Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

“Xin hãy sờ tôi” hay “Tự kiểm duyệt”

Tháng 7 12, 2013
Nguyễn Minh Thành
Anh bạn tôi tên là Tráng than rằng: Người xem cứ sờ vào tác phẩm nghệ thuật, đã treo biển cấm sờ mà họ vẫn sờ! Tôi bảo rằng: Vậy thì nên làm một triển lãm với chủ đề: xin người xem hãy sờ vào tác phẩm. Anh bạn tôi nói  đùa: Hay thành là tác phẩm đứng đó để cho người ta sờ. Thoạt tiên tôi nghĩ, xấu hổ lắm, tôi không dám đứng đâu, mặc dù biết là có thể đứng được. Rồi cứ nghĩ mãi, nên bây giờ nghĩ ra một tác phẩm, không phải đứng mà, nằm. Tác phẩm mà biết trước là sẽ bị kiểm duyệt, bị cấm.
Tác phẩm thế này:
Tôi sẽ hoá trang mặc áo quần và cắm râu ria sao cho giống y ông Hồ Chí Minh và nằm trong hộp kính, phía trên không đậy nắp. Cố gắng hết mức có thể để càng giống ông Hồ bây giờ đang nằm trong lăng Ba Đình. Nằm yên thế khoảng 1 tiếng trong khi người xem được mời sờ vào người tôi.
Tôi đoán rằng trong 100 người Việt Nam khi nghe đến tác phẩm nghệ thuật này thì có đến 99,9 người đoan chắc là tác phẩm sẽ bị nhà nước cấm. Tại sao bị cấm? Chắc hết thảy mọi người đều biết. Nhưng từ từ, chậm chậm, nghĩ về nó thì chắc cũng không nhiều người đâu, tôi đoán thế.
Vậy xin hãy cùng tôi bình tĩnh suy tư về điều này xem nó như thế nào.
Ông Hồ Chí Minh là người đã trở thành biểu tượng được tôn kính nhất ở Việt Nam hiện nay. Việc “trở thành” này là do đâu? Là do kỹ nghệ tuyên truyền của nhà nước tạo nên lòng sùng kính của nhân dân. Nhân dân ở đây cũng là từ phát ngôn của hệ thống tuyên truyền của nhà nước. Vì vậy nhân dân có sùng kính thật sự hay không thì không có gì đoan chắc. Hoặc có bao nhiêu phần trăm sùng kính? Hoặc thành phần nào trong nhân dân sùng kính? Hoặc hiểu biết của họ về ông Hồ ở mức độ nào?… Cũng đều không có gì đoan chắc.
Như cá nhân tôi cũng là một nhân dân, nhưng với hiểu biết của tôi thì tôi không sùng kính ông Hồ. Song khi trên đài báo, bao nhiêu năm nay cứ nói nhân dân và có nghĩa rằng tôi cũng ở trong số đó. Như thế thật oan cho tôi, tôi đâu có sùng kính ông Hồ! Và trong cả nước Việt Nam, có lẽ tôi không phải người duy nhất. Vậy có bao nhiêu người không sùng kính như tôi? Chúng ta hoàn toàn không biết. Nếu ai có mắt thần biết được thì thật hay. Biết đâu có 3 nhân dân, hay 16 nhân dân hay 700 nhân dân hay rất nhiều nhân dân hay bất kỳ con số nhân dân và không loại trừ con số lên tới mức nhiều làm người ta choáng váng thì sao.
Trong trường hợp chỉ có mỗi mình tôi trong cả nước là người không sùng kính ông Hồ, vậy thì trên các bài báo, bài văn hay bài phát biểu phải nói là: “Nhân dân ta thiếu một người sùng kính Bác Hồ” mới đúng.
Viết đến đây tôi liền search Google với từ khoá: “Nhân dân một lòng tôn kính bác” sau 3 giây, liền ra một loạt kết quả, tôi lấy bài đầu tiên, xin mời vào link này:  http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=15414&Itemid=37
Đọc bài này, quý vị thấy là loại văn kiểu gì? Riêng tôi thì gọi là loại văn nói dối. Nhưng từ chính xác hơn là: văn điêu. “Điêu” là làm cho lồi lên trên mặt phẳng. Nên cũng gọi là điêu khắc, nghĩa là làm lồi lên hay lõm xuống. Bài báo ở link trên này chỉ là một ví dụ dẫn chứng, mà tôi chẳng phải nhọc công tìm kiếm. Còn biết bao nhiêu bài và từ biết bao năm nay, cứ nguyên một điệu văn “điêu” ấy trên toàn hệ thống tuyên truyền nhà nước.
Từ công phu làm “điêu hoá văn” này của nhà nước từ năm 1954 đến nay, nước chúng ta đạt kết quả là nếu tìm 10 nước nói dối nhất thế giới thì không lo trong đó không có tên Việt Nam. Khi xã hội số đông nói dối nhau, thì xã hội ấy sao tránh khỏi tham nhũng!
Quay lại điều ông Hồ là biểu tượng được tôn kính nhất, thì chúng ta hãy suy xét về tính biểu tượng thực sự là gì?
Trước hết phải nói rằng: biểu tượng chính là nguyên nhân làm sa ngã nhân loại.
Tại sao vậy?
Thưa: biểu tượng được sinh ra từ một hình tượng cụ thể nào đó, dầu là người hay vật. Nó trở thành ký hiệu và quy ước trong tinh thần. Vì thế, biểu tượng thì rất cần thiết trong chính trị, tôn giáo hay đảng phái hay hội đoàn và nhất là trong kinh doanh. Trong các lãnh vực trên, muốn thành công nhất thiết phải có biểu tượng. Nếu không có biểu tượng, không thu hút số đông. Nhưng các nhóm số đông kia lại chính là nguyên nhân của chiến tranh, chia rẽ không ngừng trong lịch sử tiến hoá của nhân loại.
Duy nhất chỉ có kinh doanh là còn lành mạnh hơn cả. Vì trong kinh doanh, bạn thấy biểu tượng của coca cola chẳng hạn, bạn xem TV quảng cáo hay, bạn mua, bạn uống. Và từ quy ước của tinh thần, bạn ít ra còn được uống vật chất, mặc dù vẫn mất tiền như thường.
Còn biểu tượng của chính trị, tôn giáo, đảng phái, hội đoàn thì ăn vào tinh thần người ta và chi phối hành vi người ta theo cách phản xạ có điều kiện. Ví dụ cây thập tự là biểu tượng của Thiên chúa giáo, thì khi nhìn thấy cây thập tự, tín đồ Thiên chúa giáo được dạy là bái lạy tôn kính, còn người thù ghét Thiên chúa giáo, thì thấy cây thập tự, sẽ thù ghét cây thập tự và có phần chắc, sẽ thù ghét luôn cả người mang cây thập tự, cho dù người đó là một người đạo đức, thánh thiện. Như vậy, người ta vì biểu tượng mà hành xử, chứ không căn cứ vào thực tế. Lâu dần, khả năng cảm nhận và tôn trọng thực tế phai lạt dần, thậm chí mất hẳn. Vì thế nên nhân loại đau khổ. Cuộc sống vốn kỳ diệu và thần tiên hơn chúng ta thấy, trong khi vì hàng đống các biểu tượng chỉ làm giác quan của chúng ta càng thu hẹp lại, cùn đi, cảm nhận càng nghèo nàn hơn.
Giả sử một người chưa theo tôn giáo nào, (xin lưu ý là không phải người theo vô thần cộng sản, vì những người ấy cũng là theo tôn giáo cộng sản rồi, thậm chí tôn giáo này còn nghiệt ngã hơn nhiều tôn giáo hữu thần) thì họ lại dễ gặp Chúa Jêsu hay Đức Phật hơn là tín đồ Thiên chúa hay Phật tử. Bởi vì người đi nhà thờ hay lễ chùa vốn quen và tin cái tượng Chúa bị đóng đanh, hay tượng Phật trên toà sen, cùng nến đèn hương khói. Người tín đồ từ nhà thờ đi ra mà gặp một người hiền lễ phép nói: này bạn, tôi là Jêsu đây, thì người tín đồ sẽ rất bực mình và mắng cái ông kia là điên và mất dạy. Mà không chừng đó là Chúa thật thì sao? Vì giáo lý chẳng dạy Chúa đầy quyền năng, một phép lạ cỏn con như thế chẳng lẽ không biến thành được hay sao?
Trong khi chính lời Chúa dạy là: “Ta luôn ở cùng các con.”
Vậy đó, người ta sẽ rất nghiêm nghị thành kính với các biểu tượng, nhưng với thực tại thì người ta rất xem thường.
Cũng thế giả dụ bây giờ, có một ông y như ông Hồ, râu tóc bạc phơ nói với bạn: “Này cháu, bác đây, bác Hồ đây”, thì việc đầu tiên bạn sẽ làm với tư cách một nhân dân, là đi báo công an. Vậy là bác Hồ lại đi ở tù lần nữa.
Tôi nghe một chuyện từ một vị cư sĩ kể, là ông ấy đàm đạo với một mục sư về Kinh thánh. Có đoạn ông ấy hỏi vị mục sư:
“Ngài nói Chúa Jêsu chịu đóng đanh vì chuộc tội loài người đúng không?”
Vị mục sư trả lời: “Đúng.”
