Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Ông Dũng không có khả năng lãnh đạo Việt nam một cách tài giỏi !?

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ tư, ngày 05 tháng sáu năm 2013

Thủ tướng Việt nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu khai mạc Đối thoại Shangri-La tại Singapore hôm 31/5/2013
AFP photo

Bài phát biểu khai mạc Shangri-La của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được báo chí khu vực đánh giá là đã nêu bật được Trung Quốc đang có những biểu hiện nguy hiểm tại Biển Đông. Tuy nhiên sau đó Việt Nam đã không có gì thay đổi khi vẫn tiếp tục đàn áp người biểu tình chống Trung Quốc. Mặc Lâm phỏng vấn TS. Jonathan Daniel London, người có nghiên cứu và làm việc tại Việt Nam trong thời gian khá lâu để biết thêm nhận định của một chuyên gia chính trị-xã hội học về đề tài này.

Mặc Lâm: Thưa TS vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài phát biểu trong Đối thoại an ninh Shangi-La được báo chí khu vực xem là thay đổi lớn của Việt Nam có liên quan đến vai trò của Trung Quốc. Theo ông thì động thái này nói lên điều gì?

TS. Jonathan London: Trước hết mình có thể khẳng định là phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là khác biệt. Nội dung của nó nói rất rõ và mạnh. Theo tôi quan hệ đối ngoại của Việt nam sau sự kiện này sẽ rất tốt. Đặc biệt trong tương lai nếu Việt Nam muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình thì phải nỗ lực hơn nữa trong các phát biểu. Chẳng hạn lãnh đạo Việt Nam có thể phát biểu bằng tiếng Anh. Muốn đẩy mạnh vị trí của mình trước quốc tế thì phải nỗ lực trong các phát biểu hiệu quả hơn. Ông Nguyễn Tấn Dũng là một nhân vật chính trị khá phức tạp ở Việt Nam nhưng về phát biểu thì khá tốt.

Mặc Lâm: Có dư luận cho rằng sở dĩ ông Nguyễn Tấn Dũng mạnh dạn phát biểu như vậy vì phe của ông ta đã thắng thế và những e ngại trước đây đã được tháo bỏ sau khi hai nhân vật thuộc phe ông Dũng là bà Nguyễn thị Kim Ngân và ông Nguyễn Thiện Nhân vào Bộ chính trị. TS có nhận xét gì về nguồn dư luận này?

TS. Jonathan London: Theo tôi rất khó để đánh giá các phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng có phản ảnh liên quan đến việc bổ nhiệm bà Ngân và ông Nhân vào Bộ Chính trị Việt Nam hay không. Tôi nghĩ cho đến bây giờ thì ông Dũng đang có một vị trí rất phức tạp trong nền chính trị của Việt Nam. Lãnh đạo Việt Nam hiện nay vẫn chưa thoát khỏi cách suy nghĩ lạc hậu về nhiều mặt. Có thể nói bà Ngân và ông Nhân là một yếu tố mới trong Bộ Chính trị Việt Nam. Hai người này có kinh nghiệm về những vấn đề quốc tế và có thể nói họ giỏi hơn giới lãnh đạo cũ về quan hệ đối ngoại.

Tóm lại những phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng có phản ảnh gì trong nội bộ của Bộ Chính trị thì rất khó để đánh giá. Ít nhất chỉ có thể đánh giá là ông ta có tự tin hơn một chút.

Mặc Lâm: Theo sự nhận xét của dư luận thì mặc dù ông Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra những chính sách sai lầm về kinh tế nhưng hình như ông ta là nguời cấp tiến và đang cố chứng tỏ mình muốn thoát ra khỏi sự kềm chế của Trung Quốc. TS là nguời có thời gian dài làm việc và nghiên cứu tại Việt Nam ông nghĩ sao về nguồn dư luận này?

TS. Jonathan London: Thật ra tôi chưa thiên về ý kiến cá nhân của ông Nguyễn Tấn Dũng nên chưa thể đánh giá. Như anh biết, về vấn đề kinh tế thì ông Dũng đã có những sai lầm rất nghiêm trọng. Ông không có khả năng lãnh đạo Việt Nam một cách tài giỏi về các hồ sơ kinh tế. Nếu cho rằng Nguyễn Tấn Dũng sẵn sàng đối phó với Trung Quốc một cách tự tin thì vẫn chưa đánh giá được. Dựa trên nội dung phát biểu tại Singapore cho thấy ông Dũng cũng đã nói khá thẳng thắn và trực tiếp về vấn đề này. Tôi nghĩ phát biểu này là một bước đi đáng kể trong bối cảnh quốc tế hiện nay.

Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có thời gian để trao đổi trực tiếp với Bộ trưởng quốc phòng mới của Mỹ cũng là một khả năng đáng kể. Nói tóm lại tôi nghĩ là cách phát biểu của ông Dũng có lợi cho nền chính trị và ngoại giao của Việt Nam.

Chính sách với TQ

Mặc Lâm: Vừa qua các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lại tiếp tục bị đàn áp thô bạo khi ông Dũng quay về Việt Nam. Phải chăng kịch bản mà ông Dũng yêu cầu quốc hội thảo luận luật biểu tình vào năm 2011 đã được lập lại?

