Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Quân đội với sự trung thành

Tháng 4 23, 2013
Lê Tuấn Huy
Trong bảy điểm tại Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992, nhóm 72 nhân sĩ có “yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Nhiều bài báo xem việc không giữ quan điểm như Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp[1] là muốn phi chính trị và trung lập hóa quân đội, là phản động, và sẽ khiến suy yếu sức chiến đấu của quân đội[2].
Trong khi đó, Ông Nguyễn Trọng Vĩnh nói rằng không đề cập việc phi chính trị hóa quân đội, mà vấn đề là ở chỗ quân đội phải trung thành với Tổ quốc (và Nhân dân) chứ không phải là hiến định quân đội trung thành với Đảng. Ông Bùi Đức Lại cũng cho rằng ai đấy nói “không ghi các lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng là phi chính trị hoá”, là đang chụp mũ cả Hồ Chí Minh.
1. Hồ Chí Minh đã nói như thế nào về sự trung thành của quân đội?
Đoạn trích “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[3] được dùng để minh chứng cho Dự thảo Hiến pháp. Và nó càng kiên cố với lập luận cho rằng sáu chữ “trung với nước, hiếu với dân” ra đời chỉ trong tình huống đặc biệt, khi Đảng rút vào bí mật, nên Hồ Chí Minh không thể nhắc tới Đảng, còn thì ngay từ khi thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân, lãnh tụ đã dứt khoát khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội. Thực tế sự kiện lịch sử và bản văn của Hồ Chí Minh, có đúng như vậy không?
Tại Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – mà ngày 22/12/1944 cũng là ngày khai sinh của Quân đội Nhân dân Việt Nam – Hồ Chí Minh nhấn mạnh đây là “đội quan đàn anh”, tuyên truyền cho việc vũ trang toàn dân nhằm xây dựng những “đội quân đàn em khác”[4]. Trong mười lời thề danh dự của đội, “Hi sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam” là điều được xướng lên trước tiên. Việc Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, đến ngày 11/11/1945 mới xảy ra, nhưng ở cả hai bản văn định hình việc xây dựng quân đội Việt Nam đều không đề cập gì về vai trò của đảng này.
Cũng không phải đến ngày 26/05/1946, trong Lời căn dặn học viên trong Lễ khai trường Trường võ bị Trần Quốc Toản, Hồ Chí Minh mới cho ra đời tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân”[5]. Trước đó, ngày 07/01/1946, ông đã nói tại Trường Cán bộ Tự vệ, rằng “Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”[6].
Tiếp tục, ngày 27/03/1047, trong thư gửi báo Vệ quốc quân[7], ngay dòng đầu, Hồ Chí Minh đã lập tức khẳng định: “Vệ quốc quân là quân đội của nhân dân, để bảo vệ đồng bào, giữ gìn tổ quốc”[8]. Rồi vào tháng Năm 1948, lá thư gửi Trường Trần Quốc Tuấn[9] nhân khai giảng khóa IV cũng được chốt lại bằng sáu chữ mà ông đã căn dặn quân đội[10].
Từ ngày 11 đến 19/02/1951, Đảng Cộng sản Đông Dương họp Đại hội II tại Tuyên Quang, quyết định tách thành ba đảng riêng ở Việt, Miên, Lào. Với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, những người cộng sản đã tái công khai hoạt động. Thế nhưng, không vì vị thế mới đó mà lãnh tụ đảng lại đặt quân đội vào chỗ đẩy nước và dân xuống hàng thứ hai, sau Đảng.
Ngày 26/05/1951, báo Nhân dân đăng thư Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh, trong đó ca ngợi: “Anh em thương binh đã hi sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân”[11]. Cũng trên báo này, ngày 09/08/1951, ở bài điếu Hồ Tùng Mậu – người có vị trí cả trong Đảng, chính phủ và quân đội – Hồ Chí Minh đã ghi nhận một tấm gương “tận trung với nước, tận hiếu với dân”[12].
Cho dù ngày 22/12/1964, nhân chiêu đãi kỷ niệm 20 năm thành lập quân đội, Hồ Chí Minh có nói đến “trung với Đảng”, thì ý kiến đấy cũng không tiếp tục chi phối tư tưởng của ông về quân đội nói riêng và các đối tượng khác nói chung. Ngược lại, vẫn là sáu chữ được nhấn mạnh từ trước.
Ở điện gửi Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua và Dũng sĩ các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam lần thứ hai, báo Nhân dân đăng tải ngày 14/10/1967, “tinh thần trung với nước, hiếu với dân” là điều mà Hồ Chí Minh khen ngợi đầu tiên[13]. Ông không đề cập đến việc đội quân miền Nam phải trung với Mặt trận – chủ thể chỉ đạo trực tiếp, hay với Đảng – chủ thể lãnh đạo thực chất của họ.
Không chỉ quân đội, đối với Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên cũng phải trung với nước, hiếu với dân, như trường hợp ông nói đến Hồ Tùng Mậu kể trên. Chưa hết, ông xem đấy là một đặc điểm đạo đức mới, khác với đạo đức phong kiến.
Ở cuốn sách có tựa Đời sống mới, viết xong ngày 20/03/1947 và xuất bản cùng năm, với bút danh Tân Sinh, ông xem “tận trung với nước, tận hiếu với dân” là điều cần được phát triển[14].
Ngày 03/03/1955, ở bài Người cán bộ cách mạng, trước khi phê phán những khuyết điểm sai lầm, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở đạo đức của người cán bộ đối với nước và dân[15]. Tại Hội nghị Bồi dưỡng Chỉnh huấn (22-26/01/1965), ông lại nói đến điều này[16]. Rồi trong thư đề ngày 02/09/1965, Hồ Chí Minh đã dặn dò thanh niên “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[17]. Đến tháng Tư 1966, nói về năm nội dung của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, “trung với nước, hiếu với dân” là cụm từ được ông viết ra đầu tiên[18].
Ở những năm tháng cuối đời, đạo đức căn bản đối với dân và nước là điều mà Hồ Chí Minh vẫn không hề sao nhãng. Đầu tháng Sáu 1969, khi trao đổi với Ban Tuyên huấn về việc làm loại sách “Người tốt, việc tốt”, ông dùng cách nói thân tình của một người đã gần 80 tuổi để đề cao đạo lí “trung với nước, hiếu với dân”[19].
Đối với Hồ Chí Minh, phải nói rằng không phải “rõ ràng”, mà là “hết sức rõ ràng” và hiển nhiên, rằng trung với nước, hiếu với dân không phải là một ý kiến do thời cuộc đưa đẩy hay chỉ nhằm minh họa cho dịp nào đấy, mà là một tư tưởng nhất quán và liên tục, từ khi quân đội ra đời cho đến khi ông qua đời. Nó được nhấn mạnh cho cả quân đội và cả cán bộ, đảng viên, mà những người làm bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập cũng đã đề cao[20].
Hồ Chí Minh đặt “trung với nước, hiếu với dân” ở một tầm cao hơn nhiều so với trung với vua rồi mới đến nước và dân[21]. Vậy, nếu đặt trước quân đội một chủ thể “trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối”, lên trên cả nước và dân, há không phải là cái kiểu “trung quân [rồi mới] ái quốc” của chế độ và đạo đức phong kiến mà Hồ Chí Minh xem thường?
Trong tâm niệm, Hồ Chí Minh cũng đặt Tổ quốc lên trên hết. Ở bản Di chúc do Đảng Lao động Việt Nam công bố sau khi ông mất, “phục vụ cách mạng” được chuyển lên trước “phục vụ Tổ quốc”[22], nhưng ở những lần tự tay viết hoặc đánh máy, mà bản năm 1965 được cho là hoàn chỉnh nhất và có chữ ký chứng kiến của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Hồ Chí Minh đã đặt “phục vụ Tổ quốc” lên trước “phục vụ cách mạng”[23].
Ở Hồ Chí Minh, với bản thân hay với những loại chủ thể khác, vấn đề trung thành của quân đội, là vậy. Nhưng cho dù có căn cứ vào Hồ Chí Minh hay không, nó vẫn là vậy, bởi đơn giản chính ông cũng đứng trên một lẽ giản đơn mà hiển nhiên, là ở mọi thời và mọi nơi, trước tiên và trên hết, quân đội phải trung thành với đất nước chứ không phải một đối tượng khác được đặt vào vị trí tiên quyết đó, dù có xét bất kì tính chất nào.
2. Tính giai cấp của quân đội có là cái quyết định?
Nền tảng lí luận cho quan điểm quân đội trung thành với Đảng là tính giai cấp. Theo quy chiếu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phân kì theo tiếp cận hình thái kinh tế-xã hội[24], cũng như không xét thực chất thành phần đang cầm quyền có thật tương ứng về giai cấp giữa nhà nước và quân đội không, thì kiểu diễn đạt quân đội của giai cấp nào thì bảo vệ cho nhà nước của giai cấp đó là đúng. Nhưng chỉ như thế thì không đủ và lệch lạc.
Engels từng đặt vấn đề về tính giai cấp của quân đội khi bàn đến việc giai cấp tư sản Đức chiêu mộ công nhân vào lực lượng quân sự của mình để đương đầu với chính quyền phong kiến Phổ. Ông chống lại điều đó và nhận định: “Hoàn toàn đúng rằng quân đội là công cụ để thực hiện các cuộc đảo chính, và do đó, bất kì một sự tăng cường quân đội nào cũng đều làm tăng khả năng thực hiện một cuộc đảo chính. Nhưng số lượng quân đội cần thiết cho một cường quốc được quyết định không phải bởi những khả năng làm đảo chính nhiều hơn hay ít hơn, mà là bởi quy mô của quân đội của những cường quốc khác”[25].
Không cần diễn giải rằng qua đấy cho thấy là Engels không chủ trương bành trướng quân đội của giai cấp này, cũng như không liên minh giai cấp về mặt quân sự, để lại chống giai cấp khác, dù giai cấp bị chống là phản tiến bộ. Mà có thể thấy rằng, bản thân nhà kinh điển cũng nhìn nhận quân đội theo lẽ giản đơn của muôn đời: đã nói đến quân đội là tiên quyết nói đến tương quan của đất nước với bên ngoài.
Sở dĩ, dù nhấn mạnh tính giai cấp nhưng Engels vẫn không thể để nó vượt lên trên “tính đất nước”, là bởi quân đội có một đặc tính cốt tử, gắn liền với chức năng cốt lõi của nó: tính quốc gia-dân tộc và chức năng vũ trang đối ngoại. Hai điểm này, xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của quân đội, đều hiện diện ở những cấp độ khác nhau, và đều là cái hàng đầu quyết định.
Các cộng đồng người khác biệt nhau qua nhiều phương diện: lãnh thổ, chủng tộc, dân tộc, văn hóa, v.v. Trong đó, phạm vi địa lí luôn là yếu tố phải xét đến để xác định sự khu biệt. Ngay từ buổi bình minh của loài người cho đến khi bị tuyệt diệt – nếu có, không gian sinh tồn luôn khiến các cộng đồng tranh đấu với nhau. Cuộc đấu tranh đó khiến người ta vũ trang và duy trì một lực lượng vũ trang, ở hình thức này hay hình thức khác. Thời có hay không có giai cấp cũng vậy, có xét đến hay không xét đến giai cấp cũng thế.
Vào thời các thị tộc, bộ lạc, để bảo vệ (hoặc mở rộng) vùng đất sống của mình, người dân tự trang bị vũ khí và tập hợp dưới sự chỉ huy của “thủ lĩnh quân sự”, là người đồng thời cũng điều hành các sinh hoạt khác của cộng đồng. Đó là cơ chế quân đội nhân dân mà Engels ghi nhận[26].
Khi có nhà nước, việc phòng vệ (hoặc bành trướng) lãnh thổ là nguyên nhân để duy trì một đội quân riêng biệt và thường trực, dưới sự chỉ huy của nhà nước. Engels cũng định nghĩa: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tấn công hoặc phòng ngự”[27]. Điều đó xưa nay không hề khác đi ở quân đội của nước này hay nước khác, của nhà nước này hay nhà nước khác. Có khác chăng, là ở quy mô, tầm mức, tổ chức, khí tài, phương thức và không gian tác chiến…, là những yếu tố thay đổi và phát triển theo từng thời đại.
Xét từ khởi nguyên cho đến đương đại, quân đội định hình và tồn tại là do tương quan đối ngoại giữa các cộng đồng lãnh thổ, nên định chế này, tự thân đã mang bản chất của mối quan hệ với bên ngoài. Do vậy, khi đặt vấn đề trung thành, cũng phải đặt nó tiên quyết ở tương quan đó, chứ không thể tráo đổi đối tượng từ tương quan khác.
Đến đây, có thể quay lại, rằng khi chỉ nói quân đội của nhà nước này (chỉ) bảo vệ cho giai cấp này, hay quân đội của giai cấp kia (chỉ) bảo vệ nhà nước kia, xem đó là nền tảng của quân đội, thì đã đè bẹp – hoặc ít nhất là che lấp – đặc tính hàng đầu của nó: tính quốc gia-dân tộc. Đó là một sai lầm nguy hiểm về phương pháp luận, làm biến dạng toàn bộ nhận thức về quân đội.
Quân đội là định chế thể hiện sự đương cự vũ trang giữa các chủ thể, và chủ thể này, như đã nói, là các cộng đồng lãnh thổ chứ không phải các cộng đồng giai tầng. Bởi thế, chỉ có các quân đội quốc gia của mọi giai tầng chứ không có quân đội toàn cầu của mỗi giai cấp[28]. Nên, một khi đã quy buộc tuyệt đối quân đội về giai cấp thì sẽ kéo sự đương cự vũ trang vào trong lòng một đất nước, giữa các giai tầng.
Vậy nên, nếu phải nói về tính giai cấp của quân đội thì phải đặt nó trong tổng hòa với tính quốc gia-dân tộc, và phải phục tùng tính quốc gia-dân tộc. Theo đó, không phải quân đội của giai cấp nào thì bảo vệ cho nhà nước của giai cấp đó, mà – nói cho đầy đủ, là quân đội của giai cấp nào thì bảo vệ cho đất nước ở thời của nhà nước thuộc giai cấp đó.
Nhưng dù có nói như thế, từ thực chất và thực tế, theo thời gian và chuyển động lịch sử, thì vẫn là thể chế có thể thay đổi, giai tầng có thể thay đổi, nhưng nhiệm vụ bảo vệ quốc gia của quân đội là điều không bao giờ thay đổi. Nên dù là ở thể chế nào hay giai tầng nào, mặc nhiên và ngắn gọn, lẽ giản đơn chỉ là: quân đội ở thời nào thì bảo vệ cho đất nước ở thời đó.
Cái đạo lí đơn giản quân đội gắn liền một cách sinh tử với đất nước, chứ không phải với giai cấp (hay nhà nước của giai cấp, đảng của giai cấp), là điều hết sức dễ dàng nhận ra. Trong lịch sử, khắp nơi đều có những chính quyền bán nước hay những kẻ bán nước, nhưng đó là vì hèn hạ và tư lợi, chứ không hề xuất phát từ ý thức rằng nước đi xâm lược có cùng giai cấp cầm quyền với ta nên ta và quân đội ta thỏa hiệp với họ, để họ vào cai quản, rồi ta và họ cùng cai trị các giai cấp khác.
Nếu lối suy nghĩ giai cấp mà là cái tâm thế vốn có, để thay vì hướng quân đội ra bên ngoài lại hướng nó vào bên trong, thì giới cầm quyền và quân đội các nước thời phong kiến – thời dễ “đánh nhau” nhất – đã không phải đổ máu vì cương thổ, mà chỉ cần an nhàn bắt tay nhau và quay vào đồng cai trị.
Nếu giai cấp mà là căn tính tự nhiên, lấn áp cả giá trị quốc gia, thì ở Thế chiến II, giới cầm quyền và quân đội Mỹ, Anh đã lập tức và vô điều kiện trở thành đồng minh của Đức – một sự liên thủ có nhiều khả năng đập tan cái nhà nước và quân đội của giai cấp đối nghịch ở Liên Xô.
Rồi còn, binh lính tại Hoàng Sa năm 1974 của quân đội và nhà nước Việt Nam Cộng hòa, không cùng giai cấp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thì bị giết đã đành, nhưng binh lính tại Trường Sa năm 1988, của quân đội và nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là thực thể cùng giai cấp với phương Bắc, thế mà cũng bị tàn sát.
Vậy thì, nếu giai cấp đứng trên cả đất nước, hãy thử giả định: khi Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, thì với tư cách những đối tượng chung một chiến hào giai cấp, đảng, nhà nước và quân đội của giai cấp công nhân Việt Nam sẽ vẫn tồn tại và cùng với đảng, nhà nước và quân đội của giai cấp công nhân Trung Quốc đồng cai trị những giai cấp khác, trên lãnh thổ Việt Nam chăng? Hoặc giả như, khi quân đội nước “lạ” phất cao ngọn cờ bảo vệ đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, thì quân đội Việt Nam, do tính giai cấp là cái tiên quyết, trên cả tính quốc gia-dân tộc, sẽ sẵn sàng tiếp nhận ngọn cờ ấy, đưa họ vào để trấn dẹp kẻ thù giai cấp trong nước chăng?
Chỉ những so sánh và giả định ngờ nghệch nhưng không kém thực tế ấy thôi, đã thấy rằng việc lấy giai cấp làm căn nguyên của quân đội trong khi nó mang bản chất của quan hệ đối ngoại, sẽ khiến lí luận trở nên bất xứng, thực tiễn trở thành ngây ngô.
Và cũng sẽ như vậy khi hiểu cứng nhắc về tính chính trị của quân đội.
3. Tính chính trị và phi chính trị của quân đội là như thế nào?
Ngoài giai cấp, tính chính trị của quân đội Việt Nam còn được nói đếnở những điểm như, là công cụ bạo lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa, chiến đấu vì lí tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, làm nhiệm vụ quốc tế.
Cụ thể hơn nữa, là ý kiến triển khai rằng dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với nhà nước và xã hội – trong đó có lực lượng vũ trang, cũng như cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, việc tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “chỉ có thể thành công bằng con đường đấu tranh bạo lực cách mạng”, và trong bối cảnh “diễn biến hòa bình” và hoạt động “lật đổ”, càng phải giữ vững tính chính trị đó.
Đúng là hoạt động vũ trang không chỉ là cái hướng ra ngoài lãnh thổ, nhưng qua nội dung như thế, với mảng dân tộc lọt thỏm ở giữa, có thể thấy quả là sự đương cự vũ trang đã được kéo vào trong lòng đất nước.
Trên bình diện lịch sử, từ khi có nhà nước, quân đội là một cấu thành của nhà nước. Điều này tạo nên cấp độ đầu tiên của tính chính trị của quân đội. Do nhà nước có chức năng đối nội, đối ngoại, nên quân đội cũng dự phần chức năng và nhiệm vụ ở cả hai phạm. Từ căn nguyên và bản chất của tương quan đối ngoại, chức năng ngoại an tạo nên cấp độ tiếp theo trong tính chính trị của quân đội.