Vị cư sĩ hỏi:
“Nếu giả sử lúc ấy không có ai ngoài ngài và Chúa, mà Chúa không tự đóng đanh mình được. Chúa nhờ ngài giúp, vậy ngài có làm không?”
Vị mục sư trả lời:
“Vì cứu chuộc nhân loại, tôi sẽ làm.”
Cho nên, người ta thường hay bỏ quên thực tại ngay trước mắt mình như thế đấy. Từ điểm khởi đầu chúng ta là đi tìm cái tốt đẹp, nhưng các biểu tượng che mắt chúng ta dần dần, đến nỗi chúng ta một ngày cũng giết Chúa luôn trong niềm tin rằng đó là việc tốt. Y hệt như các cuộc thánh chiến, họ đều nhân danh Thượng đế để giết nhau. Trong khi hầu như tôn giáo nào cũng đều nói con người là con của Thượng đế, thậm chí Thượng đế ở trong mỗi con người.
Cho tới khi các biểu tượng vô hiệu hoá cảm nhận độc lập của chúng ta, thì chúng ta không còn khả năng tự đứng trên đôi chân của chính mình. Ta chẳng còn thậm chí dám cãi nhau với Chúa một chút, rằng nếu Chúa muốn cứu chuộc chúng con thì hãy tìm cách khác đi. Chúa là đấng toàn năng mà. Lạy Chúa tôi! Đừng bắt con phải đóng đinh Người. Cắt tiết một con gà con còn chẳng nỡ, thì Chúa nỡ lòng nào bắt con giết người.
Chúng ta nên cẩn trọng với biểu tượng. Biểu tượng là sản phẩm của suy nghĩ, chúng không đóng góp gì cho hạnh phúc nhân loại mà chúng chỉ quy tụ đám đông và dẫn dắt đám đông đi xa khỏi chính trái tim mình.
Tôi dám quả quyết rằng, nhân loại thiếu thốn tình yêu đến như thế này, là do thôi thì đủ loại các biểu tượng gây ra. Kể cả với biểu tượng cho tình yêu, cũng làm người ta mất cảm thụ về tình yêu. Ngày lễ Valentin chẳng hạn, tại sao phải chờ ngày đó mới mua quà tặng nhau, trong khi 365 ngày tình yêu cần được hiện diện. Thiếu một ngày của tình yêu là một ngày địa ngục. Tiếc thay chúng ta thậm chí sống 364 ngày vắng tình yêu. Tình yêu mới là chính thứ ta cần, trong khi điều ta đạt được lại chỉ là biểu tượng của tình yêu. Và chúng ta than rằng đời là bể khổ.
Nếu con người loại bỏ những biểu tượng, để tự do tư tưởng, tự nhiên trong tư duy, hồn nhiên trong suy nghĩ, thì thế giới này loại bỏ được biết bao phân chia, cách biệt và áp chế. Tình thương yêu sẽ là giáo lý cho mọi tôn giáo. Chân thật là hương thơm cho mỗi hành động, việc làm của con người. Bình an soán ngôi sợ hãi.
Đó là tại sao tôi nói: biểu tượng làm sa ngã nhân loại.
Tôi nghe ai đó nói: “đập vỡ thần tượng”, hình như ông nào thời chủ nghĩa hiện sinh thì phải. Và tôi thấy ông ấy hoàn toàn có lý.
Vì vậy nên tôi mới nghĩ ra tác phẩm giả làm ông Hồ Chí Minh, nằm im trong hộp kính không đậy nắp trên đây. Và đương nhiên nó sẽ không được cho phép, vì nó động đến biểu tượng lớn nhất.
Lâu nay hình ảnh ông Hồ nằm trong lăng đã thay thế ông Hồ thật, người đã từng là một con người.
Mặc dù người ta đều biết tác phẩm kia là do tôi đóng giả chứ tôi không phải ông Hồ thật, nhưng người ta cũng không cho phép. Vì biểu tượng luôn được bảo vệ nghiêm ngặt và cẩn trọng nhất. Mặc dù biểu tượng về ông Hồ là xuất phát từ chính ông Hồ thật. Thế nhưng ông Hồ thật đã trở nên không còn quan trọng bằng ông Hồ biểu tượng, người ta đã quên mất ông rồi.
Vậy ông Hồ thật là như thế nào? Nếu mô tả thì chắc là dài lắm nên tôi chỉ nêu một chi tiết thôi.
Ông Hồ thật không thích nằm trong tủ kính trong lăng. Ông ấy thích được thiêu xác và bỏ tro trong 3 cái hũ, để trên 3 quả đồi có trồng cây và các cụ già. Điều này chính tay ông ấy viết và do nhà nước công bố. Ai không tin mua quyển “Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Như vậy tác phẩm trên đây của tôi một công đôi việc là thế này:
Một việc là, làm người ta suy xét đến bản chất của biểu tượng là gì. Giả sử nếu biểu tượng Hồ Chí Minh không tồn tại, thì cuộc sống sẽ như thế nào?
Một việc nữa là, khiến người ta dừng lại một chút trước khi người ta định sờ vào tác phẩm nghệ thuật. Vì phần đông nếu nhìn thấy tác phẩm, là ông Hồ Chí Minh nằm đó mà lại bảo xin hãy sờ vào thì: ôi chết, ai mà dám!
Và như bạn biết đấy, tác phẩm này sẽ không được ra đời về mặt tạo hình trước công chúng. Vì nó bị tôi và bạn, chúng ta, những nhân dân tự kiểm duyệt trước. Tự kiểm duyệt cũng như tự tử trong tinh thần, nhưng là cách tự tử đau đớn nhất.
Chúng ta đừng ngạc nhiên khi văn hoá của chúng ta đang và sẽ thoái hoá vì chính những ngày tháng sống không lành mạnh này. Cũng có người sẽ phản ứng là sao lại nói là chúng ta không lành mạnh? Nếu bạn đã không nhận thấy thì tôi còn biết nói sao!
Nhưng theo hiểu biết của riêng tôi thì là sự thật đấy, chúng ta, những người Việt Nam từ năm 1954 đến nay đã phải sống trong bầu khí rất mất tự nhiên và không lành mạnh. Nếu đổ được tội cho Mỹ hay Pháp hay Nga… thì tốt quá, nhưng xem ra họ không nhận trách nhiệm đâu.
Nhìn quanh thấy ai cũng chăm lo cho gia đình và con cái được tốt nhất, nhưng không thấy rằng: con cái mai sau phải thừa kế văn hoá và lối sống của cha ông chúng từ năm 1954. Mà biểu tượng của văn hoá ấy là “nói dối”. Bây giờ không cần nói: “Các em là tương lai nữa”, mà nói: “Cha anh hôm nay là của nợ của con cháu ngày sau”.
Tôi không thù oán gì với ông Hồ Chí Minh. Nhưng ông ấy không phải là người tôi tôn kính. Tôi hoàn toàn tôn trọng ông ấy như một con người có đầy đủ quyền về nhân phẩm. Lấy ví dụ cụ thể, cũng là người Việt Nam như cụ Phan Chu Trinh, thì tôi tôn kính cụ ấy hơn ông Hồ.
Tôi cũng trân trọng những ai tôn kính ngưỡng mộ ông Hồ, vì ấy thật là một điều thiện lành, nhưng hãy là thật với lòng mình và để tình cảm biểu hiện tự nhiên. Nếu một người còn sống, mình giả dối nói yêu người ta, người ta tin thế, đến khi người ta biết thực sự mình không yêu, vậy người ta đau đớn biết nhường nào, huống hồ người đã chết! Dối lòng và làm sai với ý nguyện của người đã chết, thì có phải là tôn kính không?
Tôi xin hỏi các quý vị cán bộ và nhân dân, những người đi giảng dạy và học tập gương ông Hồ Chí Minh là: “Các quý vị có thật lòng yêu ông ấy không?” Câu hỏi này không cần quý vị phải trả lời với ai, chỉ với chính mình và cũng không cần phải trả lời ngay, có thể một ngày, hai ngày hay lúc nào đó, miễn là cố thử một lần thật thà với chính mình.
Theo tôi hiểu: với người nhìn xa trông rộng thì, thật thà là có lợi cho cả mình và người và lợi dài lâu, còn với người thiển cận thì, nói dối là có lợi cho mình, cái hại thì hạng người này không quan tâm. Vậy chúng ta nên chọn cho mình là loại người nào? Và điều đó chỉ tuỳ thuộc tại nơi chính mỗi người. Và cũng chỉ có thể chọn một chứ không thể là cả hai.
Xin cảm ơn lời than của anh bạn tôi về chuyện sờ vào tác phẩm, mà khiến tôi lan man nghĩ ra tác phẩm này. Tác phẩm tên là: “Xin hãy sờ tôi” hay “Tự kiểm duyệt”. Tôi cũng chưa biết chọn tên nào trong hai tên ấy.
Đà Lạt tháng 7 năm 2013
___________
Họa sĩ Nguyễn Minh Thành sinh năm 1971, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1996, đã có hàng chục triển lãm tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Triển lãm gần đây nhất: “Lời chưa nói” (Eight Gallery, TP HCM tháng 12.2012). Đầu năm 2006, ông được dư luận rộng rãi chú ý với bức thư gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin-Du lịch Việt Nam, sau lần bị cấm xuất cảnh sang Côn Minh, Trung Quốc.
Đọc thêm những bài viết khác của Nguyễn Minh Thành:
Người nên một (talawas, 2007)
Bàn tròn mỹ thuật (Litviet, 2012)
 © 2013 Nguyễn Minh Thành & pro&contra

Cú giãy cuối cùng cho nền phê bình chỉnh huấn

Phạm Thị Hoài

“Gần đây, dư luận bàn tán khá nhiều về những quan điểm gây “sốc” của một luận văn thạc sĩ văn học, tán dương sự nổi loạn của một nhóm thơ “cách tân” nhen nhóm cách nay hơn chục năm và hiện nay đang leo lét. Tại Hội nghị Lý luận-Phê bình văn học lần thứ III do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đầu tháng 6-2013 vừa qua ở Tam Đảo, đã có nhiều ý kiến phê phán khá gay gắt đối với bản luận văn này. Nhà nghiên cứu-phê bình văn học Nguyễn Văn Lưu gọi đây là “một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối”. Giáo sư Phong Lê hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng chấm luận văn. Có người kêu lên: “Liệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (nơi tổ chức thực hiện bản luận văn) có giải thiêng lịch sử được không?”. Có người nói rằng: “Đây là một luận văn trá hình mang nội dung chính trị phản động…”.
Đó chính là bản luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thoan [tức Nhã Thuyên – BVN], mang tên: Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 602234. Bản luận văn được Hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chấm điểm và hiện được lưu trữ tại thư viện trường này”.
Năm ngoái, mấy cây dầu cổ thụ trong một bài thơ ít người biết đến bỗng khuấy động chút ít thi đàn Việt Nam. Tác giả, ông Đàm Chu Văn, chuyên viên cao cấp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, bị một đồng nghiệp thấm nhuần lập trường chuyên chính soi quan điểm chính trị. Cuối cùng mọi chuyện cũng ổn. Ông chỉ mất bốn tiếng đồng hồ giải trình sự trong sáng của mình với cơ quan tuyên giáo. Báo chí đưa tin. Đồng nghiệp Hồng Vệ binh im. Quan văn nghệ trung ương bật đèn xanh. Như trong vụ “Cánh đồng bất tận” sáu năm trước, những robot tuyên giáo ở một số tỉnh lẻ có lẽ vẫn tiếp tục chạy theo lập trình đấu tranh tư tưởng mấy thập niên quên cập nhật, nhưng thời của nền phê bình chỉnh huấn trên diện rộng ở toàn quốc đã qua rồi. Không ai đọc ai điếu cho nó. Nó đơn giản đã đóng xong vai trò kinh dị của mình trong một chương kinh hoàng của văn học sử đất nước này.
Tôi phải nhận rằng mình chưa bao giờ hâm mộ trường phái thơ mượn lời cỏ cây hoa lá để tâm tình. Khi tôi đến với văn chương thì những tâm tình đặc sắc nhất đặt vào miệng thiên nhiên đã được thốt ra rồi, từ đó trở đi cứ thấy cánh hoa nào trầm ngâm, nhành cây nào đau đáu, áng mây nào nặng trĩu nhân văn là tôi bỏ chạy. Tôi phải bảo vệ tình yêu văn chương của mình. Cũng như mọi tình yêu, chết vì buồn tẻ là nguyên nhân hàng đầu.
Với một thái độ thiếu khách quan không buồn giấu diếm như thế, tôi không thể bình luận về bài thơ vừa nhắc, nhan đề “Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân”. Thực ra cuộc chỉnh huấn mini nói trên không liên quan gì đến thông điệp nghệ thuật của bài thơ. Vấn đề không phải là chỗ đứng của những cây dầu hoàn toàn vô can ấy trước trụ sở ủy ban nhân dân. Vài chục năm trước, có đứng trong rừng mà tâm sự mông lung như vậy thì chúng cũng bị đốn. Vấn đề là chỗ đứng của tác giả. Ở vị trí cán bộ tư tưởng và quan văn nghệ hạng đầu tỉnh, ông Đàm Chu Văn chỉ nên cho những phát ngôn viên của ông đứng trước một tiệm McDonald’s. Như thế sẽ vẹn cả mọi bề, vừa không ngán đồng nghiệp nào chỉ điểm, vừa thêm được tinh thần đi trước thời đại (ít nhất là hai năm, vì tập đoàn McDonald’s vẫn chưa hạ cố đến thị trường Việt Nam), và tất nhiên không mất mát gì về thông điệp nghệ thuật. Để có mấy lời tâm sự “mưa nắng ở đời” như thế thì đứng trước trụ sở ủy ban nhân dân hay trụ sở McDonald’s không có gì khác nhau. Nói cách khác, nếu là một nhà thơ tự do, tác giả của mấy cây dầu đó có thể khuân chúng ra tận Lăng Hồ Chủ tịch mà đứng, tâm sự mông lung hơn nữa cũng không phải giải trình trong sáng với ai. Đã từ lâu không kiểm soát nổi những nhà thơ tự do, nền phê bình chỉnh huấn chỉ còn ngắc ngoải bằng dăm ba nỗ lực uốn nắn nền thi ca chính thống, nơi điều duy nhất có thể mất và vì thế cần bảo vệ không phải là tự do, mà là sự lệ thuộc. Thấm thía điều này hơn ai hết có lẽ là người đã rời – chắc chắn không phải vì tự nguyện – cương vị đứng đầu ngành tuyên giáo quốc gia để trở về “chường cái mặt ra trong thơ”: ông Nguyễn Khoa Điềm.
Nhưng trước khi yên vị trong nhà quàn, nền phê bình chỉnh huấn ấy còn muốn cống hiến cho chúng ta một cú giãy, tuy quá thiểu não để có thể giải trí nhưng đáng để bình luận, vì rất có thể là cú giãy cuối cùng. Lần này, nó dồn hết những mảnh vụn ký ức sót lại về một thời sinh sát oanh liệt vào ngọn roi tàn, giáng xuống một bản luận văn thạc sĩ ba năm trước về nhóm thơ tự do đáng kể nhất từ thời Đổi mới ở Việt Nam, nhóm Mở Miệng.
Trong cuộc truy sát Nhân văn-Giai phẩm, ít ra chúng ta biết: Người “vạch trần bộ mặt thật” “trụy lạc phản động” của Trần Dần là nhạc sĩ Đỗ Nhuận; người hô hào cả nước “phải chặn lại không cho Trương Tửu được tự do truyền bá những tư tưởng phản động, những tác phong đồi bại” là nhà phê bình Hoài Thanh, cũng chính là người xác định tính chất “xuyên tạc”, “vu khống”, “phản động” của bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần; người tố giác cả một “hệ thống những sai lầm xấu xa”, những “dụng ý rất đen tối” của Tử Phác là nhạc sĩ Lương Ngọc Trác; người lột “cái mặt gian xảo” của Lê Đạt như “một kẻ ẩn núp, tàng hình, đã từng quay quắt được một thời gian, nhưng rốt cục cái bản chất phản lại giai cấp vô sản lòi ra mồn một” là nhà thơ Xuân Diệu, cũng chính là người phát hiện Văn Cao “gài mìn chống phá Đảng và nhân dân”; người quyết “vạch rõ tội lỗi của Phan Khôi đã bao nhiêu năm làm tay sai cho đế quốc, nịnh hót phong kiến, huyễn hoặc, lừa bịp, đầu độc nhân dân để kiếm bát cơm, manh áo”, “chống Đảng, chống cách mạng, phản nhân dân, phản Tổ quốc”, “từ bé đến già bóc lột của nông dân, ăn cướp của nhân dân” là nhà văn Nguyễn Công Hoan; người gọi tác phẩm của Trần Duy là cái thứ “văn nghệ vô nhân đạo của thần chết”, là “những thứ cỏ độc, mà chúng ta phải nhổ sạch, quét sạch, để vứt vào rác, hoặc làm một thứ phân bón cho những bông hoa chân chính trong vườn văn nghệ của ta” là nhà phê bình Vũ Đức Phúc…; chưa kể hàng trăm văn nghệ sĩ không kém danh tiếng khác – từ Thế Lữ, Bửu Tiến, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Đoàn Giỏi, Tú Mỡ, Đoàn Văn Cừ, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tuân…, đến Nguyễn Đổng ChiNguyễn Đình ThiVõ Huy TâmĐào VũBùi Huy Phồn… – hăng hái góp đinh cho những chiếc búa tạ nêu trên chốt quan tài những đồng nghiệp “nổi loạn” của họ.
Còn bây giờ, vung roi dọa nhà nghiên cứu Nhã Thuyên và nhóm Mở Miệng là lèo tèo một nhúm vô danh hay ẩn danh: một Cẩm Khê nào đó trên Nhân dân, một Tuyên Hóa nào đó trên Quân đội Nhân dân, một Minh Văn nào đó trên Thanh tra, những tờ báo lẽ ra không có phận sự thì miễn vào địa hạt văn học và cho đến lúc này không có đồng minh tự nguyện từ giới văn nghệ, trừ một người: nhà phê bình Chu Giang.
Quan hệ của chúng ta với các nhà phê bình văn học thực ra không khác lắm quan hệ với những người bán cá ở chợ, nó dựa trên sự tin cậy [i]. Sự tin cậy ấy đương nhiên tùy thuộc vào mỗi người và phải có cơ sở. Song chẳng cần nhiều lắm; đôi khi chỉ cần nếm vị, ngửi hơi là ta chấm xong điểm tín nhiệm. Ai muốn biết tầm vóc của nhà phê bình Chu Giang, tức ông cựu giám đốc NXB Văn học Nguyễn Văn Lưu, tác giả cuốn Luận chiến văn chương từng đoạt Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 1996, có lẽ chỉ cần thưởng thức vài dòng trong loạt bài luận chiến đăng trên Tuần báo Văn nghệ TP HCM năm ngoái, phê phán tác phẩm và con người Nguyễn Huy Thiệp, đối tượng được ông chiếu cố từ thuở Văn học Đổi mới đến giờ chưa buông. Cá nhân tôi tưởng mình đang lạc vào vườn trẻ, nơi ông Lưu giậm chân mách cô giáo rằng văn chương thằng Thiệp không ra gì vì nó vừa đái bậy xong lại tranh đồ chơi của thằng khác. Nhưng ông cũng có thể rất nghiêm túc. Khi nghiêm túc, ông tuyên bố rằng: “Nếu chúng ta đi theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất cùng bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện theo những lời dạy của Hồ Chí Minh, thì đoàn kết được cả dân tộc, đoàn kết được cả giới văn nghệ”. Mọi bình luận ở đây là thừa.
Có những nhà phê bình mà khi được họ khen thì ta nên giật mình, còn lời chê của họ là bảo đảm đáng tin cậy nhất cho giá trị của tác phẩm bị họ phê phán. Tôi coi ông Nguyễn Văn Lưu thuộc loại này. Năng khiếu phê bình văn học (!) của ông nằm ở sự dị ứng không nhầm lẫn trước tất cả những gì vượt khỏi thước đo hạnh kiểm bỏ túi và cẩm nang thuật ngữ chính trị xuất bản năm 70. Ở thời hoàng kim của nền phê bình chỉnh huấn, phẩm chất ấy đáng giá vài cái Giải thưởng Hồ Chí Minh. Song sinh bất phùng thời, bây giờ nó được huy động cho cú giãy cuối cùng của nền phê bình ấy. Tôi tin rằng cả những người bị coi là phải chịu trách nhiệm về phương diện nhà nước cho công trình nghiên cứu mà ông hùng hồn gọi là “một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối” lẫn tác giả Nhã Thuyên đều đủ rộng lượng để ghi nhận hành vi mang tính lịch sử này. Không phải ngày nào cũng có một nền phê bình giãy chết.
Còn nhóm Mở Miệng? Họ thà bị đem ra tra tấn bằng thơ, chứ nhất định không chịu mở miệng giải trình cái gì mà trong sáng. Nhưng tất nhiên họ sẽ mở miệng thật rộng để cười, dù biết rằng có những thứ giãy mãi không chết.
P.T.H.
© 2013 pro&contra

[i] Nếu George Steiner hay Borges, những người thông tuệ và sành đọc, có lời khen ai, tôi sẽ tìm đọc. Những người khắt khe bậc nhất như Kafka, khó tính bậc nhất như Nabokov hay Thomas Bernhard khen ai, tôi sẽ tìm đọc bằng được. Ai ca ngợi Paul Coelho, không bao giờ tôi để ý nữa, nhưng lại chú ý những người hâm mộ thơ Hoàng Quang Thuận: tôi muốn biết người ta nghĩ gì hay không nghĩ gì khi pha cái gọi là nước mắm, hiệu Chinsu, với rượu nhạt đặt lên bàn thờ.

Cú giãy cuối cùng của nền phê bình chỉnh huấn

Tháng 7 10, 2013
Phạm Thị Hoài
Năm ngoái, mấy cây dầu cổ thụ trong một bài thơ ít người biết đếnbỗng khuấy động chút ít thi đàn Việt Nam. Tác giả, ông Đàm Chu Văn, chuyên viên cao cấp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, Tổng Biên tập tạp chíVăn nghệ Đồng Nai, bị một đồng nghiệp thấm nhuần lập trường chuyên chính soi quan điểm chính trị. Cuối cùng mọi chuyện cũng ổn. Ông chỉ mất bốn tiếng đồng hồ giải trình sự trong sáng của mình với cơ quan tuyên giáo. Báo chí đưa tin. Đồng nghiệp Hồng Vệ binh im. Quan văn nghệ trung ương bật đèn xanh. Như trong vụ “Cánh đồng bất tận” sáu năm trước, những robot tuyên giáo ở một số tỉnh lẻ có lẽ vẫn tiếp tục chạy theo lập trình đấu tranh tư tưởng mấy thập niên quên cập nhật, nhưng thời của nền phê bình chỉnh huấn trên diện rộng ở toàn quốc đã qua rồi. Không ai đọc ai điếu cho nó. Nó đơn giản đã đóng xong vai trò kinh dị của mình trong một chương kinh hoàng của văn học sử đất nước này.
Tôi phải nhận rằng mình chưa bao giờ hâm mộ trường phái thơ mượn lời cỏ cây hoa lá để tâm tình. Khi tôi đến với văn chương thì những tâm tình đặc sắc nhất đặt vào miệng thiên nhiên đã được thốt ra rồi, từ đó trở đi cứ thấy cánh hoa nào trầm ngâm, nhành cây nào đau đáu, áng mây nào nặng trĩu nhân văn là tôi bỏ chạy. Tôi phải bảo vệ tình yêu văn chương của mình. Cũng như mọi tình yêu, chết vì buồn tẻ là nguyên nhân hàng đầu.
Với một thái độ thiếu khách quan không buồn giấu diếm như thế, tôi không thể bình luận về bài thơ vừa nhắc, nhan đề “Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân”. Thực ra cuộc chỉnh huấn mini nói trên không liên quan gì đến thông điệp nghệ thuật của bài thơ. Vấn đề không phải là chỗ đứng của những cây dầu hoàn toàn vô can ấy trước trụ sở ủy ban nhân dân. Vài chục năm trước, có đứng trong rừng mà tâm sự mông lung như vậy thì chúng cũng bị đốn. Vấn đề là chỗ đứng của tác giả. Ở vị trí cán bộ tư tưởng và quan văn nghệ hạng đầu tỉnh, ông Đàm Chu Văn chỉ nên cho những phát ngôn viên của ông đứng trước một tiệm McDonald’s. Như thế sẽ vẹn cả mọi bề, vừa không ngán đồng nghiệp nào chỉ điểm, vừa thêm được tinh thần đi trước thời đại (ít nhất là hai năm, vì tập đoàn McDonald’s vẫn chưa hạ cố đến thị trường Việt Nam), và tất nhiên không mất mát gì về thông điệp nghệ thuật. Để có mấy lời tâm sự “mưa nắng ở đời” như thế thì đứng trước trụ sở ủy ban nhân dân hay trụ sở McDonald’s không có gì khác nhau. Nói cách khác, nếu là một nhà thơ tự do, tác giả của mấy cây dầu đó có thể khuân chúng ra tận Lăng Hồ Chủ tịch mà đứng, tâm sự mông lung hơn nữa cũng không phải giải trình trong sáng với ai. Đã từ lâu không kiểm soát nổi những nhà thơ tự do, nền phê bình chỉnh huấn chỉ còn ngắc ngoải bằng dăm ba nỗ lực uốn nắn nền thi ca chính thống, nơi điều duy nhất có thể mất và vì thế cần bảo vệ không phải là tự do, mà là sự lệ thuộc. Thấm thía điều này hơn ai hết có lẽ là người đã rời – chắc chắn không phải vì tự nguyện – cương vị đứng đầu ngành tuyên giáo quốc gia để trở về “chường cái mặt ra trong thơ”: ông Nguyễn Khoa Điềm.
Nhưng trước khi yên vị trong nhà quàn, nền phê bình chỉnh huấn ấy còn muốn cống hiến cho chúng ta một cú giãy, tuy quá thiểu não để có thể giải trí nhưng đáng để bình luận, vì rất có thể là cú giãy cuối cùng. Lần này, nó dồn hết những mảnh vụn kí ức sót lại về một thời sinh sát oanh liệt vào ngọn roi tàn, giáng xuống một bản luận văn thạc sĩ ba năm trước về nhóm thơ tự do đáng kể nhất từ thời Đổi mới ở Việt Nam, nhóm Mở Miệng.
Trong cuộc truy sát Nhân văn-Giai phẩm, ít ra chúng ta biết: Người “vạch trần bộ mặt thật” “trụy lạc phản động” của Trần Dần là nhạc sĩ Đỗ Nhuận; người hô hào cả nước “phải chặn lại không cho Trương Tửu được tự do truyền bá những tư tưởng phản động, những tác phong đồi bại” là nhà phê bình Hoài Thanh, cũng chính là người xác định tính chất “xuyên tạc”, “vu khống”, “phản động” của bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần; người tố giác cả một “hệ thống những sai lầm xấu xa”, những “dụng ý rất đen tối” của Tử Phác là nhạc sĩ Lương Ngọc Trác; người lột “cái mặt gian xảo” của Lê Đạt như “một kẻ ẩn núp, tàng hình, đã từng quay quắt được một thời gian, nhưng rốt cục cái bản chất phản lại giai cấp vô sản lòi ra mồn một” là nhà thơ Xuân Diệu, cũng chính là người phát hiện Văn Cao “gài mìn chống phá Đảng và nhân dân”; người quyết “vạch rõ tội lỗi của Phan Khôi đã bao nhiêu năm làm tay sai cho đế quốc, nịnh hót phong kiến, huyễn hoặc, lừa bịp, đầu độc nhân dân để kiếm bát cơm, manh áo”, “chống Đảng, chống cách mạng, phản nhân dân, phản Tổ quốc”, “từ bé đến già bóc lột của nông dân, ăn cướp của nhân dân” là nhà văn Nguyễn Công Hoan; người gọi tác phẩm của Trần Duy là cái thứ “văn nghệ vô nhân đạo của thần chết”, là “những thứ cỏ độc, mà chúng ta phải nhổ sạch, quét sạch, để vứt vào rác, hoặc làm một thứ phân bón cho những bông hoa chân chính trong vườn văn nghệ của ta” là nhà phê bình Vũ Đức Phúc…; chưa kể hàng trăm văn nghệ sĩ không kém danh tiếng khác – từ Thế Lữ, Bửu Tiến, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Đoàn Giỏi, Tú Mỡ, Đoàn Văn Cừ, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tuân…, đến Nguyễn Đổng ChiNguyễn Đình ThiVõ Huy TâmĐào VũBùi Huy Phồn… – hăng hái góp đinh cho những chiếc búa tạ nêu trên chốt quan tài những đồng nghiệp “nổi loạn” của họ.
Còn bây giờ, vung roi dọa nhà nghiên cứu Nhã Thuyên và nhóm Mở Miệng là lèo tèo một nhúm vô danh hay ẩn danh: một Cẩm Khê nào đó trên Nhân dân, một Tuyên Hóa nào đó trên Quân đội Nhân dân, một Minh Văn nào đó trên Thanh tra, những tờ báo lẽ ra không có phận sự thì miễn vào địa hạt văn học và cho đến lúc này không có đồng minh tự nguyện từ giới văn nghệ, trừ một người: nhà phê bình Chu Giang.
Quan hệ của chúng ta với các nhà phê bình văn học thực ra không khác lắm quan hệ với những người bán cá ở chợ, nó dựa trên sự tin cậy [i]. Sự tin cậy ấy đương nhiên tùy thuộc vào mỗi người và phải có cơ sở. Song chẳng cần nhiều lắm; đôi khi chỉ cần nếm vị, ngửi hơi là ta chấm xong điểm tín nhiệm. Ai muốn biết tầm vóc của nhà phê bình Chu Giang, tức ông cựu giám đốc NXB Văn học Nguyễn Văn Lưu, tác giả cuốn Luận chiến văn chương từng đoạt Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 1996, có lẽ chỉ cần thưởng thức vài dòng trong loạt bài luận chiến đăng trên Tuần báo Văn nghệ TP HCM năm ngoái, phê phán tác phẩm và con người Nguyễn Huy Thiệp, đối tượng được ông chiếu cố từ thuở Văn học Đổi mới đến giờ chưa buông. Cá nhân tôi tưởng mình đang lạc vào vườn trẻ, nơi ông Lưu giậm chân mách cô giáo rằng văn chương thằng Thiệp không ra gì vì nó vừa đái bậy xong lại tranh đồ chơi của thằng khác. Nhưng ông cũng có thể rất nghiêm túc. Khi nghiêm túc, ông tuyên bố rằng: “Nếu chúng ta đi theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất cùng bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện theo những lời dạy của Hồ Chí Minh, thì đoàn kết được cả dân tộc, đoàn kết được cả giới văn nghệ”. Mọi bình luận ở đây là thừa.
Có những nhà phê bình mà khi được họ khen thì ta nên giật mình, còn lời chê của họ là bảo đảm đáng tin cậy nhất cho giá trị của tác phẩm bị họ phê phán. Tôi coi ông Nguyễn Văn Lưu thuộc loại này. Năng khiếu phê bình văn học (!) của ông nằm ở sự dị ứng không nhầm lẫn trước tất cả những gì vượt khỏi thước đo hạnh kiểm bỏ túi và cẩm nang thuật ngữ chính trị xuất bản năm 70. Ở thời hoàng kim của nền phê bình chỉnh huấn, phẩm chất ấy đáng giá vài cái Giải thưởng Hồ Chí Minh. Song sinh bất phùng thời, bây giờ nó được huy động cho cú giãy cuối cùng của nền phê bình ấy. Tôi tin rằng cả những người bị coi là phải chịu trách nhiệm về phương diện nhà nước cho công trình nghiên cứu mà ông hùng hồn gọi là “một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối” lẫn tác giả Nhã Thuyên đều đủ rộng lượng để ghi nhận hành vi mang tính lịch sử này. Không phải ngày nào cũng có một nền phê bình giãy chết.
Còn nhóm Mở Miệng? Họ thà bị đem ra tra tấn bằng thơ, chứ nhất định không chịu mở miệng giải trình cái gì mà trong sáng. Nhưng tất nhiên họ sẽ mở miệng thật rộng để cười, dù biết rằng có những thứ giãy mãi không chết.
© 2013 pro&contra

[i] Nếu George Steiner hay Borges, những người thông tuệ và sành đọc, có lời khen ai, tôi sẽ tìm đọc. Những người khắt khe bậc nhất như Kafka, khó tính bậc nhất như Nabokov hay Thomas Bernhard khen ai, tôi sẽ tìm đọc bằng được. Ai ca ngợi Paulo Coelho, không bao giờ tôi để ý nữa, nhưng lại chú ý những người hâm mộ thơ Hoàng Quang Thuận: tôi muốn biết người ta nghĩ gì hay không nghĩ gì khi pha cái gọi là nước mắm, hiệu Chinsu, với rượu nhạt đặt lên bàn thờ.

Quyền lực Lương tâm (2)

Tháng 7 9, 2013
M. K. Gandhi
Phan Trinh dịch
Xem kì 1 và xem toàn bài trong bản PDF
3.
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA LƯƠNG TÂM
Không lịch sử
Người đọc: Có chứng cớ lịch sử nào cho thấy điều ông gọi là Quyền lực Lương tâm đã từng thành công? Tôi chẳng thấy có quốc gia nào vươn lên được nhờ Quyền lực Lương tâm cả. Tôi vẫn nghĩ kẻ ác sẽ cứ làm ác nếu không bị vũ lực trừng phạt.
Người biên tập: Nhà thơ Tulsidas có nói: ”Trong tôn giáo thì lòng thương xót, hay tình thương, chính là gốc, nó quý giá hơn hẳn thể xác. Vì vậy, đừng đánh mất lòng thương xót khi ta còn sống.” Với tôi, đây là môt sự thật khoa học. Tôi tin vào điều này như tin hai với hai là bốn. Quyền lực của Tình thương, Quyền lực của Lương tâm hay Quyền lực của Sự thật cũng chỉ là một. Chúng ta có chứng cớ về tác dụng của nó khắp nơi, trên từng bước đi. Vũ trụ sẽ biến mất nếu không có sức mạnh này. Nhưng bạn đã hỏi về chứng cứ lịch sử, vì vậy, ta cần hiểu lịch sử là gì.
Trong tiếng Gujarati, lịch sử có nghĩa là “đã xảy ra như thế”. Nếu đó là nghĩa của lịch sử thì chứng cớ cho sự hiện diện của Quyền lực Lương tâm có đầy rẫy. Nhưng, nếu lịch sử có nghĩa là những hành vi của vua chúa các thời đại thì có thể nói không có chứng cớ gì về Quyền lực Lương tâm hoặc Đấu tranh Bất bạo động ở đây cả. Bạn không thể nào tìm thấy quặng bạc trong mỏ thiếc được.
Lịch sử, như ta biết, là biên bản ghi lại những cuộc chiến tranh của thế giới. Một thành ngữ quen thuộc của người Anh nói rằng: một quốc gia không có lịch sử, tức không có chiến tranh, là một quốc gia hạnh phúc. Các vua đấu trí ra sao, họ trở thành kẻ thù của nhau ra sau, rồi họ giết nhau ra sao đều thấy ghi rõ trong lịch sử.
Nhưng nếu thế giới chỉ xảy ra có bấy nhiêu thôi thì thế giới đáng lẽ đã chấm dứt từ lâu rồi. Nếu câu chuyện của thế giới bắt đầu bằng chiến tranh và chỉ là chiến tranh thì ngày nay hẳn sẽ không còn ai sống sót. Những dân tộc lâm chiến cũng sẽ biến mất, như những tộc thổ dân Úc khi kẻ xâm lăng gần như không để ai sống sót. Nên để ý rằng những người thổ dân kia đã không dùng Quyền lực Lương tâm để tự vệ, và chẳng cần là tiên tri cũng đoán được rằng nếu điều này cứ tiếp diễn thì người Úc rồi cũng sẽ đối mặt với số phận y như nạn nhân của họ thôi. “Ai dùng gươm sẽ chết bằng gươm.” Một ngạn ngữ Ấn Độ cũng nói tương tự: Táng trong mộ nước có cả những tay bơi chuyên nghiệp.
Sự thật và tình thương
Hiện tượng đông đảo nhân loại vẫn sống trên thế giới hôm nay cho thấy thế giới không được xây dựng trên nền tảng vũ lực, mà được xây dựng trên nền tảng quyền lực của sự thật và tình thương. Vì vậy, chứng cớ vĩ đại nhất và không thể nào bác bỏ cho thấy quyền lực này thành công chính là: dù có trải qua bao nhiêu cuộc chiến đi nữa, thế giới vẫn sống còn.
Biết bao nhiêu con người đã và đang tồn tại được nhờ tác dụng tích cực của sức mạnh này. Những cuộc cãi vã vặt vãnh của hàng triệu triệu gia đình hàng ngày đã biến mất trước sức mạnh của sự thật và tình thương, và hàng trăm quốc gia cũng đang có thể sống chung hòa bình. Lịch sử đã không ghi nhận và không thể ghi nhận những thực tế này. Lịch sử quả thực chỉ là một biên bản ghi chép những lúc đứt quãng, khi sức mạnh của tình thương và lương tâm, vốn bền bỉ đều đặn, không phát huy được tác dụng.
Hai anh em tranh chấp, sau đó một trong hai nghĩ lại, đánh thức tình thương ngủ chìm trong lòng mình, thế rồi hai anh em hoà giải và sống yên vui trở lại… chẳng ai ghi chép những chuyện như thế làm gì. Nhưng nếu hai anh em, được người ngoài xúi giục hoặc vì lý do gì khác, bỗng cầm lấy vũ khí đánh đập nhau, hoặc đưa nhau ra trước pháp luật – vốn cũng là một hình thức thể hiện sức mạnh khống chế – thì việc làm của họ lập tức sẽ được báo chí chú ý, hàng xóm láng giềng sẽ bàn tán râm ran, và biết đâu chừng họ có thể đi cả vào lịch sử.
Chuyện gia đình và cộng đồng ra sao thì chuyện quốc gia cũng vậy. Không có lý do gì để tin rằng luật lệ chi phối sinh hoạt trong gia đình lại khác với luật lệ chi phối các quốc gia.
Như vậy, có thể nói lịch sử là văn bản ghi lại sự gián đoạn của những gì tự nhiên thường có. Quyền lực của lương tâm, vốn tự nhiên và hằng có, không được ghi trong lịch sử.
Tâm thay cơ
Người đọc: Theo những gì ông nói, rõ ràng là những ví dụ về hình thức đấu tranh bất bạo động này không tìm thấy trong lịch sử. Vì thế càng cần hiểu đầy đủ hơn về đấu tranh bất bạo động. Có lẽ ông nên nói thêm.
Người biên tập: Đấu tranh bất bạo động là phương pháp giành lấy quyền lợi cho mình bằng cách tự chịu khổ; nó đối nghịch với đấu tranh vũ lực. Khi tôi từ chối làm một việc trái với lương tâm mình thì đó là lúc tôi dùng quyền lực của lương tâm.
Chẳng hạn, khi nhà cầm quyền thông qua một đạo luật có liên quan đến tôi nhưng tôi không đồng tình, nếu tôi dùng bạo lực để buộc chính quyền bãi bỏ đạo luật, thì tôi dùng đến quyền lực cơ bắp. Nếu tôi không tuân phục đạo luật và sẵn sàng chấp nhận hình phạt sẽ đến thì lúc đó tôi dùng quyền lực lương tâm. Điều này ám chỉ người đấu tranh phải chịu hy sinh quyền lợi của riêng mình.
Ai nấy đều tin rằng hy sinh quyền lợi bản thân thì chắc chắn cao đẹp hơn bắt người khác hy sinh quyền lợi của họ. Thêm vào đó, nếu sức mạnh này được dùng cho một lý do không hoàn toàn đúng thì cũng chỉ người dùng nó chịu khổ mà thôi. Anh ta sẽ không làm ai khổ vì sai lầm của mình.
Là con người, ai cũng từng làm nhiều điều mà sau đó mình thấy là sai. Không ai có thể tự hào tôi tuyệt đối đúng, hoặc cho rằng một điều gì đó là sai chỉ vì tôi nghĩ vậy. Nó chỉ sai đối với tôi, sau khi tôi đã suy nghĩ chín chắn và đi đến kết luận. Và một khi đã tin vào kết luận của mình, tôi không nên làm điều mình cho là sai và sẵn sàng đón nhận hậu quả, bất kể đó là gì. Đây là điểm then chốt khi sử dụng quyền lực lương tâm.
Không phải là người
Người đọc: Như vậy là ta sẽ bất chấp luật pháp ư? Đây là điều bất thường. Nước ta là một đất nước luôn biết tuân thủ luật pháp. Dường như ông còn muốn đi xa hơn cả những người cực đoan thì phải. Họ chủ trương chúng ta phải vâng theo những điều luật đã được thông qua, nhưng nếu luật sai trái thì hãy dùng bạo lực để đánh đuổi kẻ làm luật!
Người biên tập: Tôi có đi xa quá hay không thực ra không liên quan gì đến bạn và tôi. Chúng ta chỉ muốn tìm ra điều đúng và làm theo. Ẩn sau mệnh đề “nước ta luôn tuân thủ luật pháp” là ý nghĩa này: chúng ta là những người phán kháng thụ động. Khi chúng ta không đồng tình với đạo luật nào đó, chúng ta sẽ không đập vỡ đầu những kẻ làm luật và cầm quyền, ngược lại, tự chúng ta sẽ chịu khổ nhưng dứt khoát không tuân thủ những luật lệ như thế.
Ý niệm cho rằng ta phải tuân phục luật pháp dù nó tốt hay xấu thế nào mặc kệ quả là một ý niệm mới toanh. Trước đây không hề có điều này. Trước đây dân chúng vẫn bất tuân những luật lệ họ không đồng tình và sẵn sàng chấp nhận hình phạt vì vi phạm chúng. Chúng ta sẽ không còn là người nữa nếu chúng ta tuân thủ những luật lệ xung khắc với lương tâm mình. Giáo huấn này đồng nghĩa với phản tôn giáo và đồng nghĩa với nô lệ.
Nếu chính quyền nói mọi người hãy ra đường nhưng đừng mặc quần áo gì cả thì chúng ta có làm không? Nếu tôi là người đấu tranh bất bạo động, tôi sẽ nói với chính quyền rằng: tôi sẽ không chấp hành cái luật lệ quái gở kia.
Nhưng vấn đề là chúng ta đã đánh mất bản thân mình và trở nên quá dễ phục tùng, dễ đến nỗi chúng ta không ngại tuân theo bất cứ luật lệ hạ cấp nào.
Một người thực sự trưởng thành, một người chỉ biết kính sợ thượng đế, sẽ không sợ bất cứ ai khác. Luật lệ do loài người tạo ra không nhất thiết sẽ trói được anh ta. Ngay cả chính quyền cũng không đòi hỏi đến thế. Họ không nói “Anh phải làm như thế, như thế,” mà họ nói: “Nếu anh không làm thế, chúng tôi sẽ trừng phạt anh.”
Chấm dứt đồng lõa
Chúng ta đã xuống cấp quá thấp, đến độ chúng ta xem việc tuân thủ bất cứ những gì luật pháp áp đặt cho mình như bổn phận của mình, như tôn giáo của mình.
Nếu hiểu được rằng tôi sẽ không còn là con người nữa nếu cứ nhắm mắt tuân theo những luật lệ bất công, thì không có sự độc tài khắt khe nào có thể biến tôi thành nô lệ. Đây là chìa khóa cho sự độc lập của bản thân lẫn độc lập nước nhà.
Thật mê tín và không đúng nếu tin rằng hành vi của đa số đúng hơn của thiểu số. Có thể đưa ra nhiều ví dụ cho thấy hành vi của đa số đã từng sai và của thiểu số đã từng đúng. Tất cả mọi cải tổ đều xuất phát từ sáng kiến của một thiểu số chống lại đa số. Nếu những băng nhóm trộm cướp luôn cho rằng trộm cướp là điều bắt buộc phải làm, thì một người tử tế có chấp nhận lối suy nghĩ này không? Chừng nào con người còn mê tín rằng mình phải vâng phục các luật lệ bất công thì chừng đó con người vẫn còn là nô lệ. Và chỉ có người đấu tranh bằng quyền lực lương tâm mới có thể phá tan lòng mê tín kia.
Dùng bạo lực, dùng súng đạn là việc mâu thuẫn với đấu tranh bất bạo động, nó có nghĩa chúng ta khiến kẻ thù làm điều ta không muốn họ làm. Nếu việc sử dụng vũ lực được biện minh thì chắc chắn kẻ thù cũng sẽ làm y như vậy. Và như thế sẽ chẳng bao giờ có một thỏa hiệp nào. Chúng ta chỉ giả vờ, chẳng khác gì con ngựa mù đi quanh quẩn cối xay, rằng mình đang tiến bộ mà thôi.
Những ai tin rằng họ không bị buộc phải tuân thủ những luật lệ xung khắc với lương tâm thì họ chỉ còn con đường duy nhất là đấu tranh bất bạo động. Mọi con đường khác đều dẫn đến thảm họa.
(Trích từ Hind Swaraj or Indian Home Rule, Chương XVII)
Nguồn: M.K. Gandhi, Non-Violent Resistance (Satyagraha) (Đấu tranh bất bạo động (Satyagraha), NXB Dover Publications, INC. New York, 2001. Trang 6-19. Tựa, tiêu đề và các ghi chú là của người dịch.