TS. Jonathan London: Sự kiện vừa qua rất đáng buồn. Một lần nữa người dân Việt Nam đã biểu tình đưa quan điểm của mình đối với hành vi phi lý của Trung Quốc. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng cho Việt Nam mà những người đi biểu tình phải đối phó với hành vi thô bạo của công an thì tôi thấy rất buồn. Tôi thật sự hy vọng trong thời gian tới  Việt Nam sẽ phê duyệt luật biểu tình. Thật ra tôi đã đề cập đến vấn đề cải cách chính trị ở Việt Nam rất nhiều và không chỉ riêng tôi mà nhiều người, bất cứ ai muốn đòi hỏi cải cách chính trị một cách sâu rộng ở Việt Nam,  đều thấy vấn đề biểu tình cần thiết phải có.

Nếu muốn có một nền chính trị văn minh thì phải cố gắng tạo một không gian cho dân Việt Nam để họ thể hiện quan điểm của họ một cách chính đáng và văn minh mới được. Chuyện vừa qua hy vọng là lần cuối cùng mà người dân Việt Nam bị bắt giữ, đàn áp và đánh đập vì họ chỉ muốn thể hiện quan điểm, chính kiến của mình. Tôi hy vọng như thế.

Mặc Lâm: Là người bên ngoài nhưng có quan sát cụ thể tình hình Việt Nam trong nhiều năm qua, theo TS chính sách mềm mỏng với Trung Quốc của Việt Nam có mang lại kết quả nào không nếu Bắc Kinh vẫn tiếp tục lấy sức mạnh kinh tế và quân sự uy hiếp Việt Nam?

TS. Jonathan London: Chính sách mềm mỏng của Việt Nam đối với Trung Quốc là một vần đề lịch sử rất phức tạp, đặc biệt hiện nay khi Trung Quốc mạnh lên. Tôi nghĩ Việt Nam nếu “chưa thấy” thì “nên thấy” giữ chính sách mềm mỏng với Trung Quốc thì sẽ mất sự chú ý của quốc tế về nhiều vấn đề khác nhau.

Nếu nhìn Việt Nam, dù biết đây là một nước đang phát triển nhanh và đã có một lịch sử khó khăn nhưng thật sự rất ít người quan tâm đến Việt Nam. Nếu Việt Nam muốn có một thế mạnh đối với Trung Quốc thì phải cố gắng giải quyết những vấn đề bất cập về chính trị, nhân quyền và các thứ khác trong nội bộ của nền kinh tế chính trị của mình. Tôi nghĩ nếu Việt Nam có những tiến bộ bức phá thì quốc tế sẽ ủng hộ và giúp Việt Nam rất nhiều.

Tóm lại chính sách mềm mỏng đối với Trung Quốc chắc chắn không phải là một điều hứa hẹn.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-06-04

Vì sao ông Hồ Đức Việt bị thất sủng trong Đại hội 11?

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 06 tháng sáu năm 2013

Xin các đồ đệ cũ của ông hãy làm một cái gì đó – dù chỉ là một ý kiến bênh vực - cho vong linh ông để ông có thể ngậm cười ở thế giới bên kia. Còn các đồ đệ mới của ê kíp lãnh đạo mới , đừng né tránh, bóp méo, bôi nhọ người đã khuất ! Cha ông ta có câu răn dậy hậu thế: ’’Nghĩa tử là nghĩa tận’’. Hãy trông người mà nghĩ đến ta.’’Chẳng ai nắm tay từ chập tối đến sáng’’…

Thế là Hồ Đức Việt, Trưởng ban tổ chức Trung ương ĐCSVN khóa 10 (TBTCTƯ khóa X) - hậu duệ của dòng họ Hồ nổi tiêng xứ Nghệ - đã ra đi trong khắc khoải, quằn quại, với mối hận đã kết tủa sâu năng trong tâm khảm, chỉ còn biết ’’Mang xuống tuyền đài chưa tan’’! 

Một vài người đã viết bài tung lên mạng xã hội, lí giải rằng Hồ Đức Việt - nhà khoa học, nhà trí thức thực thụ trong guồng máy lãnh đạo cao nhất của Đảng CSVN  không vào được BCHTUW khóa XI là do ’’nghe vợ’’,  tiến hành ’’chiến dịch yểm bùa chú, gọi âm binh’’ nhờ thần linh trợ, giúp nhằm ’’đánh bại đối thủ’’ để tranh chức TBT ĐCSVN khóa XI…

Đọc những bài viết đó thấy buồn thay cho ông HĐV. Khi còn đương chức TBTCTƯ - thông thường cương vị này được xếp ở tốp ’’Thường vụ BCT’’-  đã từng nâng đỡ khá nhiều người, trong đó (có thể) phải kể cả 2 nhân vật then chốt của BCT khóa XI: Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị. Giờ HĐV gặp nạn, không một ai ’’đoái hoài’’, thậm chí còn tung tin xuyên tạc nguyên nhân HĐV thất bại do ’’không chín chắn, bộp chộp, mê tín dị đoan…’’. Nỗi xót xa chua cay chất chồng gây bức xúc cuối cùng dẫn tới đột qụy và ra đi trong tủi hờn, phẫn uất!
Vậy nguyên nhân nào khiến HĐV đầy quyên lực, một ứng củ viên chức TBT của khóa XI - đang từ đỉnