh tranh với Đảng của họ?  Những người bảo thủ cho rằng như vậy tức là chống Đảng, phản Đảng.

Thực ra,  những đảng viên trí thức này  hiểu rõ sự  độc quyền toàn trị chính là nguyên nhân gây thoái hóa  Đảng, làm cho Đảng sụp đổ một cách nhục nhã. Hiên nay Đảng đã lâm vào  tình trạng mà Tập Cận Bình  gọi một cách bóng bẩy là ”Đảng phong trong nội bộ Đảng hiện nay không bằng trước đây”. Nếu nói thẳng ra là, một Đảng quan liêu, tham nhũng, phản bội nhân dân! Sự suy thoái của Đảng kéo theo sự băng hoại đạo đức của cả xã hội. Do đó, các đảng viên cộng sản này muốn đặt lợi ích và  tiền đồ dân tộc lên trên quyền lợi ích kỷ của Đảng và cũng là một cách cứu Đảng may ra khỏi bị ghi danh bạo chúa, sau Tần Thủy Hoàng.

2- NHIỀU ĐẢNG VIÊN LÀ SĨ QUAN QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN  KÊU GỌI“QUÂN ĐỘI LÀ CỦA QUỐC GIA”.

       Cuối năm 2012, một số đảng viên là sĩ quan Quân Giải phóng Nhân dân phát lời kêu gọi  chủ trương “quân đội là của quốc gia” thay vì “quân đội là của Đảng”. Phong trào này là sự thức tỉnh của các đảng viên là sĩ quan sau những vụ dùng quân đội đàn áp đẫm máu ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và nhiều cuộc bạo loạn của nông dân bị mất đất đang xảy ra  khắp nơi. Cũng có thể nói sự thức tỉnh ấy được  nhen nhóm từ ngọn lửa âm ỉ  ở vụ thảm sát Thiên An Môn hơn 20 năm trước. Giáo sư Tiễn Lý Quần của Đại học Bắc Kinh cho rằng các “thái tử Đảng” trong quân đội giải phóng nhân dân sẽ ủng hộ chủ trương này. *

Hai hiện tượng nói trên cho thấy xu thế  của phong trào dân chủ đang phát triển rất sâu sắc. Tờ  Hoàn cầu Thời báo (bản tiếng Anh) thông báo cuộc thăm dò của họ ở 7 thành phố  Trung Quốc cho thấy có 63,6% người được hỏi không phản đối việc chấp nhận nền dân chủ kiểu phương Tây cho Trung Quốc. Có lẽ, Tập Cân Bình và các nhà lãnh đạo thế hệ thứ 5 của Đảng Cộng sản Trung Quốc không cần tìm sách ở đâu xa mà chỉ cần học lại lời dạy  của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn ngày 9-3-1924 trong bài thuyết giảng của ông với quốc dân:

“Thế giới ngày nay là thế giới gì? Là thế giới dân quyền! Tuy mầm mống đã có từ thời Hy Lạp, La Mã cách đây hơn 2000 năm, nhưng nó mới được xác lập vững vàng cách đây 150 năm… Dân quyền là người dân đấu tranh với nhà vua, cũng có thể nói là người thiện đấu tranh với kẻ ác, công lý đấu tranh với cường quyền. Ở thời đại này, dân quyền dần dần phát triển. Chủ trương nền chính trị dân quyền, chúng ta phải khảo sát tình hình dân quyền ở các nước trên thế giới để thực hiên cho tốt. Bởi vì từ khi có lịch sử, Trung Quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền. Lịch sử Trung Quốc trải 4000 năm, có thời thịnh trị có thời loạn ly, nhưng đều áp dụng chế độ quân quyền.”

Một tập trung trí tuệ Trung Hoa mới mẻ và sát cuộc sống hiện nay hơn, đó chính là Bản Linh bát Hiến chương ra đời ngày 10-12-2008 bởi 300 người con ưu tú nhất của Trung Hoa đứng đầu là Lưu Hiểu Ba, người sống sót trong vụ thảm sát Thiên An Môn. Linh bát Hiến chương có những chữ lớn là: Tự do, Nhân quyền, Bình đẳng, Cộng hòa, Dân chủ, Hiến trị. Và những điều “ nhiệt liệt cổ vũ” là: Một Hiến pháp đảm bảo nhân quyền, dân quyền; Một nhà nước phân chia và hạn chế quyền lực; Một nền tư pháp độc lập đứng trên mọi đảng phái; Quân đội, Công an chịu trách nhiệm trước chính phủ, không dính dáng với đảng phái…

Xin cầu chúc  Trung Quốc trỗi dậy cũng đồng thời là  Trung Quốc thức tỉnh tự do dân chủ! Đó không chỉ là hạnh phúc của 1,3 tỉ  nhân dân Trung Quốc anh em! Đó còn là may mắn cho lân bang  và  toàn nhân loại yêu chuộng  hòa bình!
                                                           
Tống văn Công
11- 8 2013
                                                               
-----------------
.* Theo “Hồi kết cho chế độ chuyên chế dẻo dai của Đảng cộng sản Trung Quốc”… của Cheng Li (Lý Thành) đã đăng trên Thời đại của  Viet-studies.

* Bài của tác giả gửi tới TTHN
http://webwarper.net/ww/~av/www.tintuchangngayonline.com/2013/08/tong-van-cong-cai-cach-hay-sup-o.html

Tống văn Công

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 15 tháng tám năm 2013

                                           (Đọc “Tôi biết làm thế nào” của Tập Cận Bình)

I. TÔI THƯỜNG ĐỂ TÂM CÂU THÀNH NGỮ TRUNG HOA: ĐỒNG BỆNH TƯƠNG LIÊN.

“Tôi biết làm thế nào?” là bài được tạp chí Tiền Tiêu, Hồng Công, tháng 4–2013 đăng theo ghi âm phát biểu nội bộ của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Viet–studie đăng bản tiếng Việt ngày 14–7. Đã gần tròn một tháng, Bắc kinh vẫn không bác bỏ, vậy có thể tin bài này có thật.

Tôi thường để tâm đến Đảng Cộng sản Trung quốc, không chỉ vì nó liên quan đến vận mệnh của đất nước mà còn liên quan đến vận mệnh của Đảng Cộng sản Việt nam như một thành ngữ Trung hoa: “đồng bệnh tương liên”. Năm 2010, tôi viết bài “Những điều nên học và không nên học từ Trung quốc”, cho rằng thuyết “Mèo trắng, mèo đen” của Đặng Tiểu Bình và thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân có ý nghĩa tích cực. Bởi các lý thuyết này giúp Đảng Cộng sản Trung quốc vứt bỏ ý thức hệ cộng sản, thẳng tiến vào chủ nghĩa tư bản (nhiều học giả kèm thêm mấy chữ “hoang dã”, “thân hữu”) mà vẫn có thể khẳng định rằng đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, giữ yên lòng các lão thành cách mạng.
Ngày 25–2–2010, Tuần Việt nam đưa bài này lên mạng, lập tức hai cơ quan quản lý nhà nước buộc phải lấy xuống ngay. Theo Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn, các cơ quan này sợ mất lòng Đảng bạn, vì bài viết chỉ trích hai điều không nên học Đảng Cộng sản Trung quốc:

1 – Tham nhũng, gây khoảng cách giàu nghèo rất lớn;

2 – Đàn áp đẫm máu phong trào đòi dân chủ ở Thiên An Môn.

Cả hai vấn đề nay đều được Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhắc đến. Các nhà lý luận chính thống của Việt nam vẫn không đồng ý hai thuyết nói trên, họ cho rằng “mèo trắng, mèo đen” là thứ chủ nghĩa cơ hội. Kể ra cũng có lý, bởi để mua lòng “con hổ giấy”, ông Đặng đã không run tay chỉ đạo hai cuộc chiến biên giới phía Bắc và Tây Nam để lấy máu Việt nam đem đặt cược. Tuy dân tộc Việt nam và Đảng Cộng sản Việt nam đã nếm quá nhiều vị đắng từ người đồng chí “bốn tốt”, nhưng tôi vẫn cứ nuôi ảo vọng trước khi đọc Tập Cận Bình, người cầm trịch của thế hệ lãnh đạo thứ 5! Tuy nhiên …

II – ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC ĐÃ THAY ĐỔI BẢN CHẤT HAY VỐN NÓ LÀ NHƯ THÊ ?

Tập Cận Bình có những luận điểm về Đảng Cộng sản Trung quốc rất đáng kinh ngạc:

1 – “Đảng Cộng sản chúng ta làm gì đều xuất phát từ lợi ích căn bản và logic của chúng ta”.

 Nghe cái “lợi ích căn bản” này không khỏi nhớ chuyện chia quả thực trong cải cách ruộng đất. Ở thế kỷ trước, các Đảng Cộng sản đều dạy cho đảng viên của mình về Đạo đức Cách mạng (Hồ Chí Minh) và Bàn về tu dưỡng của đảng viên cộng sản (Lưu Thiếu Kỳ). Cả hai ông đều nói, Đảng Cộng sản chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. Hồ Chí Minh còn nói rõ:” Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Nếu đảo ngược lại Đảng làm gì cũng xuất phát từ lợi ích của mình, thì hẳn là chẳng đếm xỉa tới nỗi khổ và nguyện vọng của nhân dân!

2 – “Nếu xâm phạm quá mức tới lợi ích của quần chúng nhân dân, rõ ràng sẽ tác động không tốt tới lợi ích lâu dài của Đảng”.
Câu này cho thấy lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân khác nhau. Do đó, Đảng chỉ nên xâm phạm lợi ích của nhân dân vừa vừa, phải phải, để dân còn chịu được lâu dài. Nhân dân đang ở vị thế thần dân, tưởng mình còn nhờ ơn mưa móc, không quá bức xúc mà nổi loạn!

3 – “Chúng ta phải làm thế nào để kiên trì không mệt mỏi sự nghiệp của Đảng ta, củng cố cho được chính quyền mà Đảng chúng ta phải chịu bao nhiêu gian khổ mới giành được”.

Như vậy chính quyền do Đảng giành lấy thì nó mãi mãi là của Đảng. Trước kia, chúng tôi được dạy rằng “Marx nói quần chúng sáng tạo ra lịch sử”, và “Lê nin nói, cách mạng là ngày hội của quần chúng” (Lê nin Toàn tập, tiếng Việt, tập 11, trang 131). Hồ Chí Minh nói “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra” (TT, ST, 1985, T1, trang 299 và “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (TT,ST, 1984, T4, trang 283).

Có lẽ các luận điểm của Tập Cận Bình xuất phát từ việc kiên trì chủ nghĩa Mao: ”Tôi vẫn phải nhấn mạnh tinh thần cách mạng của đồng chí Mao Trạch Đông”. Mao là cha đẻ  thuyết “Súng đẻ ra chính quyền”. Có rất nhiều thức giả trong và ngoài Trung quốc đánh giá Mao rất tệ hại: Đảng viên cộng sản, đại tá Tân Tử Lăng, trong quyển sách viết về Mao đã nhận định: ”Nhảy vọt Lớn và Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản là sự phát triển ác tính của chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông. Ba năm nhảy vọt lớn, cả nước có 37, 55 triệu người bị chết đói”. Ông Lý Quang Diệu nói:”Ông ta thật điên rồ”. Nguyên Thủ tướng Đức Helmut Schmidt nói:”Mao là một tay tàn bạo”. Giáo sư Francis Fukuyama, đại học Stanford nói, Mao là một “ngụy vương” …

Nhưng tại sao nhà cải cách Đặng Tiểu Bình lại chủ trương bảo vệ Mao? Hãy nghe Helmut Schmidt kể với Lý Quang Diệu như sau: ”Năm 1983, tôi có buổi trò chuyện với ông ấy. Hai chúng tôi và người phiên dịch. Khi đó, chúng tôi đã quen nhau gần mười năm cho nên nói chuyện khá cởi mở và thân mật. Tôi giễu cợt: ”Nhìn kỹ vào thực tế thì thấy những người cầm quyền ở Bắc kinh không trung thực cho lắm; họ tuyên bố mình là cộng sản, nhưng thực ra thì họ theo Khổng giáo”. Ông Đặng có vẻ hơi sốc một chút, mất vài giây, nhưng sau đó thì ông ấy đáp lại vỏn vẹn ba từ. Ba từ đó là: ”Thì đã sao?”. Ông Đặng công nhận mình theo Khổng giáo, một học thuyết bảo vệ vương quyền, xưa là các hoàng đế Trung hoa, nay là những vị “vua tập thể”! Do đó, Đặng bảo vệ Mao đâu có gì khó hiểu! Có lẽ chúng ta đã nhầm, Đảng Cộng sản Trung quốc xưa nay vốn vẫn y như thế!

III – GIẢI MÃ VỤ THẢM SÁT THIÊN AN MÔN.

Tập Cận Bình nói: ”Phong trào Dân chủ Thiên An Môn ngày 4–6–1989 cho tới nay là cái cớ để các thế lực phản động trong và ngoài nước công kích Đảng ta. Đồng chí Triệu Tử Dương cũng do đó mà bị hạ bệ và đưa lại hậu quả nghiêm trọng”. Đây không phải là ý kiến riêng của Tập Cận Bình mà là quan điểm xuyên suốt của các thế hệ cầm quyền Bắc kinh. Phân tích vụ thảm sát Thiên An Môn sẽ cho thấy rõ 3 quan điểm lớn của Đảng Cộng sản Trung quốc.

1 – CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHÍNH LÀ NHÂN DÂN NHEN NHÓM PHONG TRÀO DÂN CHỦ.

Mặc dù nhà cầm quyền Trung quốc đã ký kết các Công ước Dân chủ – Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, nhưng họ luôn luôn bài bác cái gọi là “dân chủ – nhân quyền của Tây phương”. Các nhà lý luận Trung quốc cho rằng Mỹ và Tây phương muốn Trung quốc “Tây hóa”, hòng chống phá chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung quốc. Lưu Minh Phúc tác giả Giấc mơ Trung quốc (Gần đây, Tập Cận Bình nêu lên như là một quyết sách của chính ông) cho rằng Mỹ đưa ra “3 định luật chính trị” nhằm lật đổ địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung quốc:

1 – Chế độ một Đảng là nguồn gốc tham nhũng.
2 – Liên Xô sụp đổ là do chỉ có một Đảng cầm quyền.
3 – Phải thực hiện đa Đảng thì mới là nhà nước dân chủ.

Lưu Minh Phúc cho rằng: “Đảng Cộng sản Trung quốc trường kỳ cầm quyền sẽ bác bỏ “3 định luật chính trị kiểu Mỹ” (trang 586). Ông cho rằng, Trung quốc sẽ vô hiệu hóa con át chủ bài “dân chủ kiểu Mỹ” bằng “chế độ thống nhất hữu cơ gồm có 3 yếu tố: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhân dân làm chủ và Nhà nước pháp trị” ( trang 579).
Thực tế cho thấy “chế độ thống nhất hữu cơ” này đưa tới: Đảng độc quyền, Đảng làm chủ, Đảng trị. Giáo sư Trương Duy Vi trong đối thoại với giáo sư Francis Fukuyama, cho rằng hệ thống bầu cử Mỹ chỉ là “trình diễn dân chủ”. Trung quốc, ngược lại, “đó là quốc gia chỉ có thể được điều hành bởi những người có đủ tài năng và kinh nghiệm, được lựa chọn theo chế độ tuyển dụng nhân tài truyền thống”. Ông còn lạc quan hơn cả Lưu Minh Phúc về sự trường tồn của Đảng Cộng sản Trung quốc, khi nêu ra khái niệm “khí” của văn hóa Trung hoa: Mỗi triệu đại hưng thịnh trong lịch sử Trung hoa đều kéo dài từ 200 đến 300 năm. Sự trỗi dậy hiện nay, do đó có thể coi là chỉ mới bước vào giai đoạn khởi đầu! Ông đưa ra 4 điều bất cập của chế độ dân chủ, trong đó có tình trạng xấu là rất khó tạo ra sự đồng thuận cao, một Đảng thắng cử chỉ đạt 51% phiếu bầu. Trung quốc không bị ràng buộc bởi thứ dân chủ ấy, nhờ đó Đảng có thể quyết định được mọi việc một cách rất nhanh chóng.

Các học giả của Đảng không biết rằng, Alexis De Tocqueville đã từng lo ngại nguy cơ “chuyên chế của đa số”, ông cho rằng phải có nền quản lý phi tập trung để góp phần cho cá nhân bớt bị bộ máy quan liêu đè nén, và cần phải có tòa án độc lập để đối trọng với quyền lực của đa số. Huống hồ ở Trung quốc hiện nay là nền chuyên chế không phải của đa số mà là của chế độ toàn trị một Đảng, lại không có nền tư pháp độc lập!

2 – QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẢNG.

Đảng Cộng sản Trung quốc từ chỗ coi Quân Giải phóng Nhân dân là công cụ của nhân dân như tên gọi của nó, có nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài để giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị ngoại bang và các thế lực cường quyền áp bức. Dù tên gọi vẫn không đổi, nhưng ngày nay Quân Giải phóng Nhân dân bị buộc phải là công cụ của Đảng để đàn áp nhân dân gây thảm sát ở Thiên An Môn. Trong lịch sử, các nhà nước độc tài đều dùng bạo lực đàn áp nhân dân, nhưng vụ thảm sát Thiên An Môn đứng đầu về mức độ man rợ. Người ta huy động quân đoàn 27 và 28 từ xa, âm thầm tiến vào thủ đô từ 4 giờ khuya, xông thẳng vào những trí thức, sinh viên, công nhân trong tay không tấc sắt, bắn chết và nghiền nát hơn 800 người, làm bị thương hơn 10.000 người!

Hiện nay, để đáp ứng tham vọng bá quyền, Tập Cận Bình đang đòi hỏi Quân Giải phóng Nhân dân Trung quốc đáp ứng cho được “cuộc chiến tranh quy mô lớn trong điều kiện kỹ thuật cao phức tạp, có Mỹ tham chiến”!

3 – ĐỒNG THỜI THẢM SÁT QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA CÁC DÂN TỘC.
    
Vụ thảm sát dân chủ ở Thiên An Môn cũng đồng thời thảm sát quyền tự quyết của các dân tộc vừa manh nha trong các nhà lãnh đạo có tư tưởng cải cách dân chủ, để nuôi lớn chủ nghĩa dân tộc sô vanh Đại Hán. Trước khi gây ra vụ thảm sát Thiên An Môn, Đảng Cộng sản Trung quốc dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đã sa thải liên tục hai Tổng Bí thư có tư tưởng cải cách chính trị là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương.

Hồ Diệu Bang bị kết tội “sai lầm trong những nguyên tắc chính trị”: Cảm thông, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của trí thức về tự do, dân chủ. Tán thành tự do ngôn luận, tự do báo chí. Rút cán bộ người Hán khỏi Tây Tạng, để cho người Tây Tạng điều hành việc quản lý khu tự trị của mình.

Triệu Tử Dương kế nhiệm và cũng kế tục tư tưởng Hồ Diệu Bang: Chủ trương phát triển kinh tế phải đi đôi với dân chủ hóa chính trị. Chấp nhận đối thoại với trí thức, sinh viên đang biểu tình ở Thiên An Môn. Bỏ lá phiếu duy nhất chống quyết định thiết quân luật, để gây ra vụ thảm sát. Trong hồi ký viết khi đã bị quản chế, ông cho rằng: ”Hệ thống nghị viện dân chủ Tây phương là con đường duy nhất giúp cho Trung quốc có thể giải quyết nạn tham nhũng và cách biệt giàu nghèo to lớn”.

Ngay khi còn “ẩn mình chờ thời”, những nhà lãnh đạo nuôi tư tưởng quân quyền đã thẳng tay dìm nhân dân mình vào bể máu Thiên An Môn và nuốt chửng các dân tộc Tây Tạng, Uyghur Tân Cương, Nội Mông. Vậy thì ngày nay, khi đã trỗi dậy, tự cho mình tư cách sắp đứng đầu thế giới, việc họ ngang nhiên tuyên bố “các lợi ích cốt lõi”, thè “lưỡi bò” liếm trọn Biển Đông, đe dọa các nước trong khu vực là sự phát triển logic của chủ nghĩa bá quyền!

IV – CẮT CÁI NGỌN THAM NHŨNG, GIỮ CÁI GỐC TOÀN  TRỊ!
    
Đảng Cộng sản Trung quốc đã có nhiều nghị quyết về chống tham nhũng. Hệ thống tuyên huấn Đảng, bộ máy truyền thông nhà nước thường xuyên, rầm rộ tuyên truyền sâu rộng nhằm tạo niềm tin rằng không cần thực hiện đa đảng, cũng không cần tam quyền phân lập kiểu Tây phương, vẫn có thể chống tham nhũng thắng lợi. Chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Trung quốc là thực hiện dân chủ trong Đảng thay thế cho dân chủ ngoài xã hội, phân chia định chế tổ chức của Đảng thành 3 bộ phận:1 – Ra quyết định. 2 – Thực thi chính sách. 3 – Giám sát. Tức là chuyên môn hóa theo chức năng “3 định chế” trong nội bộ của Đảng.

Cách làm đó giữ cho Đảng đứng trên sự giám sát, đứng trên Hiến pháp. Ủy ban trung ương về Chính trị và Pháp luật của Đảng (CCPL– Chính pháp Ủy) chỉ đạo các cơ quan chức năng của nhà nước như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia. Đây được coi là bộ máy quyết định tiêu diệt tham nhũng của Trung quốc.

Nhiều nhà lý luận lớn của họ viết sách cổ vũ cho niềm tin này. Trong Giấc mơ Trung quốc của Lưu Minh Phúc xuất bản năm 2009 có đoạn: “Làm nên kỳ tích “Trị quốc liêm khiết lâu dài” hiệu quả hơn cạnh tranh đa Đảng”. Ông thuyết lý vấn đề một cách rổn rảng dài dòng: ”Chúng ta cần phải đi con đường liêm khiết đặc sắc Trung quốc, xây dựng quốc gia đặc sắc liêm khiết Trung quốc, xã hội liêm khiết đặc sắc Trung quốc. Trung quốc giàu mạnh ắt phải là Trung quốc liêm khiết. Xây dựng một hệ thống chính quyền liêm khiết đặc sắc Trung quốc là như thế nào? Đây là một vấn đề cần bứt phá và sáng tạo mới”. Nhưng sau đó không thấy ông chỉ ra thế nào là sự “bứt phá và sáng tạo mới”!

Giáo sư Trương Duy Vi cho rằng tham nhũng là vấn đề kinh tế chứ không phải chính trị, khi nói “các vùng đã phát triển của Trung quốc miễn dịch tốt hơn với tham nhũng” và kết luận rằng để chống tham nhũng đạt hiệu quả thì “Quản trị tốt là điều quan trọng hơn dân chủ hóa theo phong cách Tây phương”. Tập Cận Bình nhiều lần nói về nạn tham nhũng, gọi nó là “con hổ” và đồng ý với Trưởng Ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Vương Kỳ Sơn rằng cách làm hiện nay chỉ là “xì hơi khi quả bóng quá căng”, “lấy đũa khuấy nồi canh đang sôi để nước không tràn”, “chỉ là trị ngọn chứ không trị tận gốc”. Như vậy Tập Cận Bình đã phải công nhận sự phá sản của chiến lược chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Trung quốc.

Thực ra từ lâu người dân Trung quốc đã thấy điều đó. Vụ Bạc Hy Lai vỡ ra cho thấy những kẻ tham nhũng lớn không phải là cá biệt mà là sản phẩm phổ biến của chế độ Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật. Chế độ đảng trị đang dung chứa ngày càng nhiều những “đồng chí chưa bị lộ”. Trong cuộc đối thoại với Trương Duy Vi, giáo sư Francis Fukuyama có nhận xét xác đáng: ”Ở nhiều khía cạnh khác, cơ cấu quản trị xã hội ở Trung quốc ngày nay lại rất giống với những gì từng tồn tại dưới triều đại Tần Thủy Hoàng. Đó là một chính phủ quan liêu tập trung có chất lượng cao được xây dựng trên sự tuyển chọn khách quan và các luật lệ mang tính hình thức”. Và, “Ngày nay trong chính phủ Trung quốc tính giải trình và chịu trách nhiệm theo chiều từ cấp dưới lên cấp trên trong hệ thống do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thay vì Hoàng đế hay vua như trước kia”. Và “đặc tính quan liêu luôn mang lại tình trạng tham nhũng và điều hành yếu kém.” Trả lời bạn đọc BBC “vì sao tham nhũng là vấn nạn lớn của Trung quốc?”, nhà bình luận quốc tế kỳ cựu John Simpson đáp: ”Nó luôn là vấn nạn lớn khi các xã hội khép kín đột nhiên tiếp xúc với tiền bạc mà không có sự giám sát phù hợp”. Có lẽ nên nói thêm: Tuy đã mở cửa, nhưng bên trong xã hội Trung quốc, vẫn tiếp tục là một xã hội khép kín, vì nó không có tự do tư tưởng, tự do báo chí, không có một xã hội dân sự đúng nghĩa.

Tập Cận Bình đặt câu hỏi và trả lời: ”Khi nào chúng ta mới trị được tận gốc nạn tham nhũng? Có lẽ phải đợi tới khi mà lý luận, đường lối, chế độ bắt đầu đứng trước sự điều chỉnh thực sự. Có người hỏi, tới khi đó có quá muộn không? Tôi cho rằng có lẽ chúng ta phải tìm câu trả lời trong cuốn sách “Chế độ Cũ và Đại Cách mạng” mà đồng chí Vương Kỳ Sơn giới thiệu với chúng ta”. Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn muốn nói đến quyển “Chế độ Cũ và Cách mạng” (L` ancien Régime et la Révolution) của A. Tocqueville xuất bản năm 1856. A. Tocqueville cho biết đây là tập 1 của bộ Lịch sử Cách mạng Pháp, nhưng cái chết đột ngột đến với ông khiến cho ông không có tập 2. Tác phẩm này chứng minh, cách mạng hoàn tất sự phát triển đã hình thành sẵn trong lòng của chế độ cũ. Ngày 30–11– 2012, Vương Kỳ Sơn kêu gọi các quan chức và học giả nên đọc quyển sách này. Sau đó, các báo chính thống đều đăng tin này, nhưng tóm tắt nội dung sách méo mó và chỉ gọn lỏn hai câu: ”Chế độ phong kiến trước kia sụp đổ và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng”.

Từ cách làm này cho thấy mục đích chính của Tập Cận Bình, Vương Kỳ Sơn chỉ là muốn cảnh báo với các quan chức của Đảng Cộng sản rằng, quan liêu và tham nhũng có thể làm cho một chế độ hùng mạnh phải sụp đổ. Đồng thời, cảnh báo với giới trí thức rằng nếu đòi dân chủ hóa nhanh chóng, thì có thể gây ra hỗn loạn, đổ máu và nhiều hậu quả khôn lường. Đây là thủ đoạn “quản lý thông tin” phục vụ cho điều ông gọi là tiếp tục “3 tin tưởng” để thực thi “liệu pháp giữ nguyên”, khiến cho việc chống “con hổ tham nhũng” chỉ nhằm “cái ngọn”, còn “cái gốc” là chế độ toàn trị thì không được động đến bởi sợ “rút dây động rừng”!

V – LỜI GIẢI CỦA NHÀ CÁCH MẠNG VĨ ĐẠI TÔN TRUNG SƠN.
     
Tập Cận Bình nhắc lời Hồ Cẩm Đào, phải sáng tạo, đổi mới phương pháp quản lý xã hội và bác bỏ “một số dư luận lại cho rằng đây chỉ là chủ nghĩa kỹ trị để tăng cường tính chuyên chế độc đoán cho một Đảng”. Các nhà lãnh đạo và học giả Trung quốc tìm cách chứng minh rằng phát triển kinh tế phồn vinh là bảo đảm vững chắc cho độc quyền lãnh đạo của Đảng. Giáo sư Trương Duy Vi cho rằng Mùa Xuân A rạp không phải là phong trào tự do mà chỉ là vấn đề kinh tế. Nhiều người bác bỏ ý kiến này cho rằng: Kỹ sư Bouazizi – người châm ngòi nổ Mùa xuân A rap – tự thiêu không phải vì bị thất nghiệp mà để phản đối sự xúc phạm nhân phẩm! Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào tìm đến thuyết kỹ trị của các học giả Mỹ thế kỷ 20, cho rằng có thể thực hiện một cuộc “cách mạng quản lý” để ổn định xã hội, không cần phải cải cách chính trị.

Trong Giấc mơ Trung quốc, tác giả Lưu Minh Phúc có một nhận định đúng là “Làm người cải cách khó hơn làm người cách mạng” … Người cách mạng bao giờ cũng là động lực của cách mạng chứ không thể trở thành đối tượng của cách mạng; người cải cách vừa là động lực cải cách lại vừa là đối tượng của cải cách”. Chứng minh cho việc này, ông cho biết có đến 97% quan chức Trung quốc phản đối công khai tài sản riêng. Về vấn đề này, Việt nam có câu thành ngữ rất hay: “Không ai muốn lấy đá ghè chân mình”!

Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều nhân dân và đảng viên cộng sản Trung quốc công khai đòi hỏi phải cải cách chính trị.
Ngày 25–12–2012, hơn 70 trí thức hàng đầu Trung quốc trình Bản Kiến nghị kêu gọi Ban Lãnh đạo Mới sau Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung quốc phải cải cách chính trị, thực hiện bầu cử tự do, tự do ngôn luận và nền tư pháp độc lập. Kiến nghị có đoạn: ”Nếu những cải cách hệ thống chính trị mà xã hội Trung quốc đang đòi hỏi khẩn cấp tiếp tục bị ghìm nén và tình trạng tham nhũng, bất bình xã hội tích tụ đến mức độ nguy hiểm và bùng nổ thì lúc đó Trung quốc sẽ một lần nữa để lỡ cơ hội cải cách hòa bình, sẽ chìm trong hỗn loạn của cách mạng bạo lực”.*

Trước đó, ngày 29–11–2011, giáo sư Tôn Lập Bình, người thày hướng dẫn Tập Cân Bình làm luận án tiến sĩ, đã phát biểu tại cuộc hội thảo ở Bắc kinh: ”Tôi nghĩ rằng, vào lúc này, dân chúng vẫn còn một chút tin tưởng và cảm tình dành cho chính quyền. Nếu một vấn đề nào đó không được giải quyết mà lãnh đạo xin lỗi thì người dân vẫn cảm động đến khóc. Tuy nhiên cơ hội này không kéo dài. Nhiều lắm là 5 đến 10 năm. Có thể không đến 10 năm. Có thể trên dưới 5 năm. Khi đó chỉ còn một cách là: Cai trị bằng bạo lực, đàn áp bất cứ ai chống đối”. Ông trùm bất động sản Nhiệm Chí Cường viết trên blog của mình: ”Nếu không cải cách sẽ không có Đại hội Đảng lần thứ 19 !” *
Gần đây ở Trung quốc có hai hiện tượng rất đáng coi trọng là:

1 – ĐANG XUẤT HIỆN NHIỀU ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN MUỐN THỰC HIỆN MỘT NỀN DÂN CHỦ ĐA ĐẢNG.

Càng ngày càng có nhiều đảng viên cộng sản cao cấp, đặc biệt là các nhà lý luận của Đảng lên tiếng yêu cầu thực hiện nền dân chủ kiểu Tây phương. Nhà lý luận nổi tiếng của Đảng Cộng sản Trung quốc, Du Khả Bình viết: ”Sẽ nguy hiểm chết người nếu cho rằng Trung quốc chỉ cần dân chủ trong Đảng, thay vì một nền dân chủ thực sự cho nhân dân (nhân dân dân chủ) hay dân chủ xã hội (xã hội dân chủ), cả hai hình thức dân chủ này đều bao hàm bầu cử đại chúng và thực hiện từ cơ sở”. Giáo sư Vương Trường Giang chủ nhiệm bộ môn xây dựng Đảng của Trường Đảng Trung ương nói: ”Thúc đẩy dân chủ trong nội Đảng không vì thế mà hi sinh dân chủ của toàn xã hội”. Ông dẫn chứng những cuộc khủng hoảng ở Tây Tạng, Tân Cương và những cuộc bạo loạn xã hội nổi lên khắp nơi, rồi nhận định: ”Dân chủ cho xã hội là thứ không thể ngồi chờ mà có được!”. Nữ học giả Từ Trung Quân, nguyên giám đốc Viện Nghiên cứu Mỹ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung quốc, phê phán các nhà lãnh đạo có quan điểm cho rằng dân chủ là thứ không phù hợp với truyền thống Trung quốc và “những giá trị phổ quát toàn cầu” chỉ là âm mưu của Tây phương nhằm chống phá Trung quốc. Cả ba học giả nổi tiếng nói trên đều là đảng viên cộng sản, vậy tại sao họ lại tán thành nền dân chủ đa nguyên chính trị, sẽ xuất hiện những chính Đảng cạnh tranh với Đảng của họ? Những người bảo thủ cho rằng như vậy tức là chống Đảng, phản Đảng.

Thực ra, những đảng viên trí thức này hiểu rõ sự độc quyền toàn trị chính là nguyên nhân gây thoái hóa Đảng, làm cho Đảng sụp đổ một cách nhục nhã. Hiên nay Đảng đã lâm vào tình trạng mà Tập Cận Bình gọi một cách bóng bẩy là ”Đảng phong trong nội bộ Đảng hiện nay không bằng trước đây”. Nếu nói thẳng ra là, một Đảng quan liêu, tham nhũng, phản bội nhân dân! Sự suy thoái của Đảng kéo theo sự băng hoại đạo đức của cả xã hội. Do đó, các đảng viên cộng sản này muốn đặt lợi ích và tiền đồ dân tộc lên trên quyền lợi ích kỷ của Đảng và cũng là một cách cứu Đảng may ra khỏi bị ghi danh bạo chúa, sau Tần Thủy Hoàng.

2 – NHIỀU ĐẢNG VIÊN LÀ SĨ QUAN QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN KÊU GỌI “QUÂN ĐỘI LÀ CỦA QUỐC GIA”.

Cuối năm 2012, một số đảng viên là sĩ quan Quân Giải phóng Nhân dân phát lời kêu gọi chủ trương “quân đội là của quốc gia” thay vì “quân đội là của Đảng”. Phong trào này là sự thức tỉnh của các đảng viên là sĩ quan sau những vụ dùng quân đội đàn áp đẫm máu ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và nhiều cuộc bạo loạn của nông dân bị mất đất đang xảy ra khắp nơi. Cũng có thể nói sự thức tỉnh ấy được nhen nhóm từ ngọn lửa âm ỉ ở vụ thảm sát Thiên An Môn hơn 20 năm trước. Giáo sư Tiễn Lý Quần của Đại học Bắc kinh cho rằng các “thái tử Đảng” trong quân đội giải phóng nhân dân sẽ ủng hộ chủ trương này. *

Hai hiện tượng nói trên cho thấy xu thế của phong trào dân chủ đang phát triển rất sâu sắc. Hoàn cầu Thời báo (bản tiếng Anh) thông báo cuộc thăm dò của họ ở 7 thành phố Trung quốc cho thấy có 63,6% người được hỏi không phản đối việc chấp nhận nền dân chủ kiểu Tây phương cho Trung quốc. Có lẽ, Tập Cân Bình và các nhà lãnh đạo thế hệ thứ 5 của Đảng Cộng sản Trung quốc không cần tìm sách ở đâu xa mà chỉ cần học lại lời dạy của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn ngày 9–3–1924 trong bài thuyết giảng của ông với quốc dân:

“Thế giới ngày nay là thế giới gì? Là thế giới dân quyền! Tuy mầm mống đã có từ thời Hy lạp, La mã cách đây hơn 2000 năm, nhưng nó mới được xác lập vững vàng cách đây 150 năm … Dân quyền là người dân đấu tranh với nhà vua, cũng có thể nói là người thiện đấu tranh với kẻ ác, công lý đấu tranh với cường quyền. Ở thời đại này, dân quyền dần dần phát triển. Chủ trương nền chính trị dân quyền, chúng ta phải khảo sát tình hình dân quyền ở các nước trên thế giới để thực hiên cho tốt. Bởi vì từ khi có lịch sử, Trung quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền. Lịch sử Trung quốc trải 4000 năm, có thời thịnh trị có thời loạn ly, nhưng đều áp dụng chế độ quân quyền”.

Một tập trung trí tuệ Trung hoa mới mẻ và sát cuộc sống hiện nay hơn, đó chính là Bản Linh Bát Hiến chương ra đời ngày 10–12–2008 bởi 300 người con ưu tú nhất của Trung hoa đứng đầu là Lưu Hiểu Ba, người sống sót trong vụ thảm sát Thiên An Môn. Linh bát Hiến chương có những chữ lớn là: Tự do, Nhân quyền, Bình đẳng, Cộng hòa, Dân chủ, Hiến trị. Và những điều “nhiệt liệt cổ vũ” là: Một Hiến pháp bảo đảm nhân quyền, dân quyền; Một nhà nước phân chia và hạn chế quyền lực; Một nền tư pháp độc lập đứng trên mọi đảng phái; Quân đội, Công an chịu trách nhiệm trước chính phủ, không dính dáng với đảng phái …

Xin cầu chúc Trung quốc trỗi dậy cũng đồng thời là Trung quốc thức tỉnh tự do dân chủ! Đó không chỉ là hạnh phúc của 1,3 tỉ nhân dân Trung quốc anh em! Đó còn là may mắn cho lân bang và toàn nhân loại yêu chuộng hòa bình!
                               
Tống văn Công
11– 8 2013
                                 
–––––––––––––––––
.* Theo “Hồi kết cho chế độ chuyên chế dẻo dai của Đảng Cộng sản Trung quốc”… của Cheng Li (Lý Thành) đã đăng trên Thời đại của Viet–studies.

* Bài của tác giả gửi tới TTHN
http://webwarper.net/ww/~av/www.tintuchangngayonline.com/2013/08/tong-van-cong-cai-cach-hay-sup-o.html

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Bí kíp học chữ cái tiếng Nga trong thời Soviet

Tháng 8 14, 2013

Hà Vũ Trọng
Để đấu tranh chống nạn mù chữ ở dân chúng tuổi thành niên trên khắp các lãnh thổ bao la của Liên bang Sôviết, Nghệ sĩ Nhân dân Sôviết Sergey Merkurov đã nhận sứ mệnh thiết kế một cuốn sách học 36 mẫu tự Kirin trong Tiếng Nga, được minh hoạ thành 36 kiểu hấp dẫn và thật dễ hấp thu, vỏn vẹn 36 trang. Điều đáng ngạc nhiên tới mức khó tin là cuốn sách này được phát hành năm 1931 dưới điều kiện của một xã hội tưởng như không có sex. Qua đó, nó cũng phản ánh những thái độ tự do “phóng túng” nào đó trong thời kì trước Stalinist. Vậy cuốn sách học chữ cái này có gì đáng tò mò?
Trong cuốn sách minh hoạ bằng màu nước có tên là Bảng chữ cái huê tình Sôviết (Советская эротическая азбука), Merkurov vẽ nên bố cục các mẫu tự thành những cảnh huê tình của nam nữ giao hoan, kết hợp những hình tượng thần thoại như Dương thần và thần Ái tình, v.v…  Tất cả tràn ngập hành vi và các tư thế giao hợp đủ kiểu theo trí tưởng tượng, khiến ta có thể gọi đây là một cuốn “Kama Sutra bằng mẫu tự”. Nhìn xem những con chữ ăn nằm với nhau đủ mọi tư thế thú vị, có lẽ là cách “dụ dỗ” người lớn học chữ nhanh nhất, hiệu quả nhất. Không phải chỉ những chữ số như 69 kích thích trí tưởng, mà ở đây, trong cái bảng mẫu tự Kirin còn gọi là azbuka, mỗi chữ cái được tạo hình bằng những thân thể giao hoan, và tự tìm khoái lạc trong khuôn chữ của chính nó. Trong khi có những con chữ mang tính nhân hình dễ tưởng tượng ra những tư thế hớ hênh và gợi dục như V, hoặc M, lại có những chữ cái khó khăn như ЖФ khiến ta thán phục cái cách mà người hoạ sĩ đã khéo xử lí cái cách “nhào lộn” cho chúng.
Hoạ sĩ thiết kế cuốn “bí kíp” cho cuộc vận động học chữ cái là Sergey Merkurov (1881—1952) người Armenia gốc Hilạp, vốn là nhà điêu khắc vĩ đại nhất của Sôviết, Nghệ sĩ Nhân dân của Liên bang Sôviết, tác giả của nhiều tượng đài hoàng tráng lớn nhất về Joseph Stalin và V. I. Lenin. Ông cũng là bậc thầy về đắp mặt nạ người chết, và đã đưa tay nghề này lên tầm nghệ thuật cao. Ông để lại một bảo tàng mặt nạ đắp sau khi chết của khoảng 300 nhân vật văn hoá và chính trị của Nga và Sôviết, như Leo Tolstoy, Lenin, Esenin, Blok, Maiakovsky, Gorky, Stalin, Frunze, Krupskaya, Dzerzhinsky… Mới đây, cuộc triển lãm ở Gorki Leninskiye (Bảo tàng Lịch sử Lenin), trưng bày loại hình nghệ thuật u ám này của ông, đã khiến công chúng trải qua một cú sốc khi nhìn kĩ lại từng gương mặt sau khi chết (trong đó có nhiều cái chết rất mờ ám) của các nhân vật Cách mạng Bolshevik trong một thời kỳ lịch sử với nền chính trị bạo liệt nhất. Riêng cuốn sách Bảng chữ cái huê tình Sôviết là một tác phẩm đáng ngạc nhiên, cho thấy tính đa diện của người nghệ sĩ này khi phóng túng bằng bút cọ thay cho búa đục đối với những tượng đài lãnh tụ.
Các minh hoạ tuyệt diệu 36 chữ cái như thể 36 bức thánh tượng iconmang tính “báng bổ”, rõ ràng được cảm hứng từ trí tưởng tượng “truỵ lạc” của nghệ thuật Hilạp và Lamã cổ đại, được hỗ trợ bằng những hình tượng thần Ái tình đang hưng phấn cùng những dương vật chắp cánh bay lượn như những thiên thần hoặc Thánh Linh giáng hiện, trong khi những Dương thần đắm chìm trong những cảnh truy hoan tập thể, và không thiếu cảnh đồng tính nam và nữ. Mỗi chữ cái trình bày và trang trí giống với những chữ hoa lớn đầu tiên mở đầu trân trọng cho mỗi chương kinh sách thời Trung cổ.
Cuốn sách học chữ cái bằng hình ảnh huê tình này, không chỉ là chứng cứ về một số nỗ lực kì lạ của nước Nga Sôviết đã từng toan tính đem dục tính vào những con chữ làm phương tiện giáo hoá giai cấp công nhân xoá mù chữ, mặc dù các đồng chí nào mà chẳng thíchsex! Dù sao, ngày nay cuốn sách này vẫn còn là cách khá hiệu quả cho cả những ai chưa có cơ hội nắm bắt được bảng chữ cái Kirin kì quặc và rất khó nhớ này.
Trang WordPress của Ross Wolfe
© 2013 Hà Vũ Trọng & pro&contra
http://www.procontra.asia/

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Nhà nước đảng trị – Nền chuyên chính của đảng là linh hồn, trí tuệ và bản chất cho hệ thống chính trị

Tháng 4 1, 2013
Milovan Đilas
Phạm Minh Ngọc dịch
pro&contra – Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam là một trở ngại căn bản cho tiến trình dân chủ hóa đất nước, điều đó không có gì cần bàn cãi. Song ngay cả khi nó phải rút lui về mặt hình thức khỏi văn bản này và cánh cửa thủ tục quan trọng đầu tiên cho tiến trình dân chủ được mở ra thì đằng sau cánh cửa đó, nền chuyên chính của Đảng Cộng sản vẫn còn được bảo tồn mạnh mẽ bằng trùng trùng lớp lớp những định chế khác, trong đó một phần rất lớn là những định chế bất thành văn. Những nhận định cách đây gần 60 năm của nhà bất đồng chính kiến Milovan Đilas, từng là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Nam Tư và hoạt động ở thượng tầng phong trào cộng sản quốc tế, cho chúng ta thấy nền tảng của chuyên chính đó. Đoạn trích sau đây rút từ tác phẩm Giai cấp mới. Phê phán hệ thống cộng sản (Nova klasa. Kritika savremenog komunizma, 1955). Bản dịch tiếng Việt của Phạm Minh Ngọc đăng trên talawas năm 2005.
1.
Cơ chế quyền lực cộng sản có thể là cơ chế đơn giản nhất mà người ta có thể nghĩ ra được, kết quả là nó tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất.
Cơ chế này cực kì đơn giản, tại chóp bu của mọi hoạt động chính trị, kinh tế và tư tưởng là một đảng duy nhất, đảng của những người cộng sản. Xã hội giậm chân tại chỗ, hay vận động với tốc độ rùa bò hay lao vào những khúc quanh chóng mặt, tất cả phụ thuộc vào các quyết định của tổ chức đảng.
Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Ai cũng hiểu rằng quyền lực, bất chấp luật pháp, nằm trong tay các tổ chức đảng và cảnh sát mật. “Vai trò lãnh đạo của đảng” không thấy ghi trong bất kì điều luật nào, nhưng lại thấm vào mọi tổ chức và mọi lĩnh vực hoạt động; không thấy ở đâu nói rằng cảnh sát mật của đảng có quyền theo dõi các công dân, nhưng cảnh sát vẫn là lực lượng đầy uy quyền; không có tài liệu nào nói rằng toà án và viện kiểm sát phải báo cáo với tổ chức đảng và cảnh sát mật, nhưng sự thật là như thế. Sự thật là như thế đối với nhiều người đã không còn là bí mật, đa số đều biết. Người ta cũng biết rằng cái gì được phép, cái gì bị cấm và ai có quyền cấm. Đấy là lí do vì sao người ta có thể thích ứng được với hiện thực và bất kì vấn đề gì họ cũng giải quyết với tổ chức đảng hoặc tổ chức nằm dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng.
Việc quản lí các tổ chức xã hội được thực hiện bằng một phương pháp đơn giản sau đây: các đảng viên ở đó thành lập đảng đoàn và đưa ra mọi quyết định sau khi đã thoả thuận với cấp lãnh đạo bên trên. Đấy chỉ là sơ đồ chung. Trong thực tế, nếu tổ chức do một người có quyền lực trong đảng lãnh đạo thì nó không cần phải thoả thuận về những vấn đề không quan trọng với ai hết. Ngoài ra, những đảng viên đã quen với hệ thống sẽ biết vấn đề nào là quan trọng, vấn đề nào không vì cấp trên chỉ quan tâm đến những vấn chung, có tính nguyên tắc hay có tính chất đặc biệt mà thôi. Đảng đoàn tồn tại để khi cần có tiếng nói cuối cùng của đảng, còn những người bầu ra tổ chức ấy nghĩ gì thì nó không thèm quan tâm.
Cội nguồn của phương pháp quản lí và thực thi quyền lực của đảng, cũng như của chế độ toàn trị cộng sản và giai cấp mới xuất phát từ giai đoạn chuẩn bị cách mạng của đảng. Chính những đảng đoàn trước đây đã phát triển, phân nhánh, hoàn thiện và đóng vai trò lãnh đạo trong các cơ quan chính quyền và tổ chức xã hội. Chính lí thuyết về vai trò tiên phong của đảng của giai cấp công nhân tạo ra “vai trò lãnh đạo của đảng” trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước cách mạng, lí thuyết này đã trui rèn nên lực lượng cán bộ cho cách mạng, nay nó lại đóng vai trò biện hộ cho chế độ toàn trị của giai cấp mới. Thật ra cũng có một chút khác biệt. Trước đây, cách mạng và những hình thức của nó là việc không tránh khỏi, thậm chí là nhu cầu của bộ phận xã hội nhằm hướng đến tiến bộ kinh tế và kĩ thuật.
Nhưng thoát thai từ cách mạng, bạo lực toàn trị và ách thống trị của giai cấp mới đã trở thành núi đá đè lên xã hội, làm cho xã hội kiệt sức vì mất bao mồ hôi, xương máu. Một vài hình thức cách mạng đã trở thành phản động. Đảng đoàn là một trong những hiện tượng như thế.
Việc điều hành dưới chế độ cộng sản được bộ máy nhà nước thực hiện theo hai cách. Cách thứ nhất: theo chức năng như đã nói ở trên. Về nguyên tắc đây là phương pháp chủ yếu. Nhưng trên trên thực tế phương pháp thứ hai: một số chức vụ của chính quyền chỉ được giao cho các đảng viên lại hay được áp dụng. Đấy là những vị trí được coi là quan trọng đối với mọi chính quyền, đặc biệt là chính quyền cộng sản: cảnh sát, trước hết là cảnh sát mật, ngoại giao đoàn và tầng lớp sĩ quan, nơi công tác chính trị và tình báo được coi là công tác chủ yếu. Chỉ các cơ quan trung ương của ngành tư pháp mới bị kiểm soát một cách nghiêm ngặt: cơ quan này thuộc quyền các tổ chức đảng và cảnh sát nhưng lương thấp nên không hấp dẫn. Xu hướng chung là làm cho ngành này trở thành hấp dẫn hơn, có nhiều bổng lộc hơn để lôi kéo các đảng viên. Khi đó việc quản lí ngành tư pháp sẽ dễ dàng hơn hoặc thậm chí không cần thiết nữa: toà án sẽ xử theo đúng đường lối chung của đảng, nghĩa là theo đúng “tinh thần xã hội chủ nghĩa”.
Chỉ có trong chế độ cộng sản mới có việc một số ngành chức năng (đã liệt kê và cả những ngành khác nữa) mới bị các đảng viên hoàn toàn khống chế. Chính quyền cộng sản dù mang tính giai cấp về nội dung lại mang tính đảng về hình thức, quân đội của đảng, nhà nước do đảng lãnh đạo. Nếu nói cho thật đúng thì người cộng sản có xu hướng coi nhà nước và quân đội là vũ khí của riêng mình.
Dù không được thể hiện trên bất cứ tài liệu nào nhưng chỉ có đảng viên mới có quyền trở thành cảnh sát, sĩ quan quân đội, trở thành các nhà ngoại giao, nghĩa là các đảng viên và chỉ có các đảng viên mới có quyền giữ các chức vụ quyền lực, thực thi quyền lực, điều đó không chỉ tạo ra một tầng lớp quan liêu, tầng lớp ưu tú mà còn đơn giản hoá cơ chế quản lí. Bằng cách đó đảng đoàn đã bao gồm ở mức độ này hay mức độ khác tất cả những người làm việc trong các lĩnh vực này. Kết quả là các cơ quan đó trở thành một trong những bộ phận của công tác đảng, đảng đoàn biến mất.
Vì vậy trong các chế độ cộng sản không có sự khác biệt của các cơ quan đó với các tổ chức đảng, nhất là giữa đảng và cảnh sát mật. Đảng và cảnh sát liên hệ mật thiết với nhau trong hoạt động hàng ngày, sự khác nhau chỉ còn là phân công lao động. Đảng, có thời đã là người tổ chức quần chúng, thì nay đã trở thành một bộ máy.
Toàn bộ cơ chế quyền lực được thực hiện theo sơ đồ sau: các cơ cấu chính trị là đặc quyền của các đảng viên, các cơ quan ban ngành khác thì hoặc do các đảng viên nắm giữ hoặc bị họ kiểm soát một cách gắt gao. Chỉ cần ở trung ương diễn ra cuộc họp hoặc công bố một bài báo là toàn bộ bộ máy sẽ đi vào vận hành. Chỉ cần một nơi nào đó có trục trặc là đảng và cảnh sát sẽ can thiệp ngay.
2.
Nếu đảng cộng sản không phải là một đảng đặc biệt thì hình thức nhà nước đó không thể nào tồn tại được.
Trên kia đã nói đến tính chất đặc biệt của đảng cộng sản. Nhưng vẫn cần phải nói thêm một loạt biểu hiện đặc thù nữa ngõ hầu làm rõ bản chất của nhà nước cộng sản.
Đảng cộng sản là đảng đặc biệt không chỉ vì nó là đảng cách mạng, tập trung, có kỉ luật nhà binh, có những mục tiêu cụ thể… Tất cả những điều vừa nói đều là những tính chất đặc biệt của nó cả.
Có cả những đảng khác với những tính chất gần như thế.
Nhưng chỉ có trong đảng cộng sản thì sự thống nhất về tư tưởng, sự thống nhất về thế giới quan và quan điểm trong việc xây dựng xã hội mới là bắt buộc với mọi đảng viên. Dĩ nhiên là mệnh lệnh này chỉ là bắt buộc đối với các cơ quan đầu não, các cơ quan cấp cao mà thôi. Các cấp bên dưới về hình thức cũng phải tuân thủ sự thống nhất về tư tưởng nhưng thực ra trách nhiệm của họ chính là: thực thi các nghị quyết. Nhưng xu hướng chung là phải nâng cao trình độ của cấp dưới để họ luôn nắm được quan điểm của lãnh tụ.
Dưới thời Lenin sự bất đồng quan điểm vẫn còn được chấp nhận. Lenin không cho rằng tất cả các đảng viên đều bắt buộc phải có quan điểm hoàn toàn giống nhau, mặc dù chính ông là người khởi xướng việc lên án và loại bỏ khỏi hàng ngũ của đảng những quan điểm mà ông cho rằng không hoàn toàn mác-xít, hay thiếu tính đảng, nghĩa là những quan điểm mà theo ý ông là không có tác dụng củng cố đảng. Ông đã xử lí các nhóm đối lập trong đảng không phải theo kiểu của Stalin: không bắn giết mà chỉ bịt miệng. Dưới quyền ông người ta còn được thảo luận và biểu quyết. Chế độ toàn trị chưa hoàn toàn thắng thế.
Đối với Stalin thì sự thống nhất về tư tưởng, thống nhất về chính trị là điều kiện để trở thành đảng viên. Đấy là đóng góp trực tiếp của Stalin vào lí luận về đảng kiểu mới. Điều đáng chú ý là luận điểm về sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng được ông ta phát biểu ngay từ khi còn rất trẻ. Dưới triều Stalin sự thống nhất về tư tưởng là điều kiện bắt buộc của tất cả các đảng cộng sản và điều đó vẫn còn tác dụng cho đến tận hôm nay.
Các lãnh tụ Nam Tư, ban lãnh đạo Liên Xô cũng như các đảng cộng sản khác hiện vẫn giữ quan điểm như vậy. Sự kiên trì tính thống nhất về tư tưởng trong đảng không chỉ là dấu hiệu của sự trì trệ mà còn chứng tỏ rằng trong các ban “lãnh đạo tập thể” hiện nay không có sự trao đổi ý kiến hoặc rất ít khi có trao đổi ý kiến.
Sự thống nhất bắt buộc như vậy nói lên điều gì và sẽ dẫn đến đâu?
Sẽ dẫn đến hậu quả thật là tai hại.
Trước hết là bất kì đảng nào, đặc biệt là đảng cộng sản, quyền lực cũng nằm trong tay lãnh tụ hoặc các cơ quan lãnh đạo. Sự thống nhất là mệnh lệnh (đặc biệt là đối với đảng cộng sản, một đảng có kỉ luật theo kiểu nhà binh) nhất định sẽ dẫn tới việc bao cấp về tư tưởng của trung ương đối với các đảng viên thường. Nếu dưới thời Lenin tư tưởng chỉ được thống nhất sau các cuộc đấu tranh dữ dội ở các cấp cao nhất, thì Stalin bắt đầu tự mình quyết định tư tưởng nào là đúng, còn “ban lãnh đạo tập thể” hiện nay lại chỉ cần ngăn chặn không cho những tư tưởng mới xuất hiện là được. Chủ nghĩa Marx đã trở thành lí luận của các ông trùm cộng sản như thế đấy. Một chủ nghĩa Marx hoặc chủ nghĩa cộng sản khác không thể nào xảy ra được, trong hiện tại và có thể cả trong tương lai nữa.
Hậu quả của sự thống nhất về tư tưởng thật là tai hại: nền chuyên chế của Lenin dĩ nhiên là khắc nghiệt, nhưng nó chỉ trở thành toàn trị dưới trào Stalin. Việc chấm dứt cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ đảng đã dẫn đến sự tiêu diệt tự do trong toàn xã hội. Sự bất dung đối với các trào lưu tư tưởng khác và việc khăng khăng khẳng định tính khoa học giả tạo của chủ nghĩa Marx-Lenin đã tạo ra sự độc quyền tư tưởng của ban lãnh đạo chóp bu của đảng và cuối cùng là sự thống trị tuyệt đối của nó đối với xã hội.
Thống nhất về tư tưởng thực chất là sự đè nén mọi sáng kiến không chỉ trong phong trào cộng sản mà trong toàn xã hội nữa. Tất cả những gì mang tính mới mẻ đều phải được đảng cho phép, xã hội bị đặt hoàn toàn dưới sự giám sát của đảng, còn trong đảng thì không có chút tự do nào.
Sự thống nhất về tư tưởng không xảy ra ngay lập tức, điều đó, cũng như những điều khác trong chế độ cộng sản đã phát triển một cách tuần tự và nó chỉ đạt được sức mạnh tuyệt đối khi các xu hướng khác nhau của phong trào đấu tranh quyết liệt với nhau để giành quyền lực. Và không phải vô tình mà vào giữa những năm 20 của thế kỉ XX chính Trotsky bị yêu cầu từ bỏ quan điểm của mình. Stalin bắt đầu tập hợp lực lượng.
Sự thống nhất về tư tưởng là cơ sở của độc tài cá nhân, thiếu sự thống nhất đó thì độc tài cá nhân không thể nào tồn tại được. Cái này tạo ra cái kia và củng cố lẫn nhau. Điều này được giải thích như sau: tư tưởng là kết quả của sự suy tư sáng tạo của từng cá nhân riêng biệt, còn sự độc quyền tư tưởng chỉ là mặt nạ của chế độ độc tài. Mặc dù sự thống nhất về tư tưởng và chế độ độc tài đã song song tồn tại ngay từ khởi thủy của phong trào bolshevik, phong trào cộng sản hiện đại, nhưng chúng chỉ được củng cố khi chế độ bước vào giai đoạn trưởng thành và sẽ là xu hướng chủ đạo cho đến ngày diệt vong của chế độ đó.
Việc diệt trừ các quan điểm khác nhau trong ban lãnh đạo đảng tự động dẫn đến việc loại bỏ các trào lưu, xu hướng trong nội bộ phong trào và như vậy đồng nghĩa với việc giết chết dân chủ trong các đảng cộng sản. Trong chế độ cộng sản “lãnh tụ là người biết tuốt” đã trở thành nguyên tắc: những kẻ có quyền dù ngu dốt đến đâu cũng đều trở thành nhà tư tưởng hết.
Khi người ta tiến hành các biện pháp nhằm tăng cường sự thống nhất về tư tưởng trong đảng cũng là lúc sự độc tài cá nhân hay độc tài của một nhóm những kẻ cầm đầu đang được củng cố. Nhóm này có thể tạm thời thoả thuận với nhau hoặc cùng tồn tại khi có sự cân bằng lực lượng tạm thời.
Trong quá khứ người ta đã từng thấy xu hướng thống nhất về tư tưởng của các đảng khác nữa, đặc biệt là các đảng xã hội. Nhưng đây chỉ là xu hướng và cũng không kéo dài như những đảng cộng sản. Đảng viên không chỉ là một người mác-xít mà phải là mác-xít theo quan điểm và chỉ thị từ trung ương. Từ một tư tưởng có tính cách mạng và tự do, chủ nghĩa Marx đã trở thành một giáo lí không khác gì trong các chế độ độc tài phương Đông, nơi vương triều có toàn quyền qui định và giải thích giáo lí, còn nhà vua đóng luôn vai trò Giáo chủ.
Sự thống nhất bắt buộc về tư tưởng, đã phát triển qua nhiều giai đoạn và mang nhiều hình thức khác nhau, đã và vẫn là đặc điểm cơ bản của đảng bolshevik.
Nhưng sự thống nhất bắt buộc như thế sẽ không thể nào xảy ra được nếu như đảng không phải là cha đẻ của giai cấp mới và nếu như nó không đặt ra cho mình nhiệm vụ lịch sử chưa từng có.
Lịch sử hiện đại chưa có giai cấp nào hay đảng phái nào thực hiện được sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng trong hàng ngũ của mình như đảng cộng sản. Nhưng ngoài họ thì cũng chưa ai có ý định cải tạo toàn bộ xã hội chủ yếu bằng các biện pháp chính trị và hành chính. Chỉ có những người có niềm tin tuyệt đối, có niềm tin mù quáng vào sự đúng đắn và trong sáng của các quan điểm và mục đích của mình mới dám làm những việc như vậy. Nhiệm vụ này khó khăn đến nỗi nó đòi hỏi không chỉ thái độ không khoan nhượng đối với các tư tưởng khác và các nhóm xã hội khác mà còn đòi hỏi sự khuất phục của toàn xã hội và sự cố kết của chính giai cấp cầm quyền. Đấy chính là lí do vì sao đảng cộng sản cần một sự ổn định vững chắc về tư tưởng.
Sau khi đã đạt được rồi, sự thống nhất về tư tưởng sẽ trở thành một định kiến. Người cộng sản được dạy rằng thống nhất về tư tưởng (thực ra là các tư tưởng được truyền từ trên xuống) là điều thiêng liêng bất khả xâm phạm, bè phái trong đảng là hoạt động xấu xa nhất.
Như vậy là không thể tạo được chế độ toàn trị nếu không đàn áp các nhóm xã hội khác, cũng như sự thống nhất về tư tưởng không thể xảy ra được nếu không tiến hành thanh trừng ngay trong hàng ngũ của mình. Hai quá trình này diễn ra đồng thời và quyện chặt vào nhau một cách “khách quan” trong nhận thức của những người sáng lập chế độ toàn trị, mặc dù đấy là hai việc khác nhau, một đằng là tiêu diệt kẻ thù và mặt khác là “giải quyết quan hệ” trong nội bộ. Dĩ nhiên Stalin biết rằng Trotsky, Bukharin hay Zinoviev không phải là gián điệp hay những kẻ phản bội. Nhưng việc họ bất đồng với ông ta đã tạo nhiều khó khăn cho việc thiết lập chế độ toàn trị và ông ta phải tiêu diệt họ, tất cả chỉ có thế mà thôi. Tội lỗi của ông ta đối với đảng chính là ông ta đã biến sự tranh chấp, bất đồng khách quan về tư tưởng và đường lối chính trị trong đảng thành tội lỗi chủ quan của từng người và từng nhóm khác nhau và vu cho họ những hành động tội ác mà họ không phạm.
Nhưng đối với chế độ cộng sản thì đấy là con đường bắt buộc phải đi qua. Có thể thiết lập chế độ toàn trị, nghĩa là tạo ra sự thống nhất về tư tưởng, bằng những biện pháp mềm dẻo hơn biện pháp mà Stalin đã áp dụng, nhưng thực chất vẫn chỉ là một. Ngay cả trong những trường hợp khi mà công nghiệp hoá không phải là biện pháp cũng như điều kiện để tạo ra chế độ toàn trị – Tiệp và Hung là những thí dụ – thì đảng cộng sản vẫn áp dụng những biện pháp không khác gì những biện pháp được áp dụng ở các nước chậm phát triển, thí dụ như Liên Xô. Đấy không phải là do Liên Xô áp đặt cho các đảng đàn em mà là bản chất của các đảng cộng sản, bản chất của tư tưởng cộng sản. Quyền lực tối thượng của đảng đối với xã hội, đồng nhất chính quyền và bộ máy quyền lực với đảng, chỉ những cấp nào đó mới được quyền có tư tưởng là những đặc thù của tất cả các đảng cộng sản cầm quyền.
Đảng là sức mạnh của chính quyền và nhà nước cộng sản. Đảng là người tạo nên tất cả, là cội nguồn và sức mạnh cố kết giai cấp mới, quyền lực, tài sản và tư tưởng của giai cấp ấy.
Chính vì vậy mà trong chế độ cộng sản không thể xảy ra độc tài quân sự mặc dù ở Liên Xô có vẻ như đã từng có các âm mưu cướp quyền của giới tướng lĩnh. Nếu giả dụ chế độ độc tài quân sự có thuyết phục được xã hội về sự cần thiết phải tập trung toàn bộ sức mạnh và chấp nhận hi sinh trong một thời gian nào đó thì nó cũng không thể kiểm soát được toàn bộ xã hội. Chỉ có một đảng duy nhất làm được chuyện đó, đấy là đảng tuyên truyền cho những lí tưởng cao cả, sự độc đoán chuyên quyền của nó được các đảng viên và tất cả những ai tin vào lí tưởng ấy coi không những là cần thiết mà còn là hình thức tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội cao nhất.
Nếu xét theo khía cạnh tự do thì độc tài quân sự trong chế độ cộng sản là một tiến bộ lớn. Nó đồng nghĩa với việc cáo chung của chế độ toàn trị của đảng, của nhóm chóp bu nắm quyền của đảng đối với xã hội.
Về lí thuyết, độc tài quân sự chỉ xảy ra khi đất nước gặp thất bại năng nề về quân sự hoặc có khủng hoảng chính trị nghiêm trọng. Lúc đó hình thức khởi thuỷ của nó sẽ là độc tài của đảng hay dưới danh nghĩa độc tài của đảng. Nhưng điều đó nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi của toàn bộ hệ thống.
Chế độ độc tài toàn trị của nhóm đầu sỏ trong đảng trong các chế độ cộng sản không phải là kết quả nhất thời của cuộc tranh chấp chính trị mà là kết quả của một quá trình phức tạp và kéo dài. Sự cáo chung của chế độ độc tài không chỉ có nghĩa là sự thay thế hình thức cai trị này bằng hình thức cai trị khác mà còn là sự thay đổi, đúng hơn là khởi đầu của sự thay đổi của cả hệ thống. Nền chuyên chính của đảng chính là hệ thống, là linh hồn, trí tuệ và bản chất của cả hệ thống.
Dịch từ bản tiếng Nga, tại http://dzhilas-milovan.viv.ru/index.htm
Nguồntalawas, 2005

Nghệ sỹ bị cấm xuất cảnh như thế nào

Một bức tranh của họa sỹ Nguyễn Minh Thành trưng bày tại London tháng 7/2005
Thành cho rằng ‘Văn hoá của người Việt là người dưới bị bắt buộc phục tùng’
Sau đây là thư của họa sỹ Nguyễn Minh Thành từ Hà Nội gửi nhà chức trách ở Việt Nam để bày tỏ ý kiến về một câu chuyện liên quan đến chính sách đối với văn nghệ sỹ. BBC xin đăng nguyên văn như sau:

Thư gửi Ngài Bộ trưởng bộ Văn hoá - Thông tin - Du lịch
Kính thưa ngài,
Tôi tên là Nguyễn Minh Thành, một họa sỹ Việt nam. Tôi viết thư này với hy vọng lớn nhất rằng nó sẽ đến được tận tay ngài và ngài sẽ đọc nó. Tuy nhiên, theo những phỏng đoán của tôi, thì thường những thư như thế này rất khó đến được tay ngài và cũng ít cơ may được các quí Bộ trưởng đọc nó. Tôi cũng đã lưỡng lự nhiều lần, song lại nghĩ dầu thế nào cũng cứ viết tâm sự của mình và gửi tới ngài, còn duyên may đến đâu là ngoài tầm tay của mình.
Mặt khác, đây là lá thư mà tôi muốn trò chuyện về văn hoá của nước ta hiện nay, đó cũng là câu chuyện chung mà càng nhiều người chia sẻ và công luận thì càng tốt. Nên đồng thời gửi đến ngài Bộ trưởng, người mà tôi mong muốn nhất sẽ đọc nó, tôi cũng gửi cho các bạn bè và người quen qua e-mail. Như thế, cho dù vì lí do nào mà ngài không đọc được nó thì cũng có nhiều người đọc nó. Và chí ít nó cũng minh chứng một điều đơn giản thường thấy là ai nghe được tiếng nói người dân hay chỉ lại là chính người dân?
Tôi xin kể vắn tắt câu chuyện này:
Hồi đầu tháng 8 năm 2005, chúng tôi gồm 10 hoạ sỹ lên đường đi Côn Minh Trung Quốc tham dự một chương trình trao đổi với các nghệ sỹ bên đó. Đây là chuyến đi hoàn toàn tư nhân của chúng tôi và chúng tôi cũng xin visa theo mục du lịch. Chúng tôi không hề có ý muốn đại diện công gì cho tư cách Quốc gia. Những gì chúng tôi sinh hoạt đều là cá nhân bình thường, tuỳ ý, chứ không với một trách nhiệm đại diện gì cho ai. Nhưng khi chúng tôi đến cửa khẩu làm thủ tục xuất cảnh thì bị giữ lại và kết quả sau 5-6 tiếng chờ đợi là: Không được xuất cảnh! Những băng đĩa tư liệu cũng bị giữ, niêm phong và gửi về Bộ Văn hoá tại Hà nội. Chúng tôi nhận được lời giải thích về việc thu băng đĩa là: Vì chưa có giấy phép. Còn về không được phép xuất cảnh là không có lời nào. Mấy viên chức cửa khẩu nói họ chỉ làm theo lệnh từ trên.
Sau chúng tôi mới vỡ lẽ một phần là, các công an an ninh văn hoá, đã theo dõi và có đủ mọi thông tin về chuyến đi của chúng tôi. Câu chuyện nhỏ này là lý do chính mà tôi muốn tham khảo ý kiến Bộ trưởng và mọi người về những điều sau đây:
1-Việc chúng tôi không được xuất cảnh này đến giờ cũng chẳng biết lý do và chẳng ai đứng ra giải thích, như vậy có phải là điều bình thưòng không? Nêú là chuyện thường thì chúng ta sẽ phải đánh giá sự thường tình này như thế nào đây? Nếu không bình thường thì tại sao chúng tôi lại phải nhận sự đặc biệt này?
2- Bộ Trưởng có thấy rằng việc trên đây làm tổn thương chúng tôi và có một tổn thương nào đó trong cả bầu văn hoá chung của chúng ta không? Nếu là có thì đâu là nguyên nhân và ai là người gây ra? Nếu là không thì mọi thứ đều ổn thoả, bộ trưởng cứ việc ngủ ngon trong cơ đồ ổn thoả này.
3-Mọi thứ ở Việt nam dường như rất quy tắc và luôn cần được xin phép. Và phần lớn những lần tôi làm triển lãm đều rất mệt mỏi vì xin phép. Có thể nói, hầu như ai cũng thấy thế. Quỹ đạo hành chính và luật lệ vẫn như thế, tôi càng ngày càng thấy chẳng được dễ dãi hơn chút nào. Và đây là câu hỏi rằng: Có cái cây hay con thú hay thế lực phản động nào ngăn cản việc sống dễ dãi hơn của chúng ta hay không? hay chỉ còn lại chúng ta với nhau, công dân và nhà nước, nhưng chúng ta, như hai kẻ vùa điên, vừa ngờ nghệch, vật lộn với nhau trên đất nước bình yên và tươi đẹp này?
Chúng ta vốn sinh ra để được sống hạnh phúc và hạnh phúc hơn kia mà! Hay bộ trưởng và các quan chức thấy đời phải là bể khổ nên cứ phải gây ra khó khăn để cho đúng nghĩa ấy? Mười họa sỹ chúng tôi vừa rồi với tất cả hứng khởi đi Côn minh vì sẽ được tiếp xúc, được trao đổi và được học hành thêm từ bên ngoài. Vậy mà chúng tôi không được phép. Trong khi nhà nước chẳng hề cấp kinh phí gì, chúng tôi phải tự túc gắng công lắm mới xin được tài trợ cho chuyến đi. Khi hiểu về điều này tôi đã hiểu rằng mọi điều xảy ra đều là do con người gây ra và con người hèn hạ tồi tệ mới gây ra điều tồi tệ. Ở đây là những công an văn hoá nọ, đã rắp tâm kìm hãm chuyến đi này. Tôi cũng thấy chẳng cần bắt vạ Bộ trưởng vì những con người tồi tệ, vì mặc nhiên Bộ trưởng cũng chẳng thể làm gì được. Việc nhân cách là do một nền văn hoá sinh ra chứ không phải Bộ trưởng sinh ra, nhưng đây là vấn đề: Rằng chúng ta có vấn đề lớn về văn hoá.
Và đó mới là vấn đề tôi muốn nói với một Bộ trưởng bộ văn hoá. Tôi nói rằng văn hoá của nước Việt nam ta hiện nay thẫm đẫm giả dối. Từ trung ương đến địa phương, từ nông thôn đến thành thị, từ gia đình đến xã hội, từ người giàu đến người nghèo... đều thấm đẫm giả dối. Nguyên nhân của sự giả dối cao đến mức như thế này là do, vốn văn hoá phong kiến trong truyền thống nước ta đã nặng về hình thức ( một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp) lại công thêm 60 năm tư tưởng của nhà nước Cộng sản, còn xô đẩy người ta vào tư thế luôn phải giả dối. Nói vậy Bộ trưởng và nhiều người sẽ nghĩ thế thì láo quá! phủ nhận tất cả mọi thứ ư? nhưng tôi xin nhắc lại công lao của tư tưởng cộng sản để lại cho nhà nước ta hiện nay chỉ là sự giả dối mức độ cao như hiện nay nếu không nói là quá cao.
Và nếu tôi có láo vì nói vậy thì cũng là sự thật đấy. Cũng nói thêm rằng công lao có vẻ như được khẳng định chắc chắn nhất là: Đảng cộng sản giành lại độc lập cho Việt nam, nhưng hãy bình tâm suy xét một chút thôi, thì quan niệm về công lao này cũng sẽ bị lung lay đấy. Đó là: nếu không phải Đảng cộng sản và những người thế hệ ấy giành độc lập, thì luôn sẽ có những người khác làm việc đó, mặc dù là muộn hơn, nhưng muộn hay sớm không phải là vấn đề và cũng không phải là mục đích, mà là bằng cách nào, ra sao.
Hãy xem Ấn Độ giành độc lập sau nước ta và họ không cần quân đội và vũ khí để làm việc đó và hãy xem giờ đây họ là một nước như thế nào? Có thể nước ta giành độc lập bằng cách khác và với tư tưởng khác thì cũng không biết được có tốt hơn, hay xấu hơn những người cộng sản và cách mà họ đã làm, nhưng đó cũng không phải là điều cần bàn hiện nay vì nó chưa xảy ra, mà hiện nay điều phải dũng cảm nhìn vào là không có chỗ trong sự thật cho sự khẳng định rằng: Đảng cộng sản đúng và lại còn "hoàn toàn đúng" như nhà nước vẫn luôn dạy nhân dân. Thực ra điều tôi nói này không mới mẻ gì nhưng tại sao giờ này vẫn chưa nói ra được cũng chỉ là vì giả dối và tự lừa dối. Và Đảng ta là giả dối đấy. Tôi không tin được là Đảng ta thực thà đâu, đừng bắt tôi tin nữa. Việc bắt người ta không tin, phải tin điều gì đó, thì giống như tước bỏ cuộc sống của người ta mà thôi. Niềm tin không có ép được cũng như tình yêu vậy.
Khi nghe về tham nhũng ai nấy lắc đầu ngán ngẩm! chắc cả Bộ trưởng cũng vậy thôi. Nhưng tham nhũng là gì? Tham nhũng chính là kết quả của dối trá mà thôi. Những nước ít tham nhũng hơn ta thì chắc chắn rằng xã hội của họ, văn hoá của họ ít giả dối hơn ta. Vậy thì văn hoá hoàn toàn góp phần vào chống tham nhũng được đấy chứ, đâu phải chỉ có Tư pháp và luật pháp. Nhà nước nghĩ được ra luật chống tham nhũng mà không nghĩ được rằng bề sâu của vấn đề là văn hoá thì luật ấy chẳng bao giờ có hiệu quả đâu và mọi người cứ xem, thời gian sẽ cho thấy điều đó. Giờ đây tôi xin chỉ rõ điều bao bọc che chở cho sự giả dối đang lớn lên quá cỡ như hiện nay là: Chế độ kiểm duyệt văn hoá và tư tưởng.
Chế độ kiểm duyệt được duy trì như hiện nay tưởng là an toàn cho quốc gia, nhưng là ngây thơ lắm. Sức công phá của cái bọc giả dối này đang đến gần và nó mạnh lắm đấy. Chúng ta đang được an toàn như ở trong cái nhà chứa thuốc nổ vậy. Nếu biết tháo gỡ nó dần dần thì vẫn không sao.
Nhưng tại sao một số nước vẫn duy trì chế độ kiểm duyệt? Vì cũng từ trong văn hoá mà ra. Văn hoá của người Việt là: bố mẹ lo tương lai cho con cái, nghĩa là lo lấy vợ lấy chồng và xây nhà cửa cho con cái rồi nhắm mắt mới yên lòng. Nếp nghĩ này có từ rất lâu nên nó cũng khắc rất sâu trong văn hoá người Việt. Trước hết, nếp nghĩ này sẽ tiêu huỷ mọi ý tưởng phát minh và sáng tạo. Con cái sinh ra, lớn lên sẽ chỉ ở yên dưới sự chỉ đạo và điều hành của bố mẹ cho đến khi lập gia đình xong.
Một số con cái làm trái ý bố mẹ thì bị coi là mất dạy và sẽ phải bị bắt buộc phục tùng. Và nếu nó không quy thuận thì sao? thì số đông là xã hội sẽ lên án. Và như thế từ nhà ra tới ngoài xã hội đều thống nhất một quan điểm nó là đứa mất dạy và đương nhiên mọi cơ hội để nó là nó, là tự phát triển đều không có, hoặc có rất ít. Điều này giải thích tại sao cho đến giờ Việt nam, Văn học, Toán học, Vật lý, Hoá học... chưa có giải Nobel, hay là những nhân tài lừng lẫy thế giới. Văn hoá này cũng dẫn đến rất nhiều tuỳ tiện và áp chế từ phía người có quyền hành. Không phải bố mẹ nào cũng lo được cưới xin và nhà cửa cho con cái như nhau, nên con cái hãy yên phận với những gì cha mẹ có thể làm được và đừng tủi hổ than phiền về điều đó, đó cũng là đức hạnh lớn lao được xã hội đề cao.
Một đứa bé lớn lên chẳng mấy chốc trở thành những người kế tục và chúng cũng phải lặp lại y nguyên những gì cha mẹ làm với chúng. Xã hội mà chúng ta đang sống hiện nay là đang thừa hưởng văn hoá ấy. Thế thì đại biểu quốc hội, quan chức nhà nước và Bộ chính trị đi nữa, thì cũng là những con người ấy những con người từ nhân dân mà ra và được ướp trong nếp nghĩ sâu xa ấy. Thế là chúng ta có một chính quyền của nhân dân và do dân, vì dân theo nghĩa ấy, đó là lo lắng và sắp đặt mọi thứ mà người dân không nên tự lo hay không được phép lo. Dân muốn gì thì phải xin nhà nước. Tôi đoán rằng hiếm có nước nào chữ "đơn xin, giấy xin phép" được dùng nhiều như ở chế độ hành chính của ta.
Tôi thấy như một trò hề là thậm chí nhà nước thiết kế cả mô hình làng văn hoá và mọi nơi cứ đua nhau "xây dựng làng văn hoá" hay "khu văn hoá" với những tấm biển to ngoài cổng, Lại còn cấp cả bằng chứng nhận gia đình văn hoá nữa! Cũng như các bậc cha mẹ thường hay nói:"bác à, cháu nó thế thôi, nhưng mà được cái ngoan đáo để, có hiếu lắm..." Và lần này với 10 họa sỹ chúng tôi cũng vậy, các cô, các cậu tự đi tham khảo, trao đổi, học hành làm gì? cứ ở yên đấy, nhà nước sẽ lo liệu cho các bạn mọi thứ tốt đẹp, còn ít ra nếu có thăm thú tìm hiểu cái gì cũng phải xin phép nhà nước hay các cấp "có thẩm quyền" coi có tốt đẹp không đã.
Còn nếu ai hỏi xem, hoạ sỹ của Việt nam vẽ gì thế ? Thì các quan chức sẽ trình bầy rằng: đây này, bạn xem triển lãm mỹ thuật toàn quốc của chúng tôi đi, họ vẽ yêu nước lắm, ca ngợi lắm, "có hiếu" lắm...Có phải vậy không thưa bộ trưởng? Nếu không được tự do đi ra ngoài nước thì làm sao chúng ta có nghệ sỹ nổi tiếng thế giới? Thưa bộ trưởng! Hay là chẳng cần thiết là danh hoạ thế giới, cứ ở nhà phấn đấu rồi bộ văn hoá sẽ trao bằng khen cho? Tôi phải thốt lên với thế giới rằng có công dân nước nào được nhà nước lo chăm như chúng tôi không? Hỡi các bạn quốc tế, đến đây mà ganh tỵ với chúng tôi!
Nước Việt nam có một bờ biển dài, nhưng lịch sử cho thấy, hàng hải của chúng ta từ xưa đến nay luôn kém nhất trong khu vực. Điều ấy nói lên khả năng phiêu lưu của người Việt là kém. Điều ấy cũng nói lên một nỗi sợ hãi nào đó với thế giới bên ngoài trong văn hoá của chúng ta. Và nhìn chung, người Việt thích an toàn. Và càng thích an toàn bao nhiêu thì càng sợ nổi loạn bấy nhiêu. Vì thế mà đến cả văn hoá cũng cần phải có một ban tư tưởng văn hoá trung ương và một cục của công an lo về bảo vệ an ninh văn hoá. Tôi hiểu những năm qua chính quyền của nhà nước xã hội chủ nghĩa này chịu rất nhiều phê phán và chống phá từ bên ngoài nhất là ngoại kiều thất trận, đương nhiên, nếu không có chế độ bảo vệ kiểu đó thì chính quyền cũng gặp nhiều nguy nan. Nhưng đó là vấn đề của chính quyền chứ không phải vấn đề của người dân. Nhưng cũng vì chỉ lo bảo vệ chính quyền mà người dân cũng bị xếp chung trong chế độ kiểm duyệt và đương nhiên là bị hạn chế nhân quyền.
Vấn đề ở đây cần được làm rõ là: chính quyền cần được bảo vệ chứ không phải người dân, nhưng chính quyền lại nép vào phía người dân để được che chở. Việc chính quyền có bị đe doạ, là không liên quan đến tôi, còn nói nó có liên quan đến tôi để tôi phải cùng trách nhiệm là không đúng, điều này cần được xem lại. Chỉ có một phần nhỏ dân số của đất nước là liên hệ có quyền lợi với chính quyền, còn lại nếu xét đúng ra thì người dân luôn phải nuôi chính quyền. Nhưng cái hay ở Việt nam là ở chỗ, đa phần người dân rất sợ chống chính quyền, đó là cái hay đáng thương tôi cũng rất sợ. Tôi không dám chống đâu, mặc dù tôi không thích cái chính quyền này. Tôi yêu đất nước này nhưng tôi không yêu cái chính quyền này. Điều ấy là thực. Chắc cũng xuất phát từ cái văn hoá thích an toàn, yên ổn. Và đến đây thì chúng ta tìm thấy cái giống nhau là: cả hai, chính quyền và người dân đều thích yên ổn, nhưng điều khác nhau ở chỗ: người dân vì yên ổn nên không muốn làm gì chống lại, còn chính quyền thì làm mọi cách để đạt được an toàn cho dù có xâm hại đến người dân.
Thưa bộ trưởng, tôi luôn mơ ước có một chính quyền tốt hơn cho dù là đảng nào cũng được và tôi biết, không ít người cũng nghĩ như vậy. Thêm nữa về cái bọc giả dối của chúng ta là: Mấy năm gần đây cứ nói thật hồn nhiên trên thông tin đại chúng về "Tư tưởng Hồ Chí Minh". Tôi thấy nực cười vì tôi tìm mãi cũng chả thấy nêu lên được cái gì gọi là tư tưởng cả! Những điều mà Đảng, nhà nước tuyên truyền ấy tìm đâu chả thấy. Một người có ăn học bình thường cũng có thể nói lên được những điều ấy, hay cứ bảo bất kỳ một người ở một nước phát triển, có bằng tiến sỹ thời bây giờ là họ sẽ viết ra còn đầy đủ và tiến bộ hơn những điều mà các nhà triết học Mác-Lênin của chính phủ nói về "Tư tưởng Hồ Chí Minh". ấy vậy mà tốn biết bao giấy mực và thời gian, công sức truyền thông về cái gọi là tư tưởng ấy. Ngay cả phát động những cuộc thi tìm hiểu về tư tưởng ấy nữa, hãy thành thực mà nói với nhau rằng đó là hình thức và giả tạo. Hơn nữa, cái thế giới này đã chẳng còn cần đến tư tưởng của một ai nữa, vì tư tưởng nào cũng có, nhưng có đưa người ta đến đâu đâu, vẫn cứ sống cùng nhau trong khó khăn và thách thức như hiện nay, như muôn đời.
Tôi cũng rất tôn trọng chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng đừng lầm lẫn tôn trọng và mê tín. Nhà nước không nên bảo hộ tư tưởng và văn hoá như vậy, hãy dành quyền đó cho người dân. Bộ trưởng có biết rằng dân ta sợ nhà nước tới mức nào không? Họ sợ tới mức không dám suy tư về những tư tưởng nữa. Văn nghệ sỹ cũng hầu hết rất sợ đả động hay liên quan đến chính trị, đến tư tưởng. Và thành một thông lệ được tự quy ước trong đầu mỗi người là: nếu có nói về chính trị hay đến Đảng thì chỉ được phép nói tốt. Còn nói xấu chắc Bộ trưởng và mọi người cũng đã từng chứng kiến, hậu quả như thế nào sẽ xảy ra. Vì thế nên trong thanh niên ở ta hiện nay, tâm lý, triết học và quan niệm chính trị, kể như không có trên đời. Tôi còn nghe nhiều phàn nàn và phê phán rằng thanh niên ta thời nay không có mấy lý tưởng sống. Điều đó đúng đấy, nhưng những người phê phán phàn nàn ấy, hãy xem họ là ai? chắc chắn số đông là thế hệ già. Và lý tưởng mà họ muốn nói ấy là gì? Thực ra là những lời phàn nàn sáo rỗng và giả dối nữa. Chính thế hệ đã gây ra tình trạng băng giá trong tinh thần thanh niên ngày nay lại phàn nàn về chính điều đó. Tôi xin bảo đảm rằng chừng nào giả dối mất đi, chừng đó lý tưởng mới nảy sinh. Và lý tưởng là gì? là niềm say xưa đến với cái đẹp đẽ của cuộc đời này. Muốn thế cần tình yêu, bao nhiêu năm nay tôi chưa được nghe người cộng sản nào nói được về tình yêu cả, hình như họ chỉ đơn giản bắt người ta phải yêu Đảng cộng sản thì đúng hơn.
Thế hệ trẻ ngày nay không phải họ bị biến chất đâu, và cũng không phải bị ảnh hưởng xấu từ bên ngoài đâu, lạy Chúa, nếu được ảnh hưởng từ bên ngoài lại còn là may đấy! Nhưng họ bị thui chột tinh thần ngay từ bên trong kìa, đó là gia đình, là thế hệ cha anh chú bác, họ mất lòng tin nơi thế hệ đi trước. Tôi biết nói vậy biết bao người sẽ không hài lòng tý nào, nhưng đó cũng chẳng gì hơn ngoài sự thật. Thời bao cấp, thời xã hội chủ nghĩa, đã tước đoạt biết bao tình yêu và chân thật, đó là một vết thương lớn trong văn hoá và thế hệ ngày nay và sau nữa còn phải chịu ảnh hưởng bởi di chấn của nó. Tôi xin nói rằng những thế hệ trước là những thế hệ có lỗi với thế hệ trẻ ngày hôm nay chứ không phải ngược lai, trong khi cách cư xử hiện thời là, cứ dường như thế hệ trẻ là có lỗi và gây nên mọi xấu xa cho dân tộc này. Tôi muôn vàn lần nài xin, hãy đừng lẫn lộn và đừng vô cảm thế. Và sự thực cho đến nay chưa hề có lời xin lỗi nào từ phía những người đi trước, mà chỉ nghe toàn thấy những lời tuyên thệ của các em học sinh noi theo, biết ơn cha ông và những người đi trước. Các em còn biết bao trong sáng, ngây thơ mà ở trường những bài học đầu tiên đã là những bài học về vô cảm, sáo rỗng và giả dối. Như vậy làm sao tình yêu nảy sinh được. Con em chúng đa đang bị nhiễm độc nặng trong bầu khí giả dối này. Giả dối không đứng cùng với tình yêu.
Sau hết, với thành tâm và hiểu biết của tôi, tôi xin khuyên rằng hãy bỏ cố chấp đi. Đảng cộng sản hiện nay đang là cố chấp, đang lún sâu vào hơn bãi lầy cố chấp. Sớm muộn gì mọi quốc gia nếu muốn phát triển và văn minh hơn, đều phải đa đảng như nhũng nước tiên tiến hiện nay. Kể cả Trung Quốc hay Cu Ba hay Bắc Triều Tiên thì cũng sẽ phải vậy. Vấn đề hơn nhau là ở thời gian thôi. Những người vì quá sợ hãi thay đổi, thì luôn tìm kiếm các mô hình có vẻ giống mình để được cảm thấy an tâm và khỏi phải thay đổi. Nhưng giờ là lúc nếu người lạc quan có thể cho phép mình nghĩ là vẫn còn chưa muộn để lo thu xếp việc thay đổi. Để càng lâu thì việc chỉ càng khó khăn hơn và khủng hoảng chỉ càng lớn hơn, đau đớn càng lớn hơn mà thôi.
Nhưng trước khi bắt tay thay đổi, hãy chuẩn bị tâm lý cho một nỗi sợ hãi lớn. Chỉ có dũng cảm để làm được. Dũng cảm cần nỗ lực, còn sợ hãi và nhút nhát chả cần nỗ lực gì, nó luôn dư thừa có đó trong mỗi người và nó bám víu người ta dai dẳng hơn bất cứ cái gì. Sau nỗi sợ là sự tức giận. Sợ hãi sẽ dẫn tới bạo hành, luôn là như vậy. Nhưng hãy nghĩ: sinh ra và sống trên đời này là quí nhất và thiêng liêng vô cùng. Thế nên chả có gì cần phải nóng giận mà hãy đón nhận mọi phê phán và chỉ trích. Tôi nghĩ nếu vì ý thức về sự thiêng liêng của con người thì, quá trình thay đổi từ hiện nay sang đa đảng cũng hoàn toàn tránh được đau đớn. Nếu thông minh thì cũng thu xếp bảo vệ được nhiều quyền lợi. Nhưng được điều quan trọng hơn là giải phóng cho dân tộc mình khỏi bạc nhược và buồn bã như hiện nay.
Kính thưa Bộ trưởng, tôi còn nhiều tâm sự thế này lắm, bức thư này chỉ phần nào nói lên những gì tôi nghĩ thế thôi, kẻo làm mất nhiều thời gian của Bộ trưởng. Tôi hy vọng nếu có điều kiện, còn có thể giãi bày tâm sự và trao đổi cùng Bộ trưởng và mọi người nhiều hơn về con người chúng ta và văn hoá chúng ta.
Với thư này tôi không dám có ý đấu tranh hay chống lại gì nhà nước đâu. Quan điểm riêng của tôi là thuyết phục và cổ vũ lòng chân thành. Còn sự thực và lẽ phải luôn thường trực bên chúng ta, nếu chúng ta nhận ra và sống với nó, thì lo chi không tràn ngập tình yêu hạnh phúc và bình an nữa. Tôi cũng xin là: đừng kết tôi vào tội gì khác ngoài tội mô tả sự thật. Nhà nước cũng hay kết nhiều người tội phản động và tôi sợ từ phản động vô cùng. Tôi nói thật, tôi sợ lắm!
Lời cầu nguyện của tôi là: Xin tình yêu, ở nơi tình yêu, chúng ta tin tưởng hoàn toàn và cuộc đời này thật đẹp biết bao!
Xin kính chúc Bộ trưởng và quý vị sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất.
Xin kính chúc năm mới an lành.
Hà nội ngày 09 tháng Giêng năm 2006
Nguyễn Minh Thành
Kính thư
Tái bút: Tôi cũng rất mong nếu được hồi âm. Địa chỉ của tôi là: Nguyễn Minh Thành-P6A1-149/1194-Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội.
e-mail: thanhmiin@yahoo.com.au
Quý vị có ý kiến đóng góp gì về câu chuyện này, xin chia sẻ với chúng tôi tại vietnamese@bbc.co.uk hoặc sử dụng hộp tiện ích bên tay phải.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2006/01/060117_minhthanhletter.shtml