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra

Quyền lực Lương tâm (1)

Tháng 7 8, 2013
M. K. Gandhi
Phan Trinh dịch
“Khi không thể nói chuyện phải trái với nhà cầm quyền bằng kiến nghị, hay những cách thức tương tự, thì giải pháp duy nhất còn lại, nếu ta không muốn chịu đựng những luật lệ sai lầm, sẽ là một trong hai: hoặc dùng vũ lực buộc họ khuất phục, hoặc tự chịu khổ và chấp nhận những hình phạt sẽ có dành cho người không tuân thủ luật pháp.” (Gandhi)
Giới thiệu của người dịch:
Sự thật, tình thương và tự khổ là cốt lõi phương pháp đấu tranh Quyền lực Lương tâm (Satyagraha) [i] của M.K. Gandhi:
Đối với Gandhi, sự thật  thượng đế. Ông không thờ chủ nghĩa, không thờ chữ nghĩa, cũng không thờ đảng lãnh đạo, ông thờ sự thật. Cả đời ông là một cuộc truy tìm sự thật, đó là mục đích tối hậu, còn độc lập cho Ấn Độ là một thành quả bắt nguồn từ mục đích tối hậu kia.
Trong khi đó, tình thương là nền tảng của bất bạo động. Tôi không bạo động vì tôi trân trọng sự sống của con người, kể cả của kẻ thù. Gandhi nhấn mạnh nhiều lần: đừng dùng bất bạo động như vũ khí của kẻ yếu, đừng bất bạo động vì chưa thể bạo động. Tình thương khiến ông khách quan nhìn ra giới hạn của mình cũng như khả năng cảm hoá kẻ ác của sự thật và tình thương. Mục đích của Gandhi là sự thật, còn phương tiện là tình thương.
Tự khổ là cốt lõi thứ ba của Quyền lực Lương tâm. Đây là điều ít người nhắc tới và có lẽ là lý do khiến con đường của Gandhi trở nên khó khăn với đám đông sau này. Nhưng đó là điều Gandhi đã tin, đã nói và đã làm. Đức Jesus cũng từng khuyên người khát khao đi tìm sự thật phải biết “bỏ mình đi”, vác thập giá mà đi. Đạo Phật cũng khuyên con người hãy biết “chịu phần thiệt về mình”, bằng không thì sự công bằng thuần tuý sẽ dẫn đến mạng đòi mạng, mắt đòi mắt và cả thế giới sẽ hoá mù. Gandhi cũng chỉ nói điều tương tự: khi bạn không tin điều gì là sự thật, hãy đừng làm nó. Nếu luật lệ nào không đúng, hãy cứ bất tuân và chấp nhận những trừng phạt sẽ đến dành cho người bất tuân. Đó là chọn lựa duy nhất để con người giữ được phẩm giá, bằng không sẽ là thoả hiệp và con người sẽ trở thành nô lệ.
***
Cũng nên nói rằng tuy Gandhi là lãnh tụ Đảng Quốc đại Ấn Độ và cũng là lãnh tụ tinh thần của dân tộc Ấn trong cuộc đấu tranh giành độc lập, nhưng ông là một người hành động nhiều hơn là một nhà tư tưởng. Những gì ông viết phần lớn đều bằng ngôn ngữ giản dị, dành cho đại chúng và để phục vụ cuộc đấu tranh trước mắt. Cũng không dễ để hệ thống hoá tư tưởng của Gandhi, dù số lượng điều ông viết không ít. [ii] Nhưng con đường của ông, phương pháp đấu tranh bằng Quyền lực Lương tâm của ông đã ảnh hưởng rất lớn đối với những nhà đấu tranh từ Âu sang Á, từ Martin Luther King ở Mỹ, Vaclav Havel ở Tiệp Khắc, đến Aung San Suu Kyi ở Miến Điện.
Có lần bà Aung San Suu Kyi, trích lời Nehru – người sát cánh với Gandhi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, sau thành Thủ tướng Ấn Độ – viết về Gandhi và Tagore như sau:
“Tagore trước hết là một nhà tư tưởng, trong khi Gandhi lại là một người hành động không ngừng và toàn tâm. Tuy mỗi người mỗi cách, cả hai đều có tầm nhìn thế giới và đều thấm nhuần tinh thần Ấn Độ. Cả hai là đại diện cho những mặt khác nhau nhưng hài hòa của Ấn Độ, vị này bổ sung cho thiếu sót của vị kia.” [iii]
Cũng nên biết Tagore xuất thân quý tộc, tư tưởng phóng túng, dung nạp điều tích cực của phương Tây, trải qua kinh nghiệm được phương Tây trải thảm đỏ đón tiếp, trong khi Gandhi xuất thân trung bình, trải nghiệm kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi và sự ngược đãi của người da trắng. Tagore có lúc phê phán Gandhi, nhưng cả hai đều rất kính trọng nhau. Tagore tư tưởng không thể thiếu Gandhi hành động, và Ấn Độ cần cả hai, như hai con mắt của một vị thần.
***
Người Việt đã biết đến đấu tranh sinh tồn, đấu tranh chống ngoại xâm, và cũng đã điêu đứng vì du nhập đấu tranh giai cấp.
Cùng với sự thức tỉnh của sự thật và khát khao sự thật – không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới hiện nay – dường như đây là lúc đang diễn ra cuộc đấu tranh của Quyền lực Lương tâm.
Cũng có thể tin rằng: khi Quyền lực Lương tâm đốt cháy trong lòng mỗi cá nhân thì ngọn lửa lương tâm sẽ châm ngòi cho những cuộc đấu tranh rầm rộ của đại chúng, thường được gọi là Quyền lực Nhân dân (People Power), đã từng cuốn phăng đi bao nhiêu chế độ độc tài từ Đông sang Tây.
Điều kỳ diệu là dù văn hoá, thể chế, nhân cách có suy đồi đến mấy thì lương tâm con người – sức mạnh hối thúc con người hướng về sự thật và tình thương – vẫn còn, và cuối cùng vẫn là nền tảng duy trì sự sống. Nó luôn thắng và chỉ bị đầy lùi ngắn hạn. Nhưng những lúc bị đẩy lùi ngắn hạn này, theo Gandhi, lại được ghi vào lịch sử – giống như người đời vẫn thường nhớ đến những lần bị ngạt thở, ít ai nhớ đến không khí – và tạo cảm tưởng cái ác luôn thắng.
Quyền lực Lương tâm là con đường khó và gần với lý tưởng tôn giáo. Nhưng, nếu tôn giáo đã từng thay đổi lịch sử, nếu đạo Tin lành là nền tảng tinh thần của chủ nghĩa tư bản (Max Weber), nếu Gandhi đã thức tỉnh được Ấn Độ là làm thực dân Anh lùi bước, nếu Đức Giáo hoàng John Paul II và Giáo hội Công giáo Ba Lan đã góp phần không nhỏ làm chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu sụp đổ, nếu những chế độ cộng sản cuối cùng vẫn sợ tôn giáo đích thực như sợ kẻ thù, hoặc nói dân dã hơn, nếu “chùa là cái thiện của làng” [iv] thì cũng có thể nói rằng: Lương tâm chính là mầm thiện còn sót lại trong mỗi người, và việc đánh thức nó – đánh thức khát khao sự thật, tình thương và lòng dũng cảm – có thể sẽ là nền tảng tinh thần cho một xã hội dân sự lớn mạnh và gắn kết.
Đó là điều những tù nhân lương tâm đang làm. Đó là điều các blogger lên tiếng vì sự thật và dân chủ đang làm. Họ bênh vực sự thật, họ bất bạo động, và họ chấp nhận tù tội chứ không chấp nhận dối trá.
Thượng đế không xa lạ, thượng đế là sự thật, và những tù nhân lương tâm của chúng ta dường như cũng đang đọc chung Lời nguyện mỗi sáng của Gandhi, như sau:
Tôi nguyện không sợ hãi ai trên trái đất này.
Tôi nguyện chỉ kính sợ thượng đế mà thôi.
Tôi nguyện không nghĩ xấu về bất cứ người nào.
Tôi nguyện không thúc thủ trước bất công, dù do ai gây ra.
Tôi nguyện chinh phục dối trá bằng sự thật,
Và để chống lại dối trá,
Tôi nguyện chấp nhận mọi khổ đau.
***
Đoạn trích dịch dưới đây chỉ là vài điểm sơ lược về phương pháp đấu tranh của Gandhi, như một lời giới thiệu, và hy vọng cũng là một ghi chú góp thêm vào “27 ghi chú dành cho những Tù nhân Lương tâm dự khuyết” của Phạm Hồng Sơn.
______________________
1.
SATYAGRAHA
Trong 30 năm qua, tôi đã truyền bá và thực hành Satyagraha. Những nguyên tắc của Satyagraha như tôi biết hôm nay là đúc kết của một quá trình điều chỉnh theo từng giai đoạn.
Satyagraha khác hẳn Đấu tranh Thụ động như Bắc Cực khác với Nam Cực. Đấu tranh Thụ động vốn được xem như vũ khí của kẻ yếu, và cách đấu tranh này cũng không loại trừ khả năng dùng vũ lực để đạt mục tiêu. Trong khi đó, Satyagraha lại được hình thành như vũ khí của kẻ mạnh nhất và không có chỗ cho bạo lực dưới bất cứ hình thức nào.
Cụm từ Satyagraha là do tôi đặt khi ở Nam Phi, để diễn tả sức mạnh mà kiều dân Ấn Độ ở đó đã sử dụng để đấu tranh suốt tám năm trời. Satyagraha cũng được đặt ra để phân biệt với phong trào Đấu tranh Thụ động đang diễn ra cùng thời ở Anh Quốc và Nam Phi.
Ý nghĩa gốc của Satyagraha là giữ lấy sự thật [holding on to truth], vì vậy có thể gọi đó là Quyền lực của Sự thật [Truth-force]. Tôi cũng gọi Satyagraha là Quyền lực của Tình thương [Love-force] hay Quyền lực Lương tâm [Soul-force].