Cấp độ của chức năng nội trị thì biểu hiện qua việc quân đội được điều động tham gia lập lại trật tự xã hội, trấn dẹp các xung đột cộng đồng. Ở đây, tùy vào loại xung đột (xuất phát từ các nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, sắc tộc…) và các chủ thể tham gia, cùng với tính chất, mức độ, quy mô của nó, cũng như tùy vào mục đích, vị thế của giới cầm quyền, mà hành động của quân đội dưới sự chỉ huy của nhà nước là việc bảo an hợp lí và chính đáng hay là sự trấn áp quân sự phi lí và phi nghĩa.
Ở cấp độ nội trị còn có hoạt động phúc lợi xã hội, khi quân đội được điều động tham gia vào các hoạt động công ích.
Đi xa hơn trong địa hạt chính trị, thay vì là công cụ nội trị, quân đội có thể trở thành chủ thể cai trị, mà mức độ thấp là sự cát cứ quân sự. Trong tiến trình lịch sử khách quan trước đi đến nhà nước trung ương tập quyền, định chế này từng đóng vai trò là lực lượng duy trì quyền lực cát cứ của các lãnh chúa. Còn ở xã hội hiện đại, nếu có sự cát cứ lãnh thổ trong một quốc gia, bằng lực lượng vũ trang, thì sẽ là điều phi pháp.
Cao hơn thế, là việc quân đội trực tiếp nắm quyền lực quốc gia hoặc chi phối quyền lực đó. Trong thời đại ngày nay, mọi chính quyền quân sự hay bán quân sự bị xem là không chính danh, bởi ngoài tình trạng quân quản khi một đất nước chuyển tiếp khỏi trạng thái chiến tranh, những chính quyền loại này thường hình thành từ việc tiếm quyền hoặc lạm dụng quyền lực bằng sức mạnh quân sự.
Nhưng dù sao, chức năng nội trị vẫn ở hàng thứ hai so với chứ năng ngoại an. Vì như đã nói, quân đội là định chế thường trực để đối phó với ngoại bang, trong khi đó, những nhiệm vụ từ chức năng nội trị thì chỉ tùy lúc, tùy nơi, tùy sự việc.
Chẳng hạn, cuộc khởi nghĩa Spartacus dù ngắn ngủi (73-71 TCN), đã để lại một dấu ấn trong lịch sử. Nhưng điều đó không có nghĩa đàn áp nô lệ là nhiệm vụ chính hay nhiệm vụ duy nhất của quân đội thời ấy. Dù có kể đến những cuộc chiến nô lệ khác, thì lịch sử kéo dài cả thiên niên kỷ, từ thời kì Vương chính (753-510 TCN), sang Cộng hòa (510-30 TCN), đến Đế chế (30TCN-476), xét về mặt quân sự, bên cạnh những cuộc nội chiến quyền lực, lịch sử của Rome đầy những cuộc chiến hướng ra bên ngoài, trải khắp một không gian từ bán đảo Itali và Địa Trung Hải, sang tận Bắc Phi[29].
Việc quân đội thời phong kiến trấn áp nông nô cũng không thể không có, nhưng nếu không thổi phồng hay hoán đổi, thì sẽ thấy rằng chủ yếu, thời trung đại, quân đội các nước Tây Âu chìm mình vào những cuộc viễn chinh Thập tự[30], hoặc tham chiến để giành giật lãnh thổ và vương vị, như cuộc chiến trăm năm giữa Anh và Pháp (1337-1453) [31].
Từ chỗ chỉ là công cụ của kẻ nắm quyền hay của nhà nước ở thời cổ và trung đại, từ thời cận đại về sau, giới lãnh đạo quân đội ngày càng “tự nhận thức” một cách đầy tham vọng về sức mạnh vũ trang mà mình nắm giữ. Nửa sau thế kỷ XX đã chứng kiến những cuộc chính biến quân sự chấn động, mà hệ quả là những chính quyền độc tài quân sự.
Ở Miến Điện, cuộc đảo chính năm 1962 của Tướng Ne Win (1910-2002) đã dẫn đến sự thống trị của chính quyền quân phiệt, mà phải đến tận tháng Tám 2011, với cuộc gặp của Tổng thống Thein Sein với Aung San Suu Kyi, mới đặt bước chuyển đầu tiên cho cải cách.
Cuộc đảo chính tháng Chín 1965 tại Indonesia đã kéo theo cuộc thanh trừng chống cộng đẫm máu, và sự nắm quyền hơn 30 năm của nhà lãnh đạo quân đội Suharto (1921-2008).
Tháng Chín 1973, tại Chile, quân đội lật đổ và giết chết Tổng thống có xu hướng marxist Salvador Allende (1908-1973). Tướng Pinochet (1915-2006) lên nắm quyền đến năm 1990, với một xã hội đầy tra tấn và giết chóc đối với cánh tả.
Trong số những trường hợp nổi bật, còn có thể kể đến Nam Hàn dưới thời Tướng Park Chung-hee (1917-1979), sau cuộc đảo chính năm 1961. Hay như ở Thailand, quân đội giữ vai trò chi phối từ năm 1976, cho đến nay vẫn chưa rút hẳn ảnh hưởng khỏi chính trường. Hậu quả, thay vì ổn định như ý định của họ, đất nước thường xuyên phải thay đổi chính phủ, bằng đảo chính hay bầu cử trước hạn.
Chính bước phát triển này – sự lan tràn của nhà nước độc tài quân sự – đã khiến xã hội hiện đại đặt vấn đề phi chính trị hóa quân đội, và xem đó là chuẩn mực của quân đội và nền dân chủ hiện đại.
Nếu không phi chính trị, “quân đội của giai cấp tư sản” tại nước Venezuela đa đảng đã không tuân thủ kết quả thắng cử của Hugo Chavez marxist (1954-2013) vào năm 1999. Và biết đâu, với tiền lệ tại khu vực, số phận của ông chẳng phải đã như Allende chứ đừng nói chi đến việc thực hiện một kiểu chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI.
Nếu không phi chính trị, “quân đội của nhà nước tư bản” tại nhiều nước Mỹ Latin khác đã không thể chấp nhận những nhà lãnh đạo cánh tả hiện đang nắm quyền tại nước họ.
Nếu không phi chính trị, liệu quân đội của nhà nước ở nơi có cuộc Đại Cách mạng (tư sản) 1789 có để yên cho Đảng Cộng sản Pháp tham gia vào chính quyền của Tổng thống Mitterrand (1916-1996) trong thời gian 1981-1984, và sau đó, trong nội các của Thủ tướng Lionel Jospin từ 1997đến 2002?
Cũng tương tự, trường hợp Đảng Cộng sản Ý, trong giai đoạn sau năm 1975 đến khi chia tách vào năm 1991, đã hiện diện ở nhiều chính quyền địa phương trên khắp nước, liệu không có yếu tố phi chính trị của quân đội?
Nếu không phi chính trị, quân đội của “tên đế quốc sừng sỏ”, với những bộ trưởng quốc phòng phe Cộng hòa có chịu để yên cho một tổng thống phe Dân chủ, đã là da màu mà còn chịu nhiều cáo buộc là theo chủ nghĩa xã hội không[32]?
Rõ ràng, ngày nay, trên khắp thế giới – cái thế giới mà “nhà nước của giai cấp tư sản” có vị thế chủ lưu – phe tả hay thiên marxist nắm quyền được là nhờ sự đa nguyên của thể chế và tính trung lập của quân đội, chứ không phải nhờ sự nhất nguyên về chính trị và thiên kiến của lực lượng vũ trang.
S. Huntington (1927-2008) từ năm 1957, đã viết trong tác phẩmQuân nhân và nhà nước: Lí thuyết và thực tế chính trị của các quan hệ quân sự – dân sự (The Soldier and the State. The Theory and Politics of Civil-Military Relations), rằng: “Chính trị vượt quá phạm vi năng lực của quân đội, và sự can dự của sĩ quan vào chính trị sẽ phá hoại tính chuyên nghiệp của họ… Giới chức sắc quân sự phải giữ sự trung lập chính trị… Lĩnh vực của khoa học quân sự là cái thuộc quyền của lĩnh vực chính trị, song độc lập với lĩnh vực chính trị”[33]. Cách nhìn này đã thể hiện một nhận thức biện chứng, đúng đắn về tính chính trị của quân đội.
Quân đội, với tư cách một cấu thành của nhà nước, tự thân đã mang tính chính trị. Nhưng điều đó không có nghĩa tính chính trị của nhà nước như thế nào thì tính chính trị của quân đội như thế ấy, không có nghĩa tính chính trị cho phép nhà nước làm gì thì quân đội cũng được làm vậy, bởi nhà nước thuộc phạm vi dân sự còn quân đội thuộc phạm vi quân sự. Sự tách biệt đó đã có kể từ khi người thủ lĩnh quân sự không còn đồng thời điều hành mọi công việc khác của cộng đồng.
Do sự tách biệt giữa hai lĩnh vực đó, nên có một tương quan rất đặc biệt giữa nhà nước và quân đội, là cho dù là cơ quan có sức mạnh trực tiếp nhất của xã hội, tức những con người nắm trong tay một lực lượng vũ trang có tổ chức, tập trung và thường trực, nhưng quân đội lại phải đặt dưới quyền của nhà nước – một bộ máy được điều hành chỉ bằng những viên chức phi vũ trang. Tính chính trị của quân độidừng lại nơi đây, ở vai trò thuộc quyền của nhà nước, thực hiện những chức năng và nhiệm vụ theo sự chỉ huy của nhà nước.
Song, với sức mạnh trực tiếp của mình, khi quân đội muốn can dự vào việc điều hành của nhà nước hay tranh đoạt quyền điều hành đó, họ sẽ dễ dàng thực hiện ý đồ nếu không có những rào chắn có hiệu lực. Cũng sẽ như vậy, khi họ ngầm chi phối một bộ phận quan chức nhà nước, hay tạo ra mâu thuẫn giữa họ, hay đứng về phía nào trong số họ nếu có sự khác biệt hay tranh chấp.
Ngoài ra, khi thay vì giới hạn trong những hoạt động có tính chất và nội dung thuộc phạm vi quân sự hoặc liên quan, họ lại tham gia hoặc “dẫn đạo” các hoạt động có tính chất và nội dung dân sự (hoạt động kinh tế, hoạt động khoa học tự nhiên và xã hội, hoạt động tôn giáo, v.v), thì sẽ đưa vào các hoạt động này kiểu liên hệ uy quyền và tuân phục kiểu quân sự. Điều đó sẽ làm biến dạng sự vận hành chính trị của nhà nước và sự điều tiết tự nhiên của các thiết chế dân sự, không sớm thì muộn cũng sẽ tạo hoặc khoét sâu thêm xung đột chính trị, khiến trì trệ và gây xung khắc xã hội.
Do vậy, ngoài tính chính trị ở chức năng, nhiệm vụ và nội dung quân sự, thì ở những phạm vi ngoài quân sự, tính chính trị của quân đội chính là sự phi chính trị. Nói một cách biện chứng, tính chính trị của quân đội bao hàm sự phi chính trị, và phi chính trị không có nghĩa là quân đội không mang tính chính trị.
Tuy thế, xét một cách lịch sử-cụ thể, đúng là tính phi chính trị hay tính trung lập của quân đội chỉ đặt ra một cách hiệu lực ở xã hội đa nguyên. Vậy thì…
4. Xét lịch sử-cụ thể quân đội, cụ thể đến đâu?
Ở xã hội nhất nguyên và toàn trị, mọi thứ đều mặc nhiên và vô điều kiện tuân phục ý chí của của một cá nhân hay một nhóm đầu sỏ, một quan điểm hay một luận thuyết, nên việc đặt vấn đề về tính chính trị hay phi chính trị, trung lập hay không trung lập đều bằng thừa, vì dù có hình thức này hay hình thức khác thì tất cả vẫn phải quy tập về cái trung tâm quyền lực tuyệt đối, toàn diện và duy nhất đó.
Nhưng, cũng xét một cách lịch sử-cụ thể, sự thuần nhất đó chỉ duy trì được ở giai đoạn sắt máu của nhà nước độc tài, dựa trên sức mạnh bạo lực của các lực lượng vũ trang và những công cụ ngu dân khác.
Mọi sự thống nhất đều là tương đối, kể cả ở cấp độ cao nhất của sựđồng nhất dưới chế độ cực quyền. Sự vận động theo hướng khác biệt luôn diễn ra. Chưa kể đến sự phát triển của các quan niệm và giá trị xã hội, một khi đã có khác biệt về quyền lợi chính trị hay quyền lợi kinh tế trong chính bộ máy quyền lực độc tài, thì sự phân hóa trong lòng chế độ cũng đã diễn ra, tính thuần nhất chính trị và trung thành chính trị cũng không còn như trước. Khi đó, bộ phận cầm quyền, ở những mức độ khác nhau, sẽ tự xung đột với nhau, đồng thời cũng khoét sâu thêm sự xung khắc với xã hội.
Giải pháp chỉ có thể là giới độc tài, hoặc từng bộ phận trong đó, phải tự chuyển biến để tránh xung đột bên trong hoặc xung đột với xã hội. Ngược lại, duy trì bạo lực để chống lại nhau hay chống lại xã hội, sẽ khó tránh khỏi đỗ vỡ bởi bạo lực sẽ được đáp trả một cách tương ứng. Quân đội cần trung lập là vì vậy, để không trở thành công cụ của phe phái chính trị, hoặc không quân phiệt hóa bộ máy nhà nước khi tự mình trở thành một lực lượng chủ đạo và thường trực, đứng trên để “điều tiết” sự vận hành chính trị giữa các phe phái và “duy trì” sự ổn định đó bằng sức mạnh vũ trang.
Vậy, xét tính chính trị và phi chính trị của quân đội ở Việt Nam ra sao?
Có vẻ hợp lí ở diễn đạt mang tính phương pháp luận, rằng không có tổ quốc chung chung và quân đội chung chung, mà ngày nay, phải nói đến tổ quốc xã hội chủ nghĩa và quân đội của giai cấp công nhân, do vậy, quân đội trung thành với tổ quốc xã hội chủ nghĩa là phải trung thành với Đảng Cộng sản.
Nhưng xét lịch sử-cụ thể như vậy đã đủ lịch sử-cụ thể chưa, hay cũng chỉ dừng lại ở mức chung chung của một lí luận kiểu thuần nhất?
Nếu xét rốt ráo quan hệ lịch sử-cụ thể, phải lí giải thỏa đáng ít nhất hai vấn đề: 1. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ấy được ấn định bằng kiểu chủ nghĩa xã hội nào, và cái chủ nghĩa xã hội đó có hiện thực ra sao; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và hiện như thế nào trong lịch sử và hiện tại (dưới mọi khía cạnh thực tế: lí tưởng, cương lĩnh, văn hóa chính trị, cơ sở xã hội, tổ chức…), và có thể giữ vị trí trên cả đất nước, dân tộc hay không.
Ở đây, tôi không mở rộng chủ đề để bàn đến hai vấn đề đó, bởi chỉ riêng tính lịch sử-cụ thể ở khía cạnh sát sườn thôi cũng đã đủ để kết luận về tính chính trị và sự trung thành của quân đội.
Nói đến tổ quốc là nói đến tổng thể vẹn toàn của đất nước, với bờ cõi, cộng đồng và văn hóa…, trong tương quan về sự khu biệt ở lịch sử, định vị ở hiện tại và tồn vong ở tương lai. Ở mỗi thời kì, tổng thể vẹn toàn đó toàn đó kết tinh lại trong hiện thực, thể hiện trong nhận thức và tình cảm dân tộc. Dù có qua thể chế này hay chế độ khác, thì tổng thể đó và nhận thức, tình cảm về nó vẫn vượt lên mọi sự phân chia giai tầng hay ý thức hệ, cho dù đứng ở vị thế nào dể xét.
Trên đất nước mình, quân đội không thể đặt điều kiện là tổ quốc kiểu này thì chúng tôi mới bảo vệ, tổ quốc kiểu khác thì chúng tôi không bảo vệ. Lối suy nghĩ đó đẩy lùi quân đội về lại như một định chế cát cứ phe phái hay lãnh địa, chứ không phải một định chế mang tầm quốc gia-dân tộc. Chẳng hạn, không thể nói rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên sẽ từ chối bảo vệ đất nước khi – giả như – quốc hiệu Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đổi thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoặc Cộng hòa Việt Nam, hay Đảng Cộng sản Việt Nam đổi thành Đảng Lao động Việt Nam hoặc Đảng Dân tiến Việt Nam.
Khi đặt vấn đề tổ quốc phải thể chế này hay thể chế kia quân đội mới dành sự bảo vệ thì về thực chất, định chế này đã biến thành một lực lượng chính trị độc lập và quay lại điều khiển tiến trình quốc gia-dân tộc.
Phụng sự vô điều kiện đối với tổ quốc (đất nước, dân tộc) là nguyên do mà định chế quân sự này tồn tại với tư cách một lực lượng thống nhất và duy nhất của quốc gia. Đó là tính phi chính trị của quân đội đối với tổ quốc, mà không thể vin vào cái lịch sử-cụ thể nào để thoái thác, bởi việc quân đội ở thời nào thời nào bảo vệ đất nước ở thời ấy đã là tính lịch sử-cụ thể rồi. Đó cũng là lí do tự nhiên mà Hồ Chí Minh chỉ nói “trung với nước, hiếu với dân” chứ không nói “trung với đất nước xã hội chủ nghĩa, hiếu với người dân theo chủ nghĩa xã hội”.
Đấy là về Nước, còn về Đảng, thì như đã nói, ở thể chế nhất nguyên và ở giai đoạn thuần nhất của thế lực cai trị, sẽ là thừa khi đặt vấn đề về tính chính trị hay phi chính trị. Tuy nhiên, tiến hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ra khỏi sự thuần nhất đó, và sự phân hóa như hiện nay sẽ khiến đảng này không còn quay ngược về như trước kia được nữa.
Một khi đã có “đồng chí X” thì sẽ có “đồng chí Y”, “đồng chí Z” làm đối trọng hay điều hòa, cùng với những đồng chí x, y, z… xoay quanh. Rồi thì, sẽ nối tiếp bằng các đồng chí X2, Y2, Z2, v.v. Tranh chấp ở mức độ này hay mức độ khác là không thể tránh khỏi, như đã diễn ra. Và như mọi xung động chính trị ở thế giới con người, con cờ lực lượng vũ trang chắc chắn được chơi, không lúc này thì lúc khác.
Trong điều kiện lịch sử-cụ thể này, quân đội và công an, mà cụ thể là giới lãnh đạo và chức sắc, nếu đứng ngoài những toan tính chính trị của giới chức dân sự, chỉ tập trung cho sự chuyên nghiệp của mình, có nghĩa là đã chọn con đường trung lập, một biểu hiện của tính phi chính trị của bộ máy vũ trang. Còn nếu, dù đứng hẳn về một phía hay có sự ủng hộ phân tán, thì với lực lượng của mình, trên toàn bộ hay cục bộ, họ đều trực tiếp làm lệch tương quan giữa các thế lực. Khả năng khác, chọn cách vượt qua các phe phái, tự mình dùng sức mạnh để chi phối hay trực tiếp nắm quyền lực dân sự, họ sẽ định hình một nền chính trị quân phiệt.
Đã đến lúc không thể nhận thức tình hình theo phong cách duy niềm tin, không thể lảng tránh thực tế về mức độ phân hóa trong Đảng, không thể lảng tránh vấn đề về tính chính trị và phi chính trị của lực lượng vũ trang, nếu không muốn những khả năng xấu có thể trở thành hiện thực trong tương lai.
Và, ngay đến việc trưng ra quan điểm của Lenin như một huấn chỉ tối thượng cũng không giúp ích cho việc lảng tránh này.
5. Lenin đã nói gì về tính chính trị của quân đội?
Những trích dẫn từ bài Quân đội và cách mạng của Lenin đã trở thành luận cứ không thể xô ngã của những người phản bác việc phi chính trị hóa quân đội. Hầu hết đều không bỏ qua lời khẳng định trực tiếp của ông, rằng: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”[34].
Trong bài, Lenin có một luận điểm hoàn toàn sai lầm, là: “Quân đội thường trực ở bất cứ đâu và trong mọi nước đều chủ yếu dùng để chống kẻ thù bên trong hơn là để dùng chống lại kẻ thù bên ngoài”. Còn lại, tôi tán thành gần như tất cả những gì ông viết ở đó, kể cả đoạn thường được trích lại bên trên.
Nội dung tính phi chính trị của quân đội được đề cập từ giữa thế kỷ XX, là vấn đề quan hệ của quân đội với nhà nước. Theo đó, như đã trình bày, quân đội thuộc quyền của nhà nước và không trực tiếp nắm giữ quyền lực dân sự, không can dự vào hoạt động hay tranh chấp chính trị của chính giới.
Còn ở Lenin, một khía cạnh khác của tính phi chính trị được làm rõ, đó là quan hệ của quân đội với nhân dân. Ông viết những lời đanh thép đó vào tháng Mười một 1905, khi nhà nước nhất nguyên ở nước Nga đầu thế kỷ XX đi vào con đường công khai chống lại nhân dân, vừa dùng quân đội để đàn áp tiếng nói đòi tự do ngày một lan rộng, lại vừa nô lệ hóa quân đội khi biến nó thành sở hữu của riêng mình. Ông không những kêu gọi quân đội không đứng về phía nhà nước, mà còn chủ trương quân nhân phải nhập cuộc cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, cùng tham gia đưa kiến nghị tập thể về đời sống và chính trị, chứ không biến mình thành những “cái máy vũ trang” đi “trấn áp mọi nguyện vọng tự do”.
Đặt sang một bên các chi tiết cụ thể về những biến cố địa phương được nhắc đến, thử thêm sắc “đỏ” sau những chữ và những ý về “tư sản” mà ông đả phá, sẽ thấy sự tương đồng giữa lịch sử và hiện tại ở những nhà nước chuyên chính.
Đó là chưa kể, nhất quán với Marx và Engels, Lenin chủ trương về một quân đội nhân dân, hoàn toàn theo đúng nghĩa đen. Theo đó, phải giải tán quân đội thường trực vốn đặt dưới sự chỉ huy của nhà nước, thay vào đó là việc vũ trang toàn dân để tránh nhà nước dùng quân đội đàn áp nhân dân, cũng như tạo được sức mạnh vô song chống lại mọi đe dọa từ bên ngoài.
Hơn 70 năm ở Liên Xô và trên dưới 60 năm ở Trung Quốc, Việt Nam, chủ nghĩa xã hội đã tiến triển rất xa (Liên xô từng tuyên bố đã bước vào giai đoạn chuẩn bị tiến vào chủ nghĩa cộng sản, Trung Quốc ngày nay đã là một siêu cường xã hội chủ nghĩa có thực lực), thế nhưng không một nhà cầm quyền nào dám mấp mé chạm đến lí luận (chứ đừng nói đến việc thực hiện) về việc vũ trang toàn dân – một trong những ý tưởng căn bản nhất, đồng bộ trong lí luận về nhà nước của các nhà kinh điển. Bởi, hậu duệ của ba ông giờ đã thuộc về giới nắm quyền lực, nên từ cái gốc nhận thức của họ, lực lượng vũ trang không phụng sự cho việc “đảm bảo đầy đủ tự do”, mà vẫn chỉ là công cụ trấn áp và thực thi bạo lực – cả trong xây dựng thời bình. Và bởi, nếu toàn dân vũ trang sẽ không những không còn đối tượng cho việc trấn áp (qua đó mới duy trì được lí luận và thực tế trấn áp), mà còn ngược lại, có nguy cơ chính bộ máy quan liêu, thư lại của họ sẽ nhanh chóng bị nhân dân trấn dẹp.
Chưa đặt vấn đề về tính khả thi từ quan điểm vừa nói của Lenin, chỉ liên hệ bài viết của ông với cái tâm thức và thực tế bạo lực quân sự trong xã hội chuyên quyền, sẽ thấy rằng quân đội, trước những xung động xã hội, cách đúng đắn nhất, là đứng về phía nhân dân. Nhưng vậy thì có gì mâu thuẫn giữa tính chính trị và phi chính trị của quân đội không?
Với nhà nước, quan hệ biện chứng là ở chỗ tính chính trị của quân đội dừng lại ở sự phi chính trị. Với nhân dân, quan hệ biện chứng là từ sự phi chính trị bước sang liên hệ chính trị. Vì sao? Nhân dân là cộng đồng cư dân của một quốc gia, không phải là một định chế chính trị có “hình thể” và tổ chức, nên quân đội dù “từ nhân dân mà ra” cũng không phải là một quan hệ hệ thống – cấu thành. Bởi thế, dù mỗi thực thể này đều tự mang tính chính trị của riêng mình, lại không có chung tính liên đới chính trị như quan hệ nhà nước – quân đội. Thế nhưng, trong khi quân đội với tư cách tổng thể thì gắn với nhà nước, thìquân nhân với tư cách cá thể lại gắn với đời sống xã hội, mà Lenin đã dùng từ “binh sĩ-công dân” để diễn tả. Tư cách này của quân nhân khiến họ mang tính chính trị như của người dân. Về mặt lượng, cũng giống như các cá thể cư dân hợp thành nhân dân, các cá thể quân nhân hợp thành quân đội. Và như thế, trong tương quan với tính chính trị của nhân dân và xã hội, tính chính trị nơi mỗi binh sĩ-công dân khiến quân đội mang tính chính trị (nhưng tất nhiên, về mặt xã hội, không về mặt quyền lực-bạo lực).
Như thế, xét cả thực tế tiến hóa của quân đội cho đến nay, cả lí luận từ thời các nhà kinh điển đến đương đại, biện chứng của tính chính trị-phi chính trị của quân đội là không can dự vào công việc của nhà nước và chính giới, nhưng đồng thời không tách khỏi hiện tình của xã hội và công chúng. Hai mặt của quan hệ này không hề làm giảm sức mạnh của quân đội. Thế thì…
6. Những gì làm suy yếu quân đội?
Trong khi hầu hết các nước trên thế giới, sức mạnh của quân đội là ở tính chuyên biệt và tính hiện đại, cũng như đường hướng chiến lược của nó, thì tại Việt Nam, ngược lại, được nhấn mạnh hàng đầu ở tính chính trị-xã hội và tư tưởng, tức phải nhận được sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, trực tiếp của một đảng dân sự duy nhất, và phải trực tiếp tham gia vào sinh hoạt chính trị dân sự để bảo đảm cho sự lãnh đạo đó.
Hãy thử có vài so sánh và đặt vài câu hỏi, sẽ thấy ngay và thấy rõ, những gì làm suy yếu quân đội.
Việt Nam có một bờ biển trải dài, năm 1974 đã mất toàn bộ Hoàng Sa, năm 1988 lại để mất một phần Trường Sa, khiến Trung Quốc có cơ hội đứng chân tại nam Biển Đông, thay đổi cục diện địa-chính trị. Vậy mà, ngoài việc vài năm gần đây mới khẩn cấp mua vũ khí hiện đại do đe dọa từ biển, còn thì trên dưới 20 năm sau khi mất đá Gạc Ma, Việt Nam không hề cải tổ quân đội hay có dự phóng hướng ra đại dương.
Trong khi đó, Đài Loan – hải đảo ở đông bắc Biển Đông, thì từ những năm 1990 đã biết hiện đại hóa hải quân để chung sống với bối cảnh địa-chiến lược biển đang manh nha những đổi thay.
Nhật Bản cũng nhìn xa như thế. Sau sự kiện 11 tháng Chín (2001), tuy không ảnh hưởng đến mình nhưng nhận thức được rằng cục diện thế giới chuyển sẽ biến mạnh từ đây, nên dù bị khống chế bằng hiến pháp phi chiến tranh, họ vẫn nhanh chóng sửa luật để tham gia hoạt động quân sự quốc tế và nâng cấp lực lượng vũ trang. Nhân đấy, họ kịp thời phát triển hải quân vào lúc mà Trung Quốc đang âm thầm trỗi dậy.
Còn Philippines, một thành tố chính của tranh chấp chủ quyền biển trong vùng, có thể là quốc gia yếu về quân sự, nhưng chiến lược đồng minh và ngoại giao tiến công của họ lại là đối sách bổ trợ hữu hiệu cho quân đội.
Như vậy, so tự thân và so với các quốc gia hải dương khác, quân đội Việt Nam đã thật sự ở vào thế trì trệ chiến lược và quân sự. Và việc đó xảy ra trong điều kiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn tuyệt đối và không hề bị ngắt quãng.
Đáng nói hơn, là dù có chủ trương cải tổ cục bộ, lãnh đạo và quân đội Việt Nam cũng thiếu quyết tâm chính trị để thực hiện. Đó là trường hợp quyết định chuyển giao các đơn vị kinh tế của lực lượng vũ trang cho các tổ chức kinh tế, được đưa ra tại Hội nghị Trung ương 4 khóa X(15-24/01/2007). Lúc đó, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã nhấn mạnh trước công luận, rằng “Đã đến lúc quân đội không nên làm kinh tế”. Nhưng cho dù ý kiến của ông có giãn ra về lộ trình so với khẳng định chung của Hội nghị, thì quyết sách này cũng đã nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Không phải và không chỉ vì nguyên nhân về môi trường kinh tế, mà ngày nay quân đội phi kinh tế đã là định đề hiển nhiên của một bộ máy quân sự chuyên nhiệp và hiện đại. Bởi chỉ có thế, định chế này mới tránh được sự thao túng vật chất từ các phe phái trong nước và thế lực ngoại bang, tránh sự đấu tranh trong nội bộ quân đội, giữa các đơn vị kinh tế với nhau và giữa các đơn vị kinh tế với các đơn vị phi kinh tế, làm giảm sự gắn kết và sức chiến đấu.
Chính vì lí do đó, làm nền cho những dự phóng chiến lược, từ tháng Bảy 1998, Trung Quốc đã ra lệnh chấm dứt hoạt động kinh tế của lực lượng vũ trang. Ở Việt Nam, đến gần mười năm sau mới chạm đến giải pháp này. Đã vậy, trong khi họ thực hiện nhanh chóng, để ngay năm sau đã có kết quả sơ bộ, thì ở ta, từ cả trăm cơ sở sản xuất mà Bộ Quốc phòng phải “loay hoay”, như lời Bộ trưởng Phùng Quang Thanh vào năm 2007, thì đến nay, cả trăm doanh nghiệp quân đội vẫn đang hoạt động[35].
Không một quân nhân cấp cao nào kêu gọi cải tổ chiến lược cho quân đội. Không một sĩ quan nào nhắc đến chuyện ngưng hoạt động kinh tế nhằm phi vụ lợi và triệt để chuyên nghiệp bộ máy quân sự. Thay vào đó, khuếch trương sự thề nguyền trung thành đảng phái, hô hào và mở rộng tính năng chính trị dân sự, liệu có bù đắp được cho sự thiếu vắng những thay đổi cốt tử, trước thách thức nghiêm trọng và cận kề từ lân bang đã thực hiện từ lâu và thành công những bước đi đó?
Trước biến động toàn cầu từ sự “trỗi dậy hòa bình” của siêu cường mới, giới học giả quân sự khắp nơi, kể cả ở Hoa Lục, tự nhận trách nhiệm nghiên cứu, góp phần cho việc bảo vệ vị thế quốc gia mình. Chỉ tại Việt Nam, trên diễn đàn “chính thống”, duy nhất Tướng Nguyễn Chí Vịnh và Tướng hồi hưu Lê Văn Cương – một người là ý kiến chính thức, người kia là ý kiến độc lập – lên tiếng về các vấn đề chiến lược, sách lược. Và, để mặc cho trí thức ngoại giao và trí thức đa ngành, “trong luồng” và “ngoài luồng”, tự phát lo về các vấn đề địa-chiến lược, địa-quân sự, giới tinh hoa trí thức quân sự dồn một lực lượng mạnh, đánh mạnh vào các vấn đề chính trị nội địa, bằng những giáo điều mạnh có từ những năm 1950 về trước. Vậy, liệu sự thụ động và chủ động trái ngược này có khiến quân đội Việt Nam đủ mạnh trong bối cảnh chuyển đổi gay gắt trên thế giới?
(Ở đây, nảy sinh một “câu hỏi phụ”, là trong giới tinh hoa trí thức vũ trang, bao nhiêu người có học vị, học hàm xuất phát từ đúng chuyên môn binh nhiệp, bao nhiêu người nhận nó từ các ngành Văn, Chính trị [Mác-Lê], Sử [Đảng]; phải chăng nhóm sau chiếm [tuyệt] đại đa số, và với “cơ cấu” như vậy, liệu quân đội Việt Nam có mạnh lên về quân sự?)
Khi lực lượng tuyên giáo hùng hậu, cả dân sự và quân sự, được dùng để trang bị cho binh lính và sĩ quan một tâm thức chính trị hừng hực đối với “các thế lực thù địch” bên trong, cùng một nhận thức quân sự hiếu hòa của những người bạn và ơn nghĩa đối với thế lực xâm lăng biển đảo, thì liệu có tạo nên động lực mạnh cho quân nhân lâm trận khi có biến từ bên ngoài?
Đó là mặt ý thức, còn về hành động, tập trận phòng vệ chủ quyền thì ít mà cùng với công an thao diễn chống nội loạn thì nhiều[36], liệu có giúp quân đội tăng khả năng tác chiến với ngoại bang?
Và, khi nguồn lực vũ trang mãi tập trung toàn cảnh cho “diễn biến hòa bình”, liệu diễn biến không hòa bình có không bị khuất lấp, lu mờ? Thực tế thì, đã có chuyện hợp tác khai thác bauxite với nguy cơ Trung Quốc đứng chân ở Tây Nguyên, mà vẫn có việc doanh nhân Hoa Lục, Hongkong, Đài Loan được thuê dài hạn hàng loạt đất rừng biên giới, rồi lại tiếp tục đến chuyện sử dụng mặt biển gần quân cảng Cam Ranh. Đã có vụ nhường chủ quyền thông tin tại website Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt – Trung, mà vẫn xảy ra chuyện sách giáo khoa tham khảo cho thiếu nhi có “cờ nước” năm sao… Tất cả những vụ việc này lẽ ra phải được đối phó từ trước bằng tầm nhìn và hoạch định chiến lược về an ninh – quốc phòng, lẽ ra phải được phát hiện và ngăn chặn từ bộ máy chuyên trách của các lực lượng vũ trang, và lẽ ra phải không có chuyện lặp đi lặp lại, năm này sang năm khác, sau khi đã có tiền lệ.
Nay, không nhìn nhận thẳng thắn những thế yếu mà lại làm “mạnh” lực lượng vũ trang bằng cách thúc đẩy cho một việc mà gần 60 năm nắm chính quyền không hề làm, một việc mà cả thế giới không ai làm, liệu sẽ tạo được sự thay đổi thực tiễn, hữu ích nào cho quân đội?
7. Bằng câu chữ có điều khiển được sự trung thành?
Trong cuộc tranh luận hiện nay, việc dùng con chữ để làm sai lệnh lí luận và thực tế lịch sử, nhằm chứng minh cho được phải hiến định quân đội trung thành với Đảng, đã ở mức đáng lưu tâm.
Trước hết, việc trung thành của quân đội và tính chính trị hay phi chính trị, dù có giao thoa nhau ở một phạm vi nhất định, vẫn là hai vấn đề khác nhau.
Trung thành với tổ quốc (đất nước, dân tộc) là một thuộc tính phi thời gian (thời nào cũng thế), phi không gian (ở đâu cũng thế), và phi điều kiện của quân đội. Từ hình thức đơn sơ nhất cho đến biến thể khả dĩ nào sau này, đó là điều mà quân đội không thể thoái thác, thay đổi hay tự định đoạt, bất kể diễn tiến xã hội ra sao.
Trong khi đó, cấu trúc chính trị tương thuộc, hình thái thẩm quyền và chức năng, là những điều có thể thay đổi trong quá trình tiến hóa của quân đội. Với tư cách thực thể sức mạnh tập trung của xã hội, việc can dự hay không can dự vào đời sống chính trị dân sự là vấn đề của quân đội thời hiện đại, mà việc tốt – xấu thế nào và định hình ra sao, đã được nói đến bên trên.
Do vậy, từ điều đương nhiên là ở những khía cạnh khác nhau, mọi thực thể xã hội đều tự thân mang tính chính trị, mà ở quân đội thể hiện ở việc là cấu thành của nhà nước, để lập tức khẳng định nó phải trung thành với Đảng Cộng sản, là sự quy kết hoàn toàn tùy tiện, trong khi giữa hai điều đó là một khoảng trống thực tế và lí luận không thể lấp bằng những dòng chữ.
Tuy vậy, việc cố lấp cho được vẫn đã diễn ra. Cùng những luận cứ chính, các tiểu tiết mang dáng dấp xảo thuật cũng được vận dụng cho việc đó. Ngoài những vấn đề đã phân tích, dưới đây xin nhắc đến một số điểm ít nhiều cần lưu ý.
Đầu tiên, như trình bày ở phần đầu, đã có sự diễn đạt hoàn toàn sai sự thật về diễn tiến tư tưởng của Hồ Chí Minh, khi cho rằng câu “trung với nước, hiếu với dân” chỉ ra đời trong bối cảnh tình thế, còn việc Đảng lãnh đạo quân đội thì Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay từ đầu.
Kế đến, lấy nội dung “chính trị trọng hơn quân sự” từ chỉ thị thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân để chứng minh quân đội phải thiên về chính trị, là cách biện luận rất thô thiển, bởi hai lẽ. Một là, nếu quân đội mà lại xem quân sự nhẹ hơn chính trị, thì không lẽ có tổ chức dân sự nào khác sẽ đặt quân sự nặng hơn chính trị thay cho nó, vì một khi đã định hình các cộng đồng lãnh thổ, dứt khoát phải có một định chế vũ trang đặt quân sự lên hàng đầu. Hai là, chỉ thị đó không phải là huấn thị tuyệt đối cho quân đội ở mọi thời kì, mà chỉ có giá trị trong hoàn cảnh lịch sử-cụ thể lúc đó: Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chưa phải là quân đội, “[n]ó là đội tuyên truyền”, có nhiệm vụ dẫn dắt xây dựng thêm nhiều đội quân khác, từ đó mà định hình nên quân đội.
Quay sang bên ngoài, cáo buộc những người “phản bội” cao nhất trong Đảng Cộng sản Liên Xô đã dùng chính quân đội nã đạn tăng vào tòa nhà Xô viết Tối cao, khai tử chính quyền công-nông-binh, là đánh tráo lịch sử. Đúng ra, chính cuộc đảo chính tháng Tám 1991 chống Gorbachev, có sự tham gia của quân đội, khiến xã hội càng ruồng rẫy hệ thống cộng sản đã có mới là điều thúc đẩy Liên Xô thêm nhanh chóng sụp đổ[37]. Khi đó, xe tăng bao vây trụ sở Xô viết Tối cao theo lệnh của nhóm đảo chính, nhưng trước sự đấu tranh của nhân dân, quân nhân đã quay ngược nòng súng, bảo vệ tòa nhà này. Không phát đạn tăng nào được bắn ra.
Không lâu sau khi Liên Xô tan rã, tháng Chín 1993, tại nước Nga, Boris Yeltsin (1931-2007) giải tán quốc hội để bầu cử sớm. Phe chống đối bất tuân, tuyên bố phó tổng thống lên nắm quyền. Đầu tháng Mười, bạo động xảy ra. Quân đội đã đứng về phía tổng thống dân cử đầu tiên của nước Nga, nã pháo vào tòa nhà quốc hội, nơi những người chống đối đang cố thủ. Đây là hệ quả của cuộc tranh chấp giữa các lực lượng chính trị, hoàn toàn không liên can đến việc trung thành hay không với Đảng Cộng sản, hay với chuyện sụp đổ của Liên Xô.
Cũng tráo đổi như thế nhưng lùi xa thời gian hơn, là việc lấy chuyện đàn áp khởi nghĩa nô lệ để lập tức kết luận nhà nước La Mã đàn ápnhân dân, như một phần nhằm chứng minh lịch sử, rằng quân đội luôn phục vụ cho nhà nước của giai cấp này đồng thời với trấn áp giai cấp khác. Nhưng, nếu người viết bài đó đã biết đến công dân tự do thì không thể không biết rằng trong xã hội đấy, dù có những người phải tự bán mình làm nô lệ, người thì bị bắt đi bán, người là con cái của nô lệ…, nhưng phần lớn trong số họ vẫn là chiến tù ngoại tộc. Người nô lệ phải lao động trực tiếp và khổ ải, nhưng thành phần còn lại của xã hội là những chiến binh, thương gia, chính trị gia, nhà điêu khắc, nhà khoa học…, tức tất thảy những người phi nô lệ khác, đã góp phần lớn định hình nền văn minh Hi Lạp – La Mã cổ đại. Họ là bộ phận rất lớn nhân dân không bị đàn áp, theo nghĩa đối kháng xã hội.
Kiểu lập luận một bước hoán chuyển con chữ là đã quy kết được ngay hiện thực cũng được thực hiện cho thời hiện đại. Có ý kiến cho rằng không ít quốc gia mà quân đội phải tuyên thệ trung thành với tổng thống hay chủ tịch nước, “cũng chính là [trung thành] với lãnh tụ của đảng cầm quyền”. Điều này, ở vế trước, nếu có động tác tuyên thệ như thế (ở nghi lễ nhậm chức?) chăng nữa, thì vẫn khác với việc hiến định như ở Việt Nam đang muốn thực hiện. Còn ở vế sau thì có thể khẳng định ngay, là hoàn toàn sai.
Nguyên thủ quốc gia ở các xã hội đa nguyên có thể là chủ tịch hay thành viên ưu tú của một đảng. Nhưng một khi được bầu vào cương vị đó, nhân vật này đã được xã hội thừa nhận là người đứng đầu toàn thể quốc gia, vượt lên mọi đảng phái. Bản thân nguyên thủ, khi nhậm chức, phải tuyên thệ phụng sự quốc gia và trung thành với hiến pháp chứ không phải với riêng đảng của mình[38].
Không phải là tất cả, nhưng phần nhiều các quốc gia theo thể chế tổng thống hay bán tổng thống, nguyên thủ đồng thời cũng là tổng tư lệnh quân đội. Một khi tổng thống đã tuyên thệ vì quốc gia và hiến pháp, thì việc quân đội phục tùng người này chỉ mang ý nghĩa trung thành với quốc gia và hiến pháp chứ không phải với đảng của nguyên thủ. Và, quan trọng hơn, quân đội phải tuân phục nguyên thủ là người của bất kì chính đảng nào, miễn được bầu chọn hợp pháp, chứ không hề phải trung thành chỉ với người của một đảng độc tôn.
Ngoài ra, việc quân đội chịu sự thống lĩnh của một nhân vật không phải là quân nhân chính là thể hiện đặc trưng phi chính trị của quân đội, chứ không phải ngược lại.
Bởi thế, tại Hoa Kì hay Pháp…, khi tổng thống là người của Cộng hòa hoặc Dân chủ, hay từ phe hữu hoặc phe tả, đều không có chuyện tu chính hiến pháp để quân đội trung thành với đảng của nguyên thủ lúc đó. Và cũng bởi thế, tại Venezuela, từ năm 1999 đến nay, không có chuyện hiến định quân đội giành riêng cho Phong trào Đệ ngũ Cộng hòa (Fifth Republic Movement) hay Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất (United Socialist Party) của Chavez nhằm giữ lấy sức mạnh bạo lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Mỹ Latin.
Xa hơn việc hoán chuyển, có cả chuyện dựng đứng con chữ để chứng minh tính đảng phái cho quân đội. Đó là việc nhập nhằng, từ chỗ trưng ra nhận định từ năm 1960 của Clinton Rossiter (1917-1970) về nền chính trị phân đôi tại Hoa Kì[39], để lập tức cho rằng vào hai năm cuối nhiệm kì đầu của Obama, hai đảng tranh giành sự ủng hộ của quân đội cho riêng mình. Thế nhưng, sự thật là, ngoài việc hiến pháp Hoa Kì ngay từ đầu đã phi chính trị hóa quân đội bằng việc trao cho tổng thống quyền thống lĩnh các lực lượng quân sự, trên thực tế cũng không ghi nhận bất kì dấu hiệu nhỏ nhất nào về tranh chấp hay tranh thủ quyền lực vũ trang trong thời gian tại vị của Tổng thống Obama[40].
Ngoài những chi tiết trên, cũng cần lưu ý đến việc khẳng định câu chữ không căn cứ vào kiến thức liên quan cơ bản. Đó là việc cho rằngtrong lịch sử, quân đội chưa bao giờ là lực lượng xã hội tự lập, để chứng minh quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng cầm quyền. Vậy thì, Engels nói đến “quân đội nhân dân” ở thời cổ đại là gì, rồi việc cả ba nhà kinh điển đều đòi dưới chủ nghĩa xã hội phải giải tán quân đội thường trực để vũ trang toàn dân, là gì, nếu không phải là lực lượng tự lập?
Vẫn còn những điều khác nhưng không nhất thiết phải liệt kê tất cả, vì dù sao, câu chữ có được vận dụng như thế nào thì cũng không thay đổi được thực tế khi đã chín muồi.
Như đã thấy ở Liên Xô, quân đội tuân lệnh những người cộng sản cứng rắn, tham gia cuộc đảo chính tháng Tám 1991. Ba nhân vật đứng đầu bộ máy quân sự, công an và phản gián đều có mặt trong nhóm chính biến. Thế nhưng xe tăng, súng ống và binh lính cũng chỉ giúp họ trụ được có ba ngày (19-21/08/1991). Ngoài vai trò nổi bật của Yeltsin, người dân đã thức tỉnh, không chấp nhận hành động quân sự phi pháp. Còn quân nhân – những chiến sĩ-công dân – đã không mù quáng mà phục tùng sự lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp từ những người đứng đầu bộ máy bạo lực vũ trang, để lăn xích tăng càn quét hay nổ súng về phía nhân dân.
Dù sao, nếu không đồng ý với trường hợp Liên Xô vì cho rằng có sự “phản bội” của Gorbachev, hãy quay sang Romania. Đất nước này, từ cuối những năm 1950 đã tách khỏi ảnh hưởng của Liên Xô. Cho đến cuối năm 1989, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Romania không hề có cải tổ, không hề có “Gorbachev”, và đương nhiên không hề có ý tưởng phi chính trị hóa quân đội. Nhưng việc không có liên hệ chính trị với khối Xô viết – Đông Âu và tuyệt đối “kiên định” chủ nghĩa xã hội cũng không thể giúp nước này tồn tại như một ốc đảo giữa những thay đổi đã đến hạn.
Tháng Mười hai 1989, khi có phản kháng đường phố ở Timisoara, trung thành với Đảng Cộng sản và lãnh tụ Ceausescu (1918-1989), quân đội và công an liền thẳng tay tàn sát. Đổ máu lại càng khiến chống đối dâng cao ở nhiều nơi. Sau vụ cách chức và giết bộ trưởng quốc phòng vì không ra lệnh nổ súng vào người biểu tình ở Bucharest, quân đội ngã về phía nhân dân. Sau phiên xử chóng vánh, vợ chồng nhà độc tài đã bị chính những người lính mà vài hôm trước còn tôn thờ quyền lãnh đạo tuyệt đối của mình nã đạn vào. Tất cả sự kiện diễn ra chỉ hơn một tuần (16-24/12/1989).
Quân đội tại Liên Xô và Romania trở súng không phải vì giới lãnh đạo thiếu sáng suốt và sự trung kiên để sớm đưa ra giải pháp hiến định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng. Ở những xã hội độc tôn thì toàn bộ guồng máy xã hội – đương nhiên kể cả quân đội và công an – đều đã “tự nhiên” vận hành bằng sự trung thành đó. Và sự mặc định này còn có giá trị và hiệu lực gấp vạn lần những gì thể hiện ở hiến pháp. Toàn bộ hệ thống giáo dục, tuyên giáo và bộ máy bạo lực đã định vị sự trung thành đó nơi mỗi con người, từ thuở bé thơ, bằng hàng hàng lớp lớp câu chữ. Nhưng thực tế vẫn xảy ra như đã xảy ra, bởi:
Trước thực trạng qua nhiều thập niên, khát khao đổi thay của xã hội, khi đã hội đủ các yếu tố, sẽ đến lúc không thể bằng mệnh lệnh quân đội và bạo lực quân sự mà đảo ngược được.
Trái lại, cho dù lãnh đạo Đảng hay lãnh đạo quân đội có muốn thế, kể cả dùng giải pháp đổ máu, thì như một đặc trưng tự thân, cuối cùng quân đội cũng vẫn sẽ chọn con đường trung thành với đất nước và nhân dân qua việc bất tuân ý chí chủ quan đảng phái.
Quân đội cũng chỉ là một tập hợp những con người, nên trong những trường hợp cụ thể, nói quân đội cũng chỉ là sự thể hiện chung chung, vì quyết định và thực thi quyết định quân sự là ở quan chức, sĩ quan hay binh lính, những quân nhân-con người, chiến sĩ-công dân. Với tư cách này, họ hành động như những chủ thể tự chủ – không như “những cái máy vũ trang”, như như Lenin nói từ đầu thế kỷ XX – chứ không phải như những robot chỉ biết tuân thủ tuyệt đối những mệnh lệnh tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của người khác. Do vậy, dưới bất kì chế độ nào, ở những tình huống khẩn trương, từ sĩ quan cho đến binh sĩ, hoặc vì chính nghĩa, hoặc vì tư lợi và cơ hội, đều có thể có quyết định riêng, không tùy thuộc vào lãnh đạo hay chỉ huy, và bất chấp mọi thứ vũ khí tư tưởng đã trang bị cho họChơi con cờ sức mạnh vũ trang trong các vấn đề đối nội, sẽ luôn có hai khả năng trái ngược nhau.
Không những vậy, bạo lực sẽ được đáp trả bằng bạo lực, và trong những tình trạng bất ổn, hành động man rợ sẽ nhận lấy kết cục dã man. Biện pháp hòa bình sẽ kết thúc bằng trạng thái hòa bình, càng dùng bạo lực thì hậu quả sẽ càng tan thương – cho cả hai phía. Điều đó không chỉ xảy ra ở năm 1989 và 1991 mà còn hiển hiện gần đây, ở cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập vốn còn đang tiếp diễn.
Đấy mới chính là những bài học cần cảnh báo, chứ không phải cảnh báo bằng kết luận theo lối cũ, tức lại dùng câu chữ để quy buộc tuyệt đối lực lượng vũ trang về mình, nhằm dọn đường cho phương án bạo lực khi cần.
Từ năm 1989 đến nay, duy nhất Trung Quốc thành công trong việc sử dụng quân đội đàn áp ý nguyện đổi mới. Điều đó không chỉ vì ở sự kiện Thiên An Môn, giới sinh viên và trí thức vẫn còn ở trạng thái đơn lẻ, chưa có sự tham gia rộng khắp của các lực lượng xã hội khác, mà còn ở văn hóa chính trị của họ. Mấy ngàn năm qua, ở đất nước này, tâm thức thắng cho kì được, tranh giành cho kì được đã khiến họ sẵn sàng gây đổ máu cho đồng tộc lẫn lân bang.
Người Việt không thể học theo cái văn hóa ấy!
Họ có thể thắng bằng xe tăng cán người ở quảng trường, nhưng sẽ không thắng được lịch sử. Sẽ đến lúc có sự phán xét công bằng, bằng hình thức này hay hình thức khác. Mọi hành động bạo lực của giới quân sự và độc tài, từ Âu sang Á, từ Mỹ Latin sang Cận Đông, đều đã chứng minh như thế.
H. Mondjian, một tác giả marxist, khi phê phán những người đề cao bạo lực, chủ trương dùng chiến tranh để mở rộng phe xã hội chủ nghĩa, có nói rằng: “coi chiến tranh và bạo lực chính trị là nhân tố quyết định lịch sử là không đúng. Chiến tranh không thể sinh ra hình thái kinh tế-xã hội mới, cũng chẳng thủ tiêu được một chế độ xã hội đang có sức sống” [41]. Để đầy đủ, cần bổ sung cho ông một ý: Đồng thời, bạo lực chính trị và chiến tranh chống lại nhân dân không thể tiêu diệt sự khai sinh xã hội mới, cũng chẳng thể cứu được một chế độ đã không còn sức sống./.
Tháng Ba & Tư 2013
© 2013 Lê Tuấn Huy & pro&contra
*
Phụ lục
Quân đội và cách mạng[42]
Lenin
Cuộc khởi nghĩa ở Xê-va-xtô-pôn ngày càng mở rộng. Tình hình đang tiến gần đến kết cục. Những người lính thủy và binh lính đấu tranh cho tự do đã loại bỏ bọn chỉ huy. Trật tự được duy trì nguyên vẹn. Chính phủ chưa diễn lại được trò hề bỉ ổi như trong sự kiện Crôn-stát, chưa gây nên được một cuộc tàn sát nào. Hạm đội đã không chịu ra khơi và đang uy hiếp thành phố, nếu người ta tìm cách đàn áp những người khởi nghĩa. Trung úy hải quân Smít vì “cả gan” tuyên bố sẽ dùng vũ khí để bảo vệ những tự do đã hứa hẹn trong Đạo dụ ngày 17 tháng Mười mà đã bị cách chức thì giờ đây đã nắm lấy chức vụ chỉ huy tàu “Ô-tsa-cốp”. Như báo “Nước Nga” đã cho biết, hôm nay, ngày 15 là hạn cuối cùng cho lính thủy đầu hàng.
Do đó, chúng ta ở vào ngay đêm trước của cái giờ phút quyết định. Mấy ngày sắp tới – có thể là mấy giờ – sẽ chỉ rõ những người khởi nghĩa sẽ thắng không, hay là họ sẽ bị đánh bại, hay là một hiệp định nào đó sẽ được ký kết. Vô luận thế nào, những sự kiện ở Xê-va-xtô-pôn chỉ ra rằng chế độ nô lệ cũ trong quân đội – chế độ biến người lính thành những cái máy vũ trang, biến họ thành công cụ trấn áp mọi nguyện vọng tự do, đã hoàn toàn phá sản.
Cái thời đại mà quân đội Nga vượt biên giới nước Nga để đàn áp cách mạng – như năm 1849 – đã qua không bao giờ trở lại. Ngày nay quân đội đã kiên quyết li khai hẳn với chế độ chuyên chế. Chưa phải toàn bộ quân đội đều đã trở thành cách mạng. Giác ngộ chính trị của binh lính và lính thủy còn rất thấp. Nhưng điều quan trọng là ý thức đã được thức tỉnh, binh sĩ đã bắt đầu phong trào của mình, tinh thần tự do đã thấm vào trại lính ở khắp mọi nơi. Trại lính ở Nga thường tồi tệ hơn bất cứ nhà tù nào; không ở đâu cá tính bị trấn áp và áp bức như trong trại lính; không ở đâu lại dùng nhiều nhục hình, đánh đập, lăng mạ đối với con người đến như thế. Và trại lính đó cũng đang trở thành một lò lửa cách mạng.
Những sự kiện ở Xê-va-xtô-pôn không phải đơn độc và ngẫu nhiên. Chúng ta sẽ không nói về những mưu đồ trực tiếp khởi nghĩa trước kia trong hải quân và quân đội. Chúng ta hãy so sánh những tia lửa ở Pê-téc-bua với đám cháy ở Xê-va-xtô-pôn. Chúng ta hãy nhớ lại những yêu sách mà binh sĩ trong các đơn vị quân đội ở Pê-téc-bua hiện đang đề ra (những yêu sách đó đã được đăng trong số báo ngày hôm qua của chúng ta). Bản kê những yêu sách đó là một văn kiện tuyệt diệu biết bao! Nó chỉ ra một cách rõ ràng biết bao, rằngquân đội nô lệ đang biến thành quân đội cách mạng. Hiện nay có lực lượng nào có thể cản trở được sự truyền bá những yêu sách như vậy trong toàn hải quân và lục quân không?
Những binh sĩ Pê-téc-bua muốn được cải thiện về ăn uống, áo quần, nhà ở, tăng thêm lương bổng, rút ngắn thời hạn phục vụ và thời gian tập luyện hàng ngày. Nhưng trong những yêu sách của họ thì những yêu sách khác – mà chỉ có người binh sĩ – công dân mới có thể đề ra – đã chiếm nhiều chỗ hơn. Quyền mặc quân phục đi dự mọi cuộc họp, “như mọi công dân”, quyền đọc và giữ tất cả các báo trong doanh trại, tự do tín ngưỡng, sự bình đẳng về quyền lợi của tất cả các dân tộc, xóa bỏ hoàn toàn mọi nghi thức biểu thị tôn kính cấp trên ở ngoài doanh trại, xóa bỏ lính cần vụ, xóa bỏ tòa án quân sự và giao mọi vụ án của tòa án quân sự cho tòa án dân sự phổ thông xét xử, quyền đề xuất, đệ trình những đơn khiếu nại tập thể, quyền tự vệ khi chỉ huy có bất kì một ý định nhỏ muốn đánh. Đó là những yêu sách chủ yếu nhất của binh lính Pê-téc-bua.
Những yêu sách đó chỉ rõ rằng tuyệt đại bộ phận quân đội đã đồng tình với những người khởi nghĩa Xê-va-xtô-pôn đang đấu tranh giành tự do.
Những yêu sách đó chỉ rõ rằng những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v. v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào.
Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động, biến binh lính Nga thành tôi tớ của bọn Trăm đen, thành những kẻ đồng lõa với cảnh sát. Không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh của toàn dân giành tự do. Kẻ nào có thái độ thờ ơ đối với cuộc đấu tranh ấy thì kẻ đó ủng hộ sự hoành hành của chính phủ cảnh sát, chính phủ này hứa hẹn tự do chẳng qua là để nhạo báng tự do.
Yêu sách của những binh sĩ – công dân, thực chất là yêu sách của Đảng dân chủ – xã hội, yêu sách của mọi đảng cách mạng, yêu sách của những công nhân giác ngộ. Gia nhập hàng ngũ những người đấu tranh cho tự do, chạy sang phía nhân dân, điều đó sẽ đảm bảo cho sự nghiệp của tự do thắng lợi và những yêu sách của binh sĩ được thực hiện.
Nhưng để cho những yêu sách đó được thực hiện một cách thực sự đầy đủ và vững chắc, thì còn phải tiến lên một ít nữa. Cần phải tập trung tất cả những nguyện vọng riêng biệt của những binh sĩ bị sự khổ dịch đáng nguyền rủa của chế độ trại lính đày đọa thành một đơn thỉnh nguyện hoàn chỉnh. Và những yêu sách đó được tập trung lại sẽ có nghĩa là: xóa bỏ quân đội thường trực, thay thế nó bằng vũ trang toàn dân.
Quân đội thường trực ở bất cứ đâu và trong mọi nước đều chủ yếu dùng để chống kẻ thù bên trong hơn là để dùng chống lại kẻ thù bên ngoài. Ở bất cứ đâu quân đội thường trực cũng trở thành công cụ của thế lực phản động, tôi tớ của tư bản trong cuộc đấu tranh chống lại lao động, cũng là tên đao phủ đối với tự do của nhân dân. Trong cuộc cách mạng giải phóng vĩ đại của chúng ta, chúng ta sẽ không chỉ dừng lại ở những yêu sách cục bộ. Chúng ta hãy đào bỏ tai họa tận gốc.Chúng ta hãy hoàn toàn xóa bỏ quân đội thường trực. Hãy để cho quân đội hòa vào quần chúng vũ trang, hãy để cho quân đội dạy tri thức quân sự của mình cho nhân dân, hãy xóa bỏ trại lính và thay thế nó bằng trường quân sự tự do. Không một lực lượng nào trên thế giới dám xâm phạm đến nước Nga tự do, nếu thành trì của tự do đó là nhân dân vũ trang đã xóa bỏ đẳng cấp quân sự, đã biến tất cả các binh sĩ thành công dân và đã biến tất cả mọi công dân có thể cầm súng thành binh sĩ.
Kinh nghiệm của Tây Âu đã chỉ rõ tất cả tính chất phản động của quân đội thường trực. Khoa học quân sự đã chứng minh rằng chế độ dân cảnh có thể hoàn thành nhiệm vụ quân sự cả trong chiến tranh phòng ngự lẫn trong chiến tranh tấn công. Cứ để cho giai cấp tư sản giả nhân giả nghĩa hoặc đa cảm mơ ước về giải trừ vũ trang. Khi nào trên thế giới còn người bị áp bức và bóc lột, – thì chúng ta phải thực hiện vũ trang toàn dân chứ không phải là giải trừ vũ trang. Chỉ có vũ trang toàn dân mới đảm bảo đầy đủ tự do. Chỉ có vũ trang toàn dân mới hoàn toàn đánh đổ thế lực phản động. Chỉ trong điều kiện thực hiện những cải cách đó thì hàng triệu quần chúng lao động mới thực tế được hưởng tự do chứ không phải chỉ một nhúm bọn bóc lột là có tự do.
Viết ngày 15 (28) tháng Mười một 1905
Đăng ngày 16 tháng Mười một 1905 trên báo “Đời sống mới”, số 14
Ký tên: N. Lê-nin
(Lenin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2005, T. 12, tr. 134-138)


[1] Đã có thông tin về Dự thảo 2, và cả Dự thảo 3 nhưng chưa (hay sẽ không?) công bố chính thức. Trong bài này, vẫn nói đến dự thảo đầu tiên.
[2] Đến thời điểm này, những bài mà tôi biết, là:
  1. 19/02/2013, QĐND, Trung tướng PGS, TS. Nguyễn Tiến Bình,Không có Quân đội đứng ngoài chính trị.
  2. 27/02/2013, VTV, Thu Trà [ghi ý kiến của Đại tá Bùi Quang Cường],”Phi chính trị hóa quân đội” là luận điệu phản động.
  3. 28/02/2013, QĐND, Thuý An và Thuỳ Linh, Không thể chấp nhận quan điểm “phi chính trị hoá Quân đội”.
  4. 28/02/2013, ĐCSVN, Đại tá, TS. Nguyễn Văn Quang, “Quân đội không thể và không nên trung lập” – Lịch sử đã cảnh báo.
  5. 05/03/2013, ND, Vũ Tiến Anh, “Quân đội ta trung với Ðảng, hiếu với dân…”.
  6. 14/03/2013, VNN, L. Thư [ghi ý kiến của Thiếu tướng GS. Bùi Phan Kì và TS. Cao Đức Thái], ‘Phi chính trị hóa, quân đội thành đội quân robot’ (Link bản khác tại VnExpress).
  7. 17/03/2013, TTXVN, Trung tướng PGS, TS. Tô Lâm, “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch”.
  8. 17/03/2013, QĐND, Lệ Chi – Vọng Đức, Quân đội trung lập về chính trị: Đừng mơ hồ.
  9. 18/03/2013, VOV, TS. Trương Minh Tuấn, Bản chất chính trị của quân đội nhân dân Việt Nam.
10. 24/03/2013, QĐND, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Đạo lí và lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
11. 28/03/2013, QĐND, Trung tướng Nguyễn Văn Thanh, Không thể “phi chính trị hóa” quân đội.
Và, từ trước đợt góp ý sửa đổi hiến pháp, đã có những bài tương tự:
12. 08/12/2008, QĐND, Nguyễn Ngọc Hồi, Quân đội không thể phi chính trị.
13. 04/10/2012, ND, Trung tướng, TS. Võ Tiến Trung, Phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa” trong Quân đội.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, HN. 2000, T. 11, tr. 350.
[4] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 3, tr. 507-508.
[5] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 4, tr. 239.
[6] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 4, tr. 149.
[7] Năm 1950, báo này sáp nhập với báo Quân du kích, thành báoQuân đội Nhân dân (BBT Hồ Chí Minh Toàn tập).
[8] Hồ Chí Minh: Sđd, T. 5, tr. 115.
[9] Nay là Trường Sĩ quan Lục quân I (BBT Hồ Chí Minh Toàn tập).
[10] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 5, tr. 432.
[11] Hồ Chí Minh: Sđd, T. 6, tr. 261.
[12] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 6, tr. 272-273.
[13] Hồ Chí Minh: Sđd, T. 12, tr. 293.
[14] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 5, tr. 94-95.
[15] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 7, tr. 480-482.
[16] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 11, tr. 371-375.
[17] Hồ Chí Minh: Sđd, T. 11, tr. 504.
[18] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 12, tr. 90.
[19] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 12, tr. 558.
[20] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 5, tr. IX; T. 6, tr. XI.
[21] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 4, tr. 149; T. 5, tr. 640.
[22] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 12, tr. 510.
[23] Xem: Hồ Chí Minh: Sđd, T. 12, tr. 491-506.
[24] Bản thân Marx không tuyệt đối hóa năm hình thái kinh tế xã hội khi ông từng nói đến “phương thức sản xuất châu Á” và những hình thức sở hữu khác có trong lịch sử. Về sau, việc phân kì lịch sử kiểu hình thái đã bị chính giới sử học marxist-leninist phê bình, bởi ngoài cung cách gắn chặt với các cặp giai cấp, lịch sử còn và phải được tiếp cận dưới nhiều chiều cạnh mới có thể có được cái nhìn toàn diện hơn. Xem: Marx-Engels: Tuyển tập, Nxb Sự thật, HN, 1981-1984, T. II, tr. 638; và: Guy Boudé – Hervé Martin: Các trường phái sử học, Phạm Quang Trung và Vũ Huy Phúc dịch, Viện Sử học Việt Nam, HN, 2001, tr. 368-370, 400-408.
[25] Marx-Engels: Sđd, T. III, tr. 60.
[26] Xem: Marx-Engels: Tuyển tập, Nxb Sự thật, HN, 1981-1984, T. VI, tr. 184, 251-252.
[27] Marx-Engels, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1994, T. 14, ST, tr. 11.
[28] Trường hợp Khối NATO (1948-) và Khối Warsaw (1955-1991) cũng không phải là hai quân đội của hai giai cấp, mà là hai liên minh của các quân đội quốc gia.
[29] Xem: Lương Ninh (cb): Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, HN, 1998, tr. 204-238.
[30] Xem: Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn la: Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dục, HN, 1999, tr. 45-57.
[31] Xem: Sđd, tr. 145-151.
[32] Sơ bộ, có thể đọc theo link ở đâyở đâyở đâyở đâyở đây
[33] Dẫn lại: R.J. May & Viberto Selochan (ed.): The Military and Democracy in Asia and the Pacific, ANU E Press, Canberra, 2004, p.10.
Các chính quyền quân sự ở châu Á mà tôi nhắc đến bên trên, được nghiên cứu cụ thể trong công trình này. Về trường hợp Chile, mà chính quyền quân sự để lại hệ quả thế nào và cần chuyển đổi ra sao, có thể tham khảo một chuyên luận được viết tám năm sau khi Pinochet không còn nắm quyền: Military and Politics: Weaknesses in Chilean Democracy.
[34] Lenin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2005, T. 12, tr. 136. Xem toàn văn bài Quân đội và cách mạng ở Phụ lục, cuối bài này của tôi.
[35] Theo Bill Hayton, vào thời điểm Hội nghị Trung ương 4 khóa X, “Quân đội Việt Nam nắm trong tay một công ty viễn thông, một ngân hàng, một công ty tàu biển, nhiều nhà máy dệt và cả một hệ thống nhà hàng khách sạn. Tổng cộng có gần 250 doanh nghiệp quân đội”. Hiện nay, con số này tại website của Cục Kinh tế – Bộ Quốc phòng là 109. Như vậy, việc thực hiện quyết định của Hội nghị Trung ương 4 đã được cải biên thành “tái cấu trúc” kinh tế quân đội.
[36] Những sự kiện mà tôi đọc được:
- Tháng Năm 2011, hàng ngàn hộ ở Thanh Hóa thiếu đói, chính quyền xin trợ cấp gạo, thì công an, bộ đội biên phòng và Ban chỉ huy Quân sự tỉnh diễn tập rầm rộ chống gây rối, bạo loạn.
- Tháng Tám 2011, Diễn tập khu vực phòng thủ Ninh Thuận và Vĩnh Long (Hai bản tin này gần như nhau. Chi tiết bản tin thứ hai cho thấy đây không phải là diễn tập quân sự chuyên nghiệp của quân đội, mà diễn tập có sự tham gia của quầnchúng, với mục đích trị an).
- Tháng Bảy 2012, Quân khu 7 diễn tập chống bạo loạn vũ trang lật đổ chính quyền có lực lượng nước ngoài can thiệp.
- Tháng Mười 2012, diễn tập chống bạo loạn tại Điện Biên.
- Tháng Mười một 2012, Sóc Trăng diễn tập trấn áp bạo loạn.
- Tháng Mười hai 2012, diễn tập chống bạo loạn hàng không và trấn áp biểu tình.
[37] Tài liệu sử học Việt Nam đã sớm ghi nhận như thế. Xem: Nguyễn Anh Thái (cb): Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, HN, 2000, tr. 456-457.
[38] Về nguyên thủ quốc gia, xem: Nguyễn Đăng Dung (cb): Giáo trình luật hiến pháp của các nước tư bản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, 1998, tr. 167-183. Tuyên thệ nhậm chức và vai trò của nguyên thủ đối với quân đội ở Hoa Kì, Pháp, Anh, Đức, Nhật: xem phần Phụ lục, ở hiến pháp tương ứng. Đối với nguyên thủ Nga, xem: Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An (cb): Thể chế chính trị thế giới đương đại, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003, tr. 210-214.
[39] Clinton Rossiter: Parties and politics in America, Cornell University Press,  Ithaca, N.Y., 1960.
[40] Nguyên Bộ Trưởng Quốc phòng R. Gates, trong lần dự lễ tốt nghiệp tại Học viện Hải quân Hoa Kì năm 2007, đã nói với cử tọa rằng Quốc hội, tự do báo chí và quân đội phi chính trị là những thứ cần thiết cho một đất nước tự do, để nhấn mạnh trách nhiệm báo cáo trung thực của quân đội đối với cơ quan lập pháp và trước báo giới. Qua đó có thể thấy, một quân đội phi chính trị không chỉ trực thuộc vô điều kiện vào hành pháp, mà còn phải chịu sự giám sát của lập pháp và công luận, chứ không phải dựa vào sức mạnh mà “tự trị”, xem các cơ chế xã hội khác là kẻ thù khi họ giám sát mình.
[41] H. Môm-gian: Những cột mốc của lịch sử, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, HN, 1986, tr. 192. (Bản tiếng Pháp: H. Momdjian: Les jalons de l’histoire; La doctrine Marxiste des formations économiques et sociales, Moscou: Ed. du Progrès, 1981)
[42] Những chỗ in nghiêng là LTH lưu ý.

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Ngưỡng mộ ‘đóa hồng’ Việt trong giới ngoại giao Mỹ

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (No Ratings Yet)
Kích cỡ:   
Ngưỡng mộ ‘đóa hồng’ Việt trong giới ngoại giao Mỹ
Nói tới cái tên Thảo Griffiths, không chỉ những người đã từng gặp hay được chị giúp đỡ mà kể cả những người chỉ mới được nghe kể những câu chuyện về chị cũng không thể giấu nổi lòng cảm phục với người phụ nữ giản dị nhưng đầy mạnh mẽ ấy.
Tôi may mắn được có dịp được trò chuyện với chị trong một buổi chiều cuối tuần mát mẻ tại Hà Nội, về cuộc sống, về người phụ nữ, về gia đình… Để tới khi chia tay chị, trong lòng tôi vẫn còn đọng lại những cảm xúc tuyệt vời như mình vừa được tiếp thêm sức mạnh vô hình trong cuộc đời tươi đẹp này.
Có thể giúp được ai sẽ làm hết mình
Sinh năm 1978 tại một gia đình có bố là thầy giáo dạy toán, mẹ là giáo viên dạy văn tại Hà Giang, chị và anh trai mình đã được bố mẹ quan tâm tới việc học hành ngay từ thuở nhỏ. Ấy thế nhưng ngày còn bé, cô bé Nguyễn Thu Thảo nghịch ngợm như một cậu con trai, chẳng bao giờ ở yên một chỗ.
Đến bây giờ trên người chị vẫn còn những vết sẹo mờ từ thời nghịch ngợm của tuổi thơ. Cá tính mạnh mẽ bộc lộ ra từ sớm nên ngày đó Thảo không chỉ giành được những giải thưởng về toán cấp tỉnh mà còn đã từng giành những giải cờ vua, bóng bàn.
Tốt nghiệp cấp 2, Thảo được bố mẹ hướng cho về Hà Nội, thi tuyển vào trường Chuyên Ngữ (thuộc ĐHNN – ĐHQG hiện giờ). Trúng tuyển và theo học cấp 3 tại Chuyên Ngữ, Thảo theo học lớp chọn của hệ tiếng Anh tại đây.
Có lẽ cũng chính bắt đầu từ thời gian này, ngoại ngữ bắt đầu “ngấm” vào người và ước mơ đi theo con đường ngoại giao dần hình thành trong cô học trò đến từ Hà Giang. So với các bạn khác sinh ra và sống tại Hà Nội, Thảo có những thiệt thòi và khó khăn riêng, nhưng nó đem lại cho Thảo sự tự lập và ý chí vươn lên trong mọi việc.
6.121 410x305  Ngưỡng mộ đóa hồng Việt trong giới ngoại giao Mỹ
Gia đình hạnh phúc của chị Thảo Griffiths.
Sau khi tốt nghiệp Học viện Ngoại giao và có bằng thạc sỹ về Công nghệ hệ thống tại RMIT, năm 25 tuổi, Thảo là người Việt Nam trẻ nhất nhận được học bổng Fulbright danh giá của Mỹ. Chị Thảo bảo: “Chị không muốn nói nhiều về bản thân mình nhưng nếu câu chuyện của chị có giúp ích được gì đó tới người đọc thì chị luôn sẵn sàng”.
Suốt cả buổi chiều chúng tôi chỉ ngồi nói những chuyện thường nhật, về gia đình và con cái bởi những thành tích trong công việc của chị đã có rất nhiều báo đài nhắc tới.
Đặc biệt năm 2006, với tài giải quyết công việc tài tình và những tình cảm chân thật, nhiệt tình của mình, chị Thảo đã được báo chí quốc tế nói đến nhiều lần và đặc biệt giới ngoại giao Mỹ tại Việt Nam bày tỏ lòng khâm phục cũng như yêu mến.
Sáng ngày 05/12/2006, khi vừa từ Mỹ trở về ít ngày, chị Thảo nhận được một bức thư từ một người thân thiết với gia đình viết rằng ông có một người bạn, là một nhà toán học nổi tiếng thế giới vừa gặp tai nạn ở Việt Nam, nhờ Thảo vào Bệnh viện Việt Pháp – nơi nhà toán học đang được chữa trị để lo mọi việc.
Đó là tai nạn của Giáo sư Seymour Papert, người Mỹ gốc Nam Phi, một trong những nhà toán học hàng đầu của thế giới, bị người đi đường đâm xe máy và rơi vào tình trạng hôn mê sâu.
Vụ việc này chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ, nhưng không phải ai cũng biết người đứng sau có công lớn nhất giải quyết chính là chị Thảo. Lúc ấy, chị vẫn là một người chưa có nhiều tiếng tăm hay các mối quan hệ nhưng tất cả mọi hy vọng của gia đình người bị nạn nơi xa xôi đều được đặt vào tay chị.
Nhận được email và hiểu được bản chất của những khó khăn cần giải quyết, chị Thảo sắp xếp quần áo xác định túc trực tại Bệnh viện Việt Pháp, là cầu nối giữa bệnh viện và gia đình của giáo sư cũng như là người tìm cách giải quyết những nguyện vọng của gia đình người bị nạn.
Mặc dù đã được phẫu thuật nhưng do tuổi đã cao và hôn mê sâu, tình trạng của giáo sư Papert vẫn đi theo chiều hướng xấu. Gia đình giáo sư có nguyện vọng đưa ông khi còn sống trở về đất Mỹ để nếu có chết cũng được chết trên mảnh đất quê hương.
Nguyện vọng chính đáng ấy gần như không thể thực hiện được khi gia đình cũng như các tổ chức trong và ngoài nước không tìm đâu ra một chiếc máy bay bay thẳng với trang thiết bị y tế để đưa giáo sư Papert về Mỹ.
Đúng lúc ấy, với những mối quan hệ cá nhân và tài ngoại giao cũng như sự linh hoạt của mình, chị Thảo đã thực hiện được nguyện vọng của gia đình giáo sư khi tìm được chiếc máy bay đáp ứng được yêu cầu và đứng ra lo các thủ tục cho chuyến bay thuận lợi.
Mặc dù được nhờ cậy với tư cách cá nhân, sự hết lòng và khả năng giải quyết mọi việc khéo léo của chị đều để lại sự trân trọng và yêu quý không chỉ của gia đình giáo sư Papert mà còn ở cả làng ngoại giao tại Hà Nội, nhất là cộng đồng chính khách Mỹ ở Việt Nam.
Sau này, sự nhiệt tình, hết mình và chân thành luôn được thể hiện trong công việc của chị. Là trưởng đại diện Quỹ cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF), một tổ chức phi chính phủ đầu tiên trở lại Việt Nam sau chiến tranh, chị Thảo đã chứng tỏ được năng lực và sự tin tưởng của chủ tịch VVAF dành cho mình.
Không phụ lòng mong đợi của mình, chị đã có rất nhiều hoạt động và thành tích trong việc kéo gần thêm mối quan hệ Việt – Mỹ, cũng như các dự án nhân đạo và giải quyết hậu quả chiến tranh.
Không chỉ trong những vấn đề của công việc, dù bận rộn và kín mít lịch, nhưng ai có việc gì cần tới sự giúp đỡ của mình, chị Thảo vẫn sắp xếp trong khả năng để giúp đỡ. Năm 2008, Đài Truyền hình Việt Nam đã đưa chị đến gần hơn với tất cả mọi người trên cả nước qua chương trình Người đương thời.
Sau chương trình ấy, chị nhận được rất nhiều thư từ khắp cả nước. Từ những người nông dân muốn tìm con đường đi lên tốt đẹp hơn tới cô gái trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam từ trong bụng mẹ tìm những sức mạnh sống mới vượt lên số phận.
Dù không có thời gian trả lời hết tất cả thư của mọi người nhưng thấy ai cần mà mình có câu trả lời chị đều viết thư lại. Có thư chị hồi âm còn dài hơn gấp nhiều lần thư của người gửi. Có người từng nói bất cứ ai gặp Thảo cũng tìm thấy được một điều gì đó thú vị để yêu mến trong con người chị. Tôi cũng là một trong số đó.
Cuộc đời cho tôi quá nhiều may mắn
6.214 352x410  Ngưỡng mộ đóa hồng Việt trong giới ngoại giao Mỹ
Chị Thảo Griffiths.
Tính đến nay, cuộc đời anh và chị đã gắn bó với nhau 16 năm, kể từ khi chị Thảo còn là cô sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Ngoại giao Hà Nội. Năm đó là năm 1996, là sinh viên ngành quan hệ quốc tế, chị và các bạn bè của mình có nhiều dịp giao lưu kết bạn với các bạn quốc tế tại Việt Nam.
Một lần, trong dịp đèo cô bạn gái người nước ngoài về, cô bạn ngỏ ý muốn giới thiệu cho chị một anh chàng người Úc mà cô ấy để ý và rất quý mến. Chị Thảo vui vẻ ở lại chơi với bạn mà không ngờ rằng đó cũng là ngày chị được gặp một nửa của mình.
Sự xuất hiện của Thảo trong khu lưu học sinh quốc tế hôm ấy ngay lập tức thu hút sự chú ý của Patrick và dần dần câu chuyện giữa hai người trở nên vui vẻ và sôi nổi bất ngờ một cách tự nhiên. Patrick là sinh viên người Úc sang Việt Nam trong chương trình trao đổi sinh viên quốc tế.
Đúng ra anh chỉ ở Việt Nam trong 3 tháng, nhưng vì mối quan hệ với Thảo diễn ra một cách tự nhiên và tốt đẹp, anh xin được ở lại thêm 3 tháng nữa. Nhưng rồi 3 tháng đó cũng trôi qua nhanh chóng, Patrick trở về nước và hai người cũng chẳng xác định điều gì bởi đường xá quá xa xôi mà thời gian hai người ở bên nhau chưa phải là dài.
Ấy thế nhưng khi Patrick về nước, những bức thư tay anh gửi cho Thảo hàng ngày khiến chị nhận ra tình cảm nhớ nhung thật sự trong trái tim mình.
Chẳng bao lâu sau Patrick cũng sắp xếp công việc sang lại Việt Nam để tiếp tục nghiên cứu và làm việc, một phần vì rất yêu mến đất nước Việt Nam, hơn nữa là để có điều kiện ở gần người con gái mà anh yêu nhiều hơn.
Vượt qua khoảng cách địa lý nhưng không phải tất cả mọi chuyện trong tình cảm của Patrick và Thảo đều suôn sẻ, nhất là khi ấy việc một cô gái Việt Nam đi ra đường cùng với “một ông Tây” luôn thu hút những ánh mắt hiếu kỳ của mọi người.
Bố mẹ chị mặc dù là người có tư tưởng hiện đại nhưng những ngày đầu Thảo dẫn Patrick về giới thiệu cùng gia đình, chuyện tình cảm của hai anh chị đã không được ủng hộ. Tôn trọng quyết định của con cái nên bố mẹ của chị Thảo không phản đối, cấm đoán gay gắt.
Patrick đến nhà chơi ông bà cũng không thể hiện điều gì nhưng trong nhà, người con trai đầu đã đi học ở nước ngoài xa xôi, đặc biệt là mẹ chị đều không khỏi lo lắng khi nghĩ tới việc cô con gái út cũng đi lấy một người chồng nước ngoài.
Sự lo lắng, không ủng hộ ấy không dữ dội nhưng nó cũng diễn ra âm thầm dai dẳng tới 3 năm. Chỉ tới khi Thảo tốt nghiệp đại học và thấy tình cảm của hai con vẫn luôn gắn bó, tốt đẹp, thấy Patrick là người tốt, biết quan tâm ủng hộ con gái mình, cha mẹ của chị mới chấp nhận.
Đối với bất cứ ai là sinh viên theo ngành Ngoại giao, Bộ Ngoại giao hay các bộ phận quan hệ quốc tế khác ở các cơ quan nhà nước luôn là mục tiêu phấn đấu không chỉ của riêng mình mà còn là niềm hi vọng, niềm tự hào của cha mẹ.
Thế nhưng việc quan hệ với một người nước ngoài, đặc biệt việc kết hôn với một người nước ngoài sẽ là việc đóng lại cánh cửa bước vào Bộ Ngoại giao của chị.
Có thể không vào được Bộ Ngoại giao nhưng còn có rất nhiều con đường khác để mình lựa chọn – chị Thảo đã nhận ra điều đó. Và tới tận bây giờ chị luôn thấy mình đã đúng khi lựa chọn con đường mình đang đi.
Patrick không chỉ là người chồng chị, là người cha của các con chị mà anh còn là một người bạn tâm giao như thuở nào. Việc lớn nhỏ gì anh đều là người ở bên cạnh, giúp đỡ, cổ vũ và động viên chị. Có việc gì khúc mắc chị cũng muốn trao đổi với anh.
Anh hơn chị đúng 1 giáp nên không những chị rất thích được nghe lời góp ý của anh mà còn bởi chẳng ai hiểu chị như anh cả. Mặc dù rất quan tâm và giúp đỡ chị trong mọi việc nhưng Patrick không bao giờ can thiệp vào công việc của chị.
Bên cạnh chị không chỉ có chồng mà còn có bố mẹ và những người thân thiết luôn giúp đỡ. Khi chị bận bịu công việc, đi công tác xa hoặc những buổi bận tiếp các đoàn khách chuyên gia trong tuần, ông bà ngoại là người giúp chị chăm sóc hai đứa con bé bỏng dễ thương của mình.
Đối với bố mẹ chị, việc chăm các cháu không chỉ là niềm vui mà cũng là một cách ủng hộ con gái trong cuộc sống. Ông bà cũng rất vui mừng vì những gì con gái mình đang theo đuổi và cố gắng vì nó.
Cuộc sống đặc biệt của người phụ nữ đặc biệt
Chị Thảo thừa nhận rằng bởi vì tính chất công việc ở nước ngoài rất nhiều nên mỗi lần về với Hà Nội chị mới cảm nhận được hết cái đẹp và cuộc sống tinh thần phong phú mà không ở đâu chị có được tại nơi đây.
Ở Hà Nội có bố mẹ, bạn bè và những người thân thiết của chị, có những con đường rợp bóng cây và những ngày cuối tuần yên bình bên các thiên thần nhỏ. Và cũng giống thế, công việc hàng ngày bận rộn lại khiến chị cảm nhận hết được tình cảm và sự quý giá của những phút giây dành cho gia đình mình.
Những ngày trong tuần của chị bận vô cùng với việc điều hành nhân viên, lên kế hoạch và triển khai các dự án cùng với việc tiếp đón các đoàn khách, chuyện gia nước ngoài liên tục. Chị thường dậy từ rất sớm, mở mắt ra dù mới chỉ là 5 giờ sáng chị cũng tới ngay cơ quan để giải quyết công việc.
Công việc nhiều, giữa Việt Nam và Mỹ lại lệch múi giờ nên nếu không tranh thủ giải quyết sẽ không thể làm hết việc trong ngày. Thế nhưng nếu đã dậy sớm đi làm thì chị luôn cố gắng sẽ về ăn bữa tối cùng gia đình.
Hôm nào biết lịch làm việc phải kéo dài tới tối muộn chị sẽ sắp xếp ăn bữa sáng cùng chồng và các con rồi mới bước ra khỏi nhà. Cuối tuần nếu sắp xếp được chị sẽ để công việc sang một bên và dành toàn bộ thời gian vui chơi cùng gia đình, đặc biệt là hai con của mình.
Bởi chính khoảng thời gian ấy, được chơi đùa cùng con, cùng trò chuyện và lắng nghe những suy nghĩ của trẻ thơ, tâm hồn chị như được hồi sinh và tươi mới hơn rất nhiều. Để rồi đến ngày thứ 2 đầu tuần, ngồi vào bàn làm việc, chị lại có những năng lượng mới tràn trề và mạnh mẽ.
Nói như vậy không phải lúc nào chị Thảo cũng thấy những khó khăn đều là chuyện nhỏ. Chị bảo không bao giờ chị nhìn nhận cuộc đời toàn màu hồng. Nó luôn tồn tại những khó khăn, những thử thách trước mắt, nhưng nó là một phần của cuộc sống.
Điều quan trọng là phải biết tìm cách giải quyết và biết chấp nhận kể cả những hi sinh. Chị Thảo tiết lộ chị sắp đưa con sang Úc đoàn tụ với Patrick bởi 3 năm gần đây Patrick làm việc và sống ở Úc.
Có thể nhiều người sẽ rất ngạc nhiên rằng tại sao một gia đình bình thường lại có thể mỗi người một nơi như vậy nhưng chưa bao giờ khoảng cách về địa lý lại là điều quá quan trọng ảnh hưởng tới hạnh phúc và mối quan hệ trong gia đình chị.
Chị có công việc yêu thích của mình tại Hà Nội và chị hiểu Patrick cũng có gia đình, có công việc, bạn bè tại Úc. Anh đã vì chị sống xa quê hương một thời gian dài và cũng có lúc, một phần vì công việc, anh cũng muốn trở lại Úc.
Hai vợ chồng đã bàn bạc và chuẩn bị một cách kỹ lưỡng về việc mỗi người ở một nơi như vậy trước khi anh trở về. Anh cũng biết công việc hiện nay của chị là công việc chị vô cùng yêu thích và anh không bao giờ bắt vợ phải từ bỏ những gì mình làm để theo chồng.
Trong suốt hơn chục năm là vợ chồng cũng đã có nhiều khoảng thời gian anh đi đi về về như vậy và có dịp là cả nhà lại đoàn tụ với nhau ở cùng một nơi.
Tôi hỏi chị liệu sống mỗi người một nơi như vậy có ai “dọa” chị rằng anh làm gì liệu chị có kiểm soát nổi không, thì chị cười và trả lời: “Có chứ, nhiều là đằng khác”, nhưng chị chẳng có ý định “kiểm soát” từng giây từng phút của chồng mình bởi điều quan trọng là sự tin tưởng và đặc biệt là sự quan tâm giữa hai người vợ chồng với nhau.
Từ trước tới nay anh Patrick luôn là người ủng hộ chị trong quá trình phấn đấu công tác và bây giờ vẫn vậy. Nhiều người chồng không muốn vợ học quá cao để có thời gian nhiều hơn cho gia đình nhưng ở gia đình chị thì ngược lại.
Patrick luôn là người động viên, thậm chí thuyết phục chị học lên bằng Tiến sĩ. Năm nay chị quyết định nộp đơn và được 2 trường danh giá ở Mỹ và Úc nhận vào và chị đã chọn theo học ở Úc mặc dù các điều kiện không tốt như ở Mỹ nhưng điều quan trọng là như thế gia đình chị sẽ được đoàn tụ trong một khoảng thời gian trước mắt.
Cuộc sống của hai vợ chồng đều gắn liền với những chuyến đi ở nhiều nước khác nhau nhưng anh Patrick luôn tin tưởng rằng người vợ thương yêu của mình sẽ luôn tự biết dung hòa công việc và cuộc sống của mình một cách tốt nhất.
Chị Thảo là người dẫn và trực tiếp hỏi chuyện bà ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khi bà tới giao lưu cùng các sinh viên Đại học Ngoại thương trong vài giờ ngắn ngủi ghé thăm ngày 10/7 nên chị đã tìm đọc rất nhiều tài liệu về bà.
Càng hiểu thêm về bà, chị càng thấy khâm phục tài năng ý chí cũng như đức hi sinh của bà ngoại trưởng Clinton cũng như háo hức được gặp và trò chuyện với bà. Chị bảo là người phụ nữ sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi trong công việc cũng như các quá trình phấn đấu, thăng tiến.
Chị yêu công việc vô cùng nhưng nếu được sinh ra một lần nữa chị vẫn muốn là một người phụ nữ, tất nhiên nếu vẫn được nhận những may mắn, sự thấu hiểu và yêu thương từ những người thân yêu như bây giờ.
Câu chuyện với chị cứ như một dòng chảy nhẹ nhàng mà thú vị khiến tôi không muốn dứt nhưng cũng đành xin phép đứng dậy để nhường thời gian cuối tuần cho ba mẹ con và các bạn.
Chị tiết lộ buổi trưa nay chị và các bạn đã thết đãi con và các bạn của Liam tới chơi một bữa ăn vui vẻ tại nhà trước khi tới địa điểm chúng tôi gặp nhau. Có thể ngày mai, khi bước tới cơ quan, chị là một trưởng đại diện khéo léo, quyết đoán và bận rộn điều hành hơn chục nhân viên với những công việc giải quyết trơn tru.
Nhưng đó là việc của ngày mai. Còn giờ đây khi đứng trước gia đình, ánh mắt chị ánh lên rạng ngời long lanh mà bình yên vô cùng – ánh mắt của một người phụ nữ đang chạm tay vào hạnh phúc.
Theo Phunutoday

Thông tin thêm về đồng chí Hồ Đức Việt

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ hai, ngày 22 tháng tư năm 2013

Đồng chí Hồ Đức Việt

Đại hội lần thứ 11 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khép lại hôm 19/1 với kết quả không nằm ngoài dự kiến của các kênh thông tin không chính thống trước đại hội. Trong không khí hân hoan vui sướng khi Đại hội được tổ chức thành công rực rỡ như tuyên truyền của giới truyền thông trong nước, và trong tâm trạng vui sướng của rất nhiều đồng chí tái đắc cử và trúng cử thì cũng có không ít người phiền muộn, u uất. 

Trong bài viết lần trước, Dongsongxanh đã đề cập tới khả năng thất cử của đồng chí Hồ Đức Việt, và lần này sẽ nói rõ hơn về lý do ra đi của đồng chí.

Có lẽ cũng không quá lời khi nói rằng, trong số 6 ủy viên BCT khóa X ra đi vì các lý do khác nhau thì trường hợp của Hồ Đức Việt là đặc biệt nhất và đau đớn nhất. Ai cũng biết với chức danh Trưởng Ban tổ chức trung ương Đảng, Hồ Đức Việt có vai trò vô cùng quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn lao đối với công tác nhân sự và tổ chức bộ máy hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng chính vì vị trí nhạy cảm này mà mỗi động thái của Hồ Đức Việt đều có thể khiến cho khối kẻ mất ăn mất ngủ và cũng chính vì thế mà mỗi quyết định và hành động của Hồ Đức Việt đều khiến sinh mệnh chính trị của mình tiếp tục tồn tại hay chấm dứt.

Trở lại hội nghị trung ương lần thứ 14 của ĐCS Việt Nam, là hội nghị có ý nghĩa quyết định tới vấn đề nhân sự ĐHĐ lần thứ 11 được nhiều người quan tâm. Tại hội nghị này Hồ Đức Việt với tư cách Trưởng Ban Tổ chức đã đưa ra danh sách dự kiến các ủy viên trung ương khóa tới để trình hội nghị thảo luận và quyết định. Bản danh sách nhân sự này chính là bó đuốc châm lửa cho cuộc chiến quyền lực giữa các phe phái trở nên nóng bỏng. Những tưởng mọi dự định và sắp xếp nhân sự của Bộ Chính trị khóa 10 đã cơ bản đầy đủ và sẽ được thông qua tại hội nghị lần thứ 14, thế nhưng với bản danh sách mới đã khiến cho không ít người tại Hội nghị ngã ngửa vì bất ngờ. Các ủy viên trung ương bất ngờ không phải vì cách làm khoa học, dân chủ về cách thức lựa chọn ứng viên, mà bất ngờ vì một bản danh sách nằm ngoài dự kiến với việc bổ sung nhân sự trung ương và địa phương theo phe cánh của Hồ Đức Việt và loại bỏ những ứng viên đã từng được BCT dự kiến đưa vào, trong đó phải kể tới nhân vật Nông Quốc Tuấn, Bí thư tỉnh ủy Bắc Giang, và là con trai của đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Việc thay đổi bất ngờ này khiến cho Hội nghị lần thứ 14 không thể kết thúc để tiến tới Đại hội mà phải kéo dài tới Hội nghị lần thứ 15 để chốt lại danh sách cuối cùng. Chính cách làm này của Việt đã khiến cho không ít ủy viên BCT nổi giận. Đây chính là giọt nước tràn ly cuối cùng mà BCT ĐCS Việt Nam mất hết khả năng chịu đựng khi đã tạm thời bỏ qua các lỗi lầm trước đó của Việt.

Và khi đã không chịu đựng nổi thì những lỗi lầm trước đó cũng sẽ phải được đề cập lại để nhắc cho Việt biết rằng mọi sự việc đều có giới hạn chịu đựng của nó, dù cho Việt có là ai, có cùng chiến tuyến và có là quan chức cấp cao tới đâu đi nữa.

Có lẽ Hồ Đức Việt còn thiếu kinh nghiệm sống và sự từng trải ở đời nên trong cuộc sống và công việc không tránh khỏi những va vấp xương máu phải trả giá đắt. Khi quan chức đã lên tới tột đỉnh quyền lực thì thường nảy sinh thói kiêu ngạo, xa hoa và trụy lạc. Trường hợp này có lẽ ứng vào với Việt. Trong chuyến đi công tác thăm người anh em Trung Hoa và thăm xứ sở hoa anh đào với tư cách Chủ tịch Hội nghị sĩ hữu nghị Việt- Nhật năm vừa qua, với sự thu xếp bố trí chu đáo của đám đàn em phục vụ cấp dưới, Hồ Đức Việt đã được bố trí ăn chơi trác táng với các mỹ nhân của hai nước này. 

Việc ăn chơi có lẽ không lạ gì với đám doanh nhân hoặc quan chức Việt Nam mỗi khi xuất ngoại, tuy vậy, với trường hợp của Hồ Đức Việt sự khác nhau ở chỗ: là ủy viên BCT, đảng luôn luôn quan tâm và bảo vệ các đồng chí của mình. Bởi thế mới sinh ra cái gọi là Ban bảo vệ chính trị nội bộ. Mục đích chính đương nhiên là bảo vệ các đồng chí cán bộ cấp cao, tuy thế, đằng sau đó còn có mục đích sâu xa nữa là tìm hiểu và quan tâm tới những hành động và tư tưởng của các đồng chí có xa rời con đường của đảng hay không. Ban này có quan hệ mật thiết với bên Tổng cục tình báo của Bộ Quốc phòng và Tổng cục an ninh Bộ Công an. Nhất cử nhất động của các yếu nhân đều nằm trong tầm ngắm của mấy đơn vị này. Bởi vậy trong trường hợp của đồng chí Việt ăn chơi trác táng ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng không lọt khỏi tai mắt của các nhân viên mật đó, vậy là hình ảnh, tang chứng vật chứng trong mỗi lần hành sự của đồng chí đều nằm trong ngăn kéo của Ban này. Những chứng cứ đó không nhất thiết phải đưa ra xử lý kỷ luật ai cả, nó chỉ việc nằm im như một vết mờ trong tâm khảm đen tối của các đồng chí. Chỉ khi nào nhân vật đó gây tổn hại cho chế độ và lợi ích của đảng thì mới cần trưng dụng để sử dụng. Vì thực tế, nếu nói chỉ có một đồng chí Việt có những hành động tai tiếng đó thì phát biểu trên là không toàn diện, và nói như Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng rằng nếu xử lý kỷ luật hết những đồng chí vi phạm thì còn đâu cán bộ làm việc. Đó mới chỉ là lý do thứ nhất.

Lại nói về phu nhân của đồng chí Việt, là một nữ tiến sĩ khoa học trẻ trung và hiện đại. Nhưng có lẽ ở đất nước Việt Nam dưới thời cộng sản thì mọi giá trị khoa học chưa chắc đã cần cho thực tế bằng những giá trị tâm linh huyền ảo với những sức mạnh to lớn vô hình. Và như đa số nhân dân từng chứng kiến và chứng thực bằng các ví dụ trước đây, các vị quan chức cộng sản hình như địa vị càng cao thì lại càng sùng bái thánh thần, cho dù ý thức hệ cộng sản mà chế độ này đang áp dụng tại Việt Nam đã từng có thời kỳ áp đặt lên tư tưởng mỗi đảng viên bằng cách tẩy não sự vô thần vô thánh và thay vào đó là hình ảnh của Mác, Lê nin trong đầu. Và trong trường hợp này hoàn toàn đúng với vợ chồng đồng chí Hồ Đức Việt. Chồng mê tín một thì vợ mê tín mười. Trước khi khai mạc ĐHĐ 11 khá lâu, để bảo vệ cho cái ghế của mình, hai vợ chồng ngoài việc liên tục củng cố các mối quan hệ truyền thống, cùng với đám quân sư đã nghĩ ra mọi biện pháp và cách thức kỳ lạ nhất có thể được để giữ vững cái gọi là long mạch phát tích quan lộ.

Trên nền tảng của việc tôn sùng phong thủy Trung Hoa sẵn có trong đầu, theo lời khuyên của một thày địa lý khá có tên tuổi hiện nay, hai vợ chồng rước thày về tận Hải Phòng để yểm bùa các đối thủ nặng ký trong cuộc đua tranh giành quyền lực sắp tới với mục đích nếu leo lên được ghế Chủ tịch Quốc hội thì tốt, còn không chí ít vẫn phải nắm chắc chiếc ghế tổ chức nhân sự của Đảng. Vậy là hai vợ chồng quyết định mời thày yểm bùa Tô Huy Rứa và Phạm Quang Nghị trong đám ủy viên BCT khóa 10, ngăn chặn bằng tâm linh hai nhân vậy có khả năng ảnh hưởng tới cuộc đua quyền lực sắp tới.

Những tưởng thành công nắm chắc trong tay khi hai vợ chồng đồng chí sẽ chuyển từ căn biệt thự cá nhân tại Ngõ Vĩnh Hồ, phố Thái Thịnh, Hà Nội tới tòa biệt thư công vụ số 57 Phan Đình Phùng, Hà Nội như thông báo bố trí của Văn phòng trung ương đảng. Và để thêm phần chắc ăn theo chỉ dẫn phong thủy, phu nhân của đồng chí Hồ Đức Việt còn định mạnh tay chặt cả phần cây cối bên nhà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vươn sang phần nhà công vụ dự kiến phân cho mình. Tiếc thay, điểm thắt nút của mọi vấn đề đã được giải quyết tại Hội nghị trung ương 15 với kết quả ra đi đầy đau xót của đồng chí Hồ Đức Việt sau tất cả những hành động tai tiếng và kỳ quái của đồng chí. Theo tiết lộ của một nhân vật tổng cục 5 tham dự hội nghị, ngay tại Hội nghị 14 khi họp thảo luận nhân sự, Hồ Đức Việt được miêu tả “nhảy như choi choi” giữa hội nghị khi dự kiến nhân sự đưa ra gặp phải sự phản bác mạnh mẽ của các đại biểu.

Cũng bởi sự phản bác mạnh mẽ và cảm nhận mối nguy cơ bị loại bỏ khỏi cuộc chơi khi không còn sự ủng hộ của các thành viên BCT, vợ chồng đồng chí Việt lại tiến hành một hành động xoay chuyển cuối cùng dựa vào tâm linh. Đó là ngay trong ngày 21/12, phu nhân đồng chí đã điều động một tổ công nhân của công ty công viên cây xanh với đầy đủ phương tiện máy móc cơ giới hiện đại đến nhà riêng tại ngõ Vĩnh Hồ để bứng hết tận gốc loạt cây cau cao tới 15m trồng trước sân nhà với điều kiện bốc rời đi ngay trong buổi sáng không được chậm trễ cho kịp giờ thiêng, đồng thời xoay chuyển lại hướng bếp. Thay thế loạt cau lưu liên kia sẽ là nhóm cây Hòe với hy vọng còn nước còn tát nhằm giữ cho được cái ghế tổ chức nhân sự của Đảng.

Tiếc thay, như chúng ta biết, việc gì đến tất sẽ phải đến, chọc giận các đồng chí khác là việc không nên làm, nhất là chơi đồng chí Tổng và dùng quỉ kế để yểm bùa tâm linh người khác. Đó là hành động xấu chơi không thể chấp nhận đối với đồng đội. Việc trừng phạt tất phải xảy ra cho dù có cầu viện tới thánh thần để đạt dụng ý xấu.

Kết quả là hình ảnh đồng chí Hồ Đức Việt xuất hiện trên các phương tiện truyền thông với hình hài tiều tụy và vẻ mặt hốc hác khó tin, đứng trên đoàn Chủ tịch phát biểu với đôi vai thòng trễ xuống như một dấu hiệu thừa nhận sự thất bại. Nếu ai tinh ý sẽ nhận thấy chiếc ghế trống của đồng chí vào buổi sáng hôm thứ Tư (12/1). Có lẽ do bởi đồng chí vẫn chưa hết sốc với những gì xảy đến cho mình chăng.

Thắng bại là chuyện thường tình ở đời, trong mỗi cuộc đua tranh luôn có người thắng và kẻ thua cuộc. Tuy vậy, tranh đua là để tìm ra người giỏi hơn và điều đó chỉ có ý nghĩa khi đó là cuộc đua tranh được tổ chức một cách công bằng và trên tinh thần thi đấu cao thượng. Hãy sống sao cho khi thất bại vẫn cảm thấy thanh tâm an lạc vì những điều mình làm hoàn toàn không vướng bận chút màu đen tối ô trọc. Vậy xin nhắc lại câu nói của tiền nhân để mỗi người chúng ta suy ngẫm và bình xét, bất kể người đó là ai, đặc biệt là những người có tầm ảnh hưởng lớn lao đối với vận mệnh dân tộc: “Dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân, tiên chánh kỳ tâm”.

(Blog Dòng Sông Xanh)

Thông tin trên đây chúng tôi không có điều kiện kiểm chứng, do vậy xin độc giả tham khảo với sự dè dặt cần thiết.  

----------------
* Ghi chú: Ông Hồ Đức Việt (1947-) là một chính khách Việt Nam. Ông từng là Tiến sĩ Toán lý, nguyên giảng viên - Phó Trưởng khoa Toán - Cơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó tham gia công tác Đoàn Thanh niên, nguyên Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn THCS HCM, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Ông sinh ngày 13 tháng 8 năm 1947, quê tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông là con trai út của nhà cách mạng, liệt sĩ Hồ Mỹ Xuyên (nguyên Phó bí thư tỉnh ủy Nghệ An), cháu nội của nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu.

Suốt thời phổ thông, học tại trường huyện, ông có tiếng là một học sinh giỏi và thường giữ vị trí số một trong cả 2 môn Văn và Toán của lớp, của trường. Thành tích học tập nổi trội so với các bạn cùng trang lứa của ông đã được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An bấy giờ phát động phong trào "Học tập, đuổi kịp và vượt Hồ Đức Việt".[1]

Năm 1965, ông được cử đi du học đại học chuyên ngành Toán - Lý tại Trường Đại học Tổng hợp Karlova ở Praha (Univerzita Karlova v Praze), Tiệp Khắc. Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 19 tháng 10 năm 1967, và trở thành đảng viên chính thức từ ngày 19 tháng 10 năm 1968 tại Tiệp Khắc. Năm 1974, ông bảo vệ thành công xuất sắc luận án Phó tiến sĩ chuyên ngành Toán - Lý.

Năm 1975, ông về nước và trở thành giảng viên Khoa Toán - Cơ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1976, ông được cử làm Phó bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1979, ông được bổ nhiệm làm Phó trưởng khoa Toán - Cơ.
Công tác Đoàn Thanh niên

Đầu năm 1980, ông được cử làm Phó bí thư Thành Đoàn Hà Nội. Cuối năm đó, ông được cử làm thực tập sinh cao cấp tại Paris (Pháp), làm Trưởng đoàn lưu học sinh vùng Paris.

Năm 1983, ông về nước, được cử làm phó Bí thư thường trực Thành đoàn Hà Nội. Năm 1984, ông trúng cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa IV. Năm 1992, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khóa VI, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII.

Năm 1996, ông được tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được phân công giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh.

Năm 1998, ông được giao giữ chức vụ Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng.

Năm 1999, là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên.

Từ ngày 8 tháng 8 năm 2001 đến ngày 15 tháng 1 năm 2003, ông còn kiêm nhiệm chức Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.

Năm 2002, ông là Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Tháng 4 năm 2006, ông tái đắc cử vào Ban Chấp hành Trung ương; được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Tháng 5 năm 2006, theo quyết định số 02- QĐNS/TW của Bộ Chính trị, do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh ký, ông được phân công giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng (thay ông Trần Đình Hoan). Từ tháng 8 năm 2006, ông được cử làm Bí thư Trung ương Đảng thay ông Phạm Quang Nghị.

Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (12-19/01/2011), ông không tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế nhiệm ông trong chức Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương là ông Tô Huy Rứa, nguyên Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương. 

Chuẩn bị tốt, sẽ đưa Luật Biểu tình vào chương trình

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 06 tháng sáu năm 2013

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu phát biểu tại phiên thảo luận chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, sáng qua (5/6).

ĐB Trương Trọng Nghĩa phát biểu ý kiến. Ảnh: hồng Vĩnh
ĐB Trương Trọng Nghĩa phát biểu ý kiến. Ảnh: Hồng Vĩnh.
Phó Chủ tịch Quốc hội nói, Luật Biểu tình, Luật Lập hội, Luật Trưng cầu ý dân, nhiều ĐBQH đề nghị phải đưa ngay vào năm 2014 để chuẩn bị. Trong Báo cáo giải trình bước đầu tiếp thu ý kiến thảo luận ở tổ vào chiều ngày 24/5 vừa rồi, Thường vụ Quốc hội dự kiến, đây là những dự án đã có trong Chương trình khóa XIII.

“Những dự án luật này là cần thiết để thể chế hóa quy định tại Chương II quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân (Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 - PV). Vấn đề ở chỗ, bây giờ chúng ta phải chuẩn bị, lúc nào chuẩn bị tốt thì chúng ta đưa luôn vào năm đó” - Phó Chủ tịch Quốc hội nói.

Nợ dân 68 năm rồi

ĐB Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) cho rằng, chúng ta đang băn khoăn là có thể có mâu thuẫn ở đây, tức là có sự lợi dụng quyền biểu tình để làm mất an ninh trật tự, xã hội, thậm chí vận động chống Đảng, chống Nhà nước, với một bên là quyền hiến định của nhân dân và nhu cầu của người dân trong một xã hội ngày càng phát triển, một xã hội dân chủ.

“Tôi tin rằng, chính Luật Biểu tình giải quyết được mâu thuẫn này, tức là sẽ ngăn chặn, đề phòng và chống được việc lạm dụng gây mất trật tự an ninh xã hội. Thậm chí là những hành vi xấu chống lại chế độ, và đáp ứng được quyền hiến định của nhân dân” - ĐB Nghĩa khẳng định.

Theo ĐB Nghĩa, không nên nói nhiều về việc cần hay không cần vì không phải Thủ tướng, Chính phủ không nghiên cứu kỹ khi đưa ra điều này (Luật Biểu tình - PV), không phải ngẫu nhiên đa số ĐBQH đã biểu quyết đưa vào chương trình xây dựng luật Khoá XIII.

“Ngay từ năm 1945, hoàn cảnh đất nước thù trong, giặc ngoài, chính quyền còn trong trứng nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không bãi bỏ quyền biểu tình mà chỉ yêu cầu báo trước 24 tiếng. Không có lý do gì mà phải lại không tin tưởng ở chúng ta, mà chúng ta ngại rằng có thể những kẻ lợi dụng và phá hoại điều này” - ĐB Nghĩa nói.

ĐB Hoàng Hữu Phước, người từng đề nghị QH bỏ Luật Biểu tình khỏi chương trình làm luật của QH trước đây, cũng khẳng định một đất nước dân chủ, tự do phải có những đạo luật để điều chỉnh sinh hoạt dân chủ, tự do của người dân và không thể không có Luật Biểu tình, nhưng cũng không có lý do gì nôn nóng.

Tuy nhiên, ĐB Lê Nam (Thanh Hóa) kiến nghị, nên sớm có Luật Biểu tình, bởi chúng ta đã “nợ” dân Luật Biểu tình trong suốt 68 năm qua (kể từ khi Hiến pháp 1946 hiến định quyền biểu tình).

Luật chưa bám sát cuộc sống

 “Ngay từ năm 1945, hoàn cảnh đất nước thù trong, giặc ngoài, chính quyền còn trong trứng nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không bãi bỏ quyền biểu tình mà chỉ yêu cầu báo trước 24 tiếng. Không có lý do gì mà không tin tưởng ở chúng ta, mà chúng ta ngại rằng có thể những kẻ lợi dụng và phá hoại điều này”. 

ĐB Trương Trọng Nghĩa

Bàn về chương trình làm luật của Quốc hội, ĐB Trần Du Lịch (TPHCM) nhận xét, chúng ta chưa bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tái cơ cấu kinh tế. “Các chính sách của Đảng, mà không luật hóa thì không thể nào đi vào cuộc sống” - Ông Lịch lo ngại và nêu ví dụ: Để gỡ thị trường bất động sản, kỳ họp tới đây nên sửa ngay Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản, không nên rải ra mỗi kỳ một luật. Tương tự, muốn cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phải nhanh chóng sửa Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản...
Tình trạng làm luật hiện nay, nói như ĐB Lê Thanh Vân (Hải Phòng), là còn thiếu tập trung, tùy tiện điều chỉnh, đưa ra, đưa vào. Để khắc phục, sau khi Hiến pháp được thông qua, cần xúc tiến chiến lược lập pháp tương xứng trong khoảng 20 năm tới.

Một số ĐB cho rằng, có tâm lý cán bộ công chức không thực hiện theo luật mà cứ ngồi chờ nghị định, thông tư. Dẫn đến nhiều điều luật rất chi tiết, không được thực hiện. “Đây là vấn đề cần phải khắc phục trong việc chấp hành thực hiện luật; đồng thời, Quốc hội cũng nên cố gắng làm luật thật chi tiết, để đỡ hướng dẫn, có hiệu lực thực hiện ngay” - ĐB Phạm Đức Châu (Quảng Trị) phát biểu.

Nguyễn Tuấn

(Tienphong)
http://www.tintuchangngayonline.com/2013/06/chuan-bi-tot-se-ua-luat-bieu-tinh-vao.html

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết bật mí "những chuyện về anh Hồ Đức Việt"

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 06 tháng sáu năm 2013

Từng có 5 năm làm việc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ông Hồ Đức Việt ở Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (2002-2007), GS.TS Nguyễn Minh Thuyết đã dành cho Infonet cuộc trò chuyện về vị lãnh đạo của mình.

GS.Nguyễn Minh Thuyết: "Anh Việt có tầm nhìn xa. Có lẽ tư duy của một tiến sĩ Toán học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều năm hoạt động chính trị đã tạo nên ở anh khả năng khái quát vấn đề nhanh và lối diễn đạt hàm súc"
"Năm 2002, anh Hồ Đức Việt được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (UBKHCNMT) của Quốc hội khóa XI. Tôi cũng chuyển từ Đại học Quốc gia Hà Nội về tham gia Thường trực ủy ban này. Thường trực chỉ có 7 người, nên có thể nói là quan hệ công tác rất gần" – GS Nguyễn Minh Thuyết  mở đầu câu chuyện.

“Ấn tượng mạnh nhất của tôi về cố Chủ nhiệm Hồ Đức Việt là cách làm việc của một người lãnh đạo xuất thân từ giới khoa học, có tầm nhìn, có tác phong dân chủ mà quyết đoán.”
"Anh Việt là người trầm tính, nhìn bên ngoài, không có sự vồn vã, cởi mở thường thấy ở nhiều nhà hoạt động xã hội. Một đại biểu Quốc hội là chỗ thân tình với tôi còn nhận xét: “Sếp của ông khó gần.” Khi đó, tôi chỉ cười: “Đấy là vẻ ngoài thôi. Bắt tay vào việc hay vào một cuộc vui, anh sẽ thấy khác.” Quả nhiên, sau một chuyến công tác chung, vị đại biểu đó thừa nhận: “Ông nói đúng. Ông Việt thực ra sống rất sôi nổi và dễ hòa đồng.”

Trong những lần đi công tác, giờ nghỉ, anh Việt sẵn sàng cầm đàn hát vui cùng anh em. Đến bây giờ, nhiều người vẫn còn nhớ hình ảnh anh ôm cây đàn ghi-ta hát bài “Mimosa, em từ đâu tới?” trong một hội nghị ở Đà Lạt với giọng ca rất có hồn.
Hồ Đức Việt là một người hiểu biết rộng. Trong thời gian làm việc, có nhiều dịp trao đổi, rồi cùng anh dự hội nghị, hội thảo, thẩm tra luật, thực hiện các đợt giám sát về công nghệ cao, sở hữu trí tuệ, thủy điện, khoáng sản, trồng rừng..., tôi thấy lĩnh vực nào anh cũng hiểu biết rất sâu và chắc chắn.

Anh Việt tâm sự: Ngày mới tham gia công tác Đoàn, có lần gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng khuyên anh dù bận đến đâu, mỗi ngày cũng nên dành ít nhất 2 giờ đọc sách. Từ đó, dù bận tới mấy, anh vẫn duy trì nếp đọc hằng ngày để trang bị thêm hiểu biết, đáp ứng yêu cầu công việc.

Trong 5 năm làm Chủ nhiệm UBKHCNMT, anh Việt đã chủ trì biên soạn 3 cuốn sách: “Xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “Công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” và “Sổ tay hướng dẫn hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực KHCN, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên”. Cuốn sách thứ 1 là một công trình nghiên cứu khoa học công phu mà anh Việt làm chủ nhiệm đề tài với sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng.

Dành thời gian nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất chủ trương, chính sách và viết sách hướng dẫn thực thi nhiệm vụ, đó là tác phong của một nhà lãnh đạo xuất thân từ giới khoa học.

Điều gì ở ông Hồ Đức Việt khiến anh em cấp dưới nể phục, thưa GS?

Anh Việt có tầm nhìn xa. Có lẽ tư duy của một tiến sĩ Toán học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều năm hoạt động chính trị đã tạo nên ở anh khả năng khái quát vấn đề nhanh và lối diễn đạt hàm súc. Đặc biệt, những ai từng tham dự các hội nghị, hội thảo do anh Việt chủ trì đều thích cách tổng kết hội nghị của anh. Anh tóm lược vấn đề rất sắc sảo, chuẩn xác và bao giờ cũng nêu lên những việc cần làm, kèm theo phân công cụ thể.

Anh em cũng thích tính thẳng thắn của anh Việt. Tôi nhớ hồi trình phương án xây dựng nhà Quốc hội, anh em thiết kế đều khẳng định nhà Quốc hội không được cao hơn lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều người nhận thấy hạn chế độ cao như vậy thì rất khó thiết kế nhưng chẳng ai dám nói ra vì lý do tế nhị. Nhưng anh Việt hỏi thẳng: “Ai đưa ra quy định ấy?”. Lúc đó, mọi người mới “vỡ” ra: chẳng có cấp nào, văn bản nào quy định cả. Một phần nhờ giải quyết được vấn đề chiều cao mà thiết kế nhà Quốc hội đáp ứng được nhiều công năng hơn.

Anh Việt có lẽ cũng là lãnh đạo duy nhất ở cơ quan Quốc hội không “quản” anh em Thường trực Ủy ban theo chế độ 8 tiếng/ngày. Anh bảo: “Các anh chị là đại biểu Quốc hội, phải đi gặp dân, gặp các cơ quan, đi thực tế. Không thể yêu cầu các anh chị ngồi cơ quan 8 tiếng. Điều quan trọng nhất là hoàn thành công việc được giao.” Khi đã giao việc cho ai thì anh tin tưởng, trao toàn quyền, chỉ tham gia giải quyết khi có vướng mắc và làm người nghiệm thu cuối cùng.

Tôi còn nhớ thời gian UBKHCNMT thẩm tra Luật Sở hữu trí tuệ, anh Việt giao việc cho tôi. Mọi việc từ tiếp xúc, thảo luận với các bộ, ngành liên quan, tổ chức khảo sát, hội nghị, hội thảo..., tôi được toàn quyền chủ động, chỉ báo cáo anh những việc quan trọng. Vì được chủ động nên tôi thấy rất thoải mái và làm việc có hiệu quả hơn.

Đồng chí Hồ Đức Việt thăm một gia đình cách mạng tỉnh Lào Cai
Quan sát cách làm việc của anh Việt, tôi cứ nghĩ khi người ta được giao một cương vị đúng tầm thì sẽ có phong cách làm việc mới mẻ và khoáng đạt.

Trước ông Hồ Đức Việt đã có nhiều “cây đa cây đề” trong lĩnh vực khoa học về làm Chủ nhiệm UBKHCNMT của Quốc hội. Theo GS, điều thành công nhất trên cương vị lãnh đạo UB mà ông Hồ Đức Việt đã làm được là gì?

Thú thật là hồi đầu, khi anh Việt về phụ trách Ủy ban, tôi thấy lo cho anh vì người tiền nhiệm của anh là một nhà khoa học lớn, rất có uy tín trong giới khoa học –GS.TS Vũ Đình Cự. Liệu trên cương vị mới, anh Việt sẽ làm thế nào, có ghi được dấu ấn gì không? Bây giờ nghĩ lại thấy buồn cười, vì bản thân tôi lúc ấy cũng mới chân ướt chân ráo về Quốc hội, còn chưa biết có gánh nổi nhiệm vụ không. Đúng là “Ốc chẳng mang nổi mình ốc, lại còn mang cọc cho rêu”.

Nhưng thời gian đã chứng tỏ vị Chủ nhiệm Ủy ban đảm đương rất tốt công việc của mình. Chỉ nói riêng về lĩnh vực xây dựng pháp luật, UB KHCNMT khóa XI là cơ quan Quốc hội đầu tiên đề xuất, soạn thảo và trình Quốc hội thông qua một đạo luật (Luật Giao dịch điện tử). Cũng trong khóa XI, UB KHCNMT đã chủ trì thẩm tra, trình Quốc hội thông qua 14 luật và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 4 pháp lệnh. Mặc dù mỗi thời kỳ có hoàn cảnh, nhiệm vụ riêng nhưng so với con số 2 luật và 8 pháp lệnh được UB KHCNMT khóa X chủ trì thẩm tra thì đây là một nỗ lực rất lớn. Ngoài ra, nhiều vấn đề liên quan đến những công trình quan trọng của đất nước như quy mô công trình Thủy điện Sơn La, chủ trương đầu tự dự án Đường Hồ Chí Minh, dự án Khí - Điện - Đạm Bà Rịa – Vũng Tàu,… Quốc hội đều giao cho UB KHCNMT chủ trì thẩm tra. Trong thành quả chung của UB KHCNMT khóa XI có đóng góp quan trọng của Chủ nhiệm Ủy ban Hồ Đức Việt.

Nguyễn Hoài

(Infonet)
http://www.tintuchangngayonline.com/2013/06/gs-nguyen-minh-thuyet-bat-mi-nhung.html