Khi áp dụng phương pháp này, tôi nhận ra ngay từ những ngày đầu tiên rằng việc theo đuổi sự thật sẽ không cho phép sử dụng bạo lực để gây tổn thương cho đối thủ của mình, và để giảm bớt sai lầm thì người đấu tranh cần phải biết kiên nhẫn và cảm thông. Đơn giản là vì: điều được xem là sự thật đối với người này lại có thể là sai lầm đối với người kia. Kiên nhẫn cũng có nghĩa là tự-chịu-khổ.
Nói cách khác, nguyên lý của Satyagraha chính là: Hãy bảo vệ sự thật, nhưng không bằng cách gây đau khổ cho đối thủ, mà là tự mình chịu khổ.
Chống luật bất công
Trong lĩnh vực chính trị, những cuộc đấu tranh vì con người hầu hết là đấu tranh chống lại cái sai trái của những luật lệ bất công.
Khi không thể nói chuyện phải trái với nhà cầm quyền bằng kiến nghị, hay những cách thức tương tự, thì giải pháp duy nhất còn lại, nếu ta không muốn chịu đựng những luật lệ sai lầm, sẽ là một trong hai: hoặc dùng vũ lực buộc họ khuất phục, hoặc tự chịu khổ và chấp nhận những hình phạt sẽ có dành cho người không tuân thủ luật pháp. Cũng vì điều này mà Satyagraha được phần lớn quần chúng biết tới như là Bất tuân Dân sự hoặc Đấu tranh Dân sự. Dân sự hiểu theo nghĩa không phải là hình sự.
Kẻ phạm pháp luôn lén lút vi phạm và tránh sao cho khỏi bị trừng phạt, nhưng đây không phải là cách của người đấu tranh dân sự. Người đấu tranh dân sự luôn tuân thủ luật lệ của nhà nước mà họ là công dân, nhưng họ tuân thủ không vì họ sợ bị trừng phạt, mà vì họ xem những luật lệ kia là tốt cho phúc lợi của xã hội. Nhưng sẽ có lúc, tuy hiếm hoi, họ cho rằng một số luật lệ là không công bằng và tuân thủ các luật lệ này sẽ là điều sỉ nhục.
Lúc ấy, bằng hình thức dân sự và công khai, họ sẽ bất tuân luật pháp và sẵn sàng chấp nhận bị trừng phạt vì sự bất tuân này. Và để cho nhà cầm quyền càng thấy rõ họ phản đối việc làm của nhà cầm quyền, họ cũng có thể bất tuân cả những luật lệ khác, mà nếu không tuân theo cũng không phạm đến những nguyên tắc đạo đức của họ.
Trong suy nghĩ của tôi, vẻ đẹp và hiệu quả của Satyagraha rất tuyệt vời, và nguyên lý này đơn giản đến nỗi trẻ em cũng có thể hiểu được. Tôi đã giảng giải nó cho hàng ngàn người, nam giới cũng như phụ nữ và trẻ em, đối tượng thường được gọi là dân Ấn làm thuê, với kết quả xuất sắc.
(Trích từ bản Điều trần của Gandhi trước Ủy ban Hunter) [Ủy ban được thành lập cuối năm 1919 để điều tra về vụ Thảm sát tại Jallianwala Bagh, còn gọi là vụ Thảm sát tại Amritsar. ND]
2.
MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG TIỆN
Người đọc: Vì sao ta không tìm cách đạt một mục đích tốt đẹp bằng bất cứ phương tiện nào có thể, kể cả dùng bạo lực?…
Người biên tập: Bạn lập luận nghe có phần hợp lý. Nhiều người cũng nghĩ vậy. Trước đây, tôi cũng từng nghĩ giống vậy. Nhưng, giờ tôi hiểu biết nhiều hơn rồi, tôi sẽ cố gắng thuyết phục để bạn nghĩ khác đi.
Hãy bắt đầu bằng lập luận cho rằng: ta cứ dùng vũ lực để đạt mục đích vì người Anh thực dân cũng đạt mục đích bằng vũ lực, đây là việc có thể biện minh được. Quả thật là họ đã dùng  vũ lực và chúng ta cũng có thể làm tương tự, nhưng khi dùng cùng một phương tiện thì ta cũng sẽ chỉ gặp phải những hậu quả họ gặp. Và bạn biết đó, chúng ta không muốn như thế.
Nếu bạn nghĩ giữa mục đích và phương tiện chẳng có liên quan gì thì đó là một sai lầm lớn. Nhận thức sai lầm này đã khiến cả những người được xem là đạo hạnh mắc phải những lỗi lầm nghiêm trọng. Lập luận như vậy cũng giống như nói rằng ta có thể gieo hạt độc để gặt lấy hoa hồng. Nếu muốn vượt biển, tôi phải dùng tàu thuyền, còn nếu vượt biển bằng xe thì cả xe lẫn tôi đều chìm nghỉm. Câu châm ngôn sau đây thật đáng suy nghĩ: “Thượng đế ra sao thì tín đồ cũng phải vậy.” Nhưng ý nghĩa của nó đã bị bóp méo và con người đã lầm lạc. Có thể ví phương tiện như hạt giống, và mục đích như cây. Hạt giống và cây liên hệ với nhau ra sao thì mục đích và phương tiện cũng liên hệ với nhau như vậy.
Tôi sẽ chẳng được gì nếu tôi thờ Thượng đế bằng cách quỳ lạy Satan. Nếu ai nói rằng “Tôi muốn tôn vinh Thượng đế bằng con đường của Satan, cũng được chứ sao” thì đó là người lầm lạc, vì gieo gì sẽ gặt nấy.
Nếu tôi muốn cướp đồng hồ của bạn, chắc chắn tôi sẽ phải vật lộn với bạn để giành giựt nó; nếu tôi muốn mua đồng hồ của bạn, tôi phải trả tiền mới mua được; còn nếu tôi muốn nhận được một món quà, tôi sẽ phải ngỏ lời với bạn. Bạn thấy đấy, tùy theo phương tiện tôi dùng để đạt mục đích mà chiếc đồng hồ sẽ là của cắp, của sở hữu, hay là một món quà.
(Trích từ Hind Swaraj or Indian Home Rule, Chương XVI)
(Còn 1 kì)
Nguồn: M.K. Gandhi, Non-Violent Resistance (Satyagraha) (Đấu tranh bất bạo động (Satyagraha), NXB Dover Publications, INC. New York, 2001. Trang 6-19. Tựa, tiêu đề và các ghi chú là của người dịch.
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra

[i] Xem Joan V. Bondurant, Conquest of Violence – The Gandhian Philosophy of Conflict (Khuất phục Bạo lực – Triết học về xung đột theo Gandhi), NXB Princeton University Press, Bản bổ sung 1988. Chương II: “Satyagraha, Its Basic Precepts” (Satyagraha, Những nguyên tắc cơ bản), trang 15-35.
[ii] Joan V. Bondurant, sách đã dẫn, phần “Dẫn nhập”, trang 7. Khi viết cuốn sách này vào năm 1958, tác giả Bondurant cho biết: “Hầu hết những bài Gandhi viết đều là những bài giảng ngắn cho những người muốn nghe ông góp ý… Ông chỉ viết bốn cuốn sách. Tuy có nhiều sách mang tên ông, nhưng thực ra đó chỉ là những cuốn tổng hợp lại những bài ông viết, những tài liệu ngắn và những diễn văn. Cần phải đọc thêm các bài tuần báo và các bộ sưu tập thư từ ông viết thì mới có thể hiểu thêm diễn biến tư tưởng của Gandhi.” Bondurant cũng cho biết bốn cuốn sách Gandhi viết là: The Story of My Experiments with Truth (Câu chuyện về những thử nghiệm của tôi với sự thật) 1940; Satyagraha in South Africa (Satyagraha ở Nam Phi) 1938;  Hind Swaraj or Indian Home Rule (Hind Swaraj hay nền độc lập nước nhà) 1938; Key to Health (Bí quyết sức khỏe) 1948.
[iii] Aung San Suu Kyi, Freedom From Fear (Quyền không sợ hãi), NXB Penguine Books, 1995, trang 116.
[iv] “Chùa là cái Thiện của làng” là bài báo nổi tiếng của Phạm Xuân Đài viết năm 1990. Đoạn mở đầu của bài báo như sau:
“Trong truyện ngắn Người ở Làng Pháo đăng trên một tờ báo Sài Gòn năm 1990, tác giả Nguyễn Khải đã cho nhân vật chính, một bí thư huyện uỷ có tinh thần đổi mới tại một làng địa phương miền Bắc nói những lời này:
“Làng tôi có nghề pháo là nghề của Tổ cho, thì nhà nhà đều được quyền làm pháo, cấm thế quái nào được. Đình là cái gốc của làng, tôi hô hào dân chúng bỏ tiền ra tu sửa, soạn lại thần phả. Chùa là cái Thiện của làng, tôi mời sư về trông nom, tối một hồi chuông, sáng một hồi chuông, thằng ăn cướp nghe chuông mãi cũng có lúc phải hồi tâm nghĩ lại. Có cơm để ăn, có Phật để lễ, người ngợm lại khác ngay, lại hiền lành tử tế không đâu bằng.” (Trích theo bản đăng lại trên Diendantheky.net, ngày 19/1/2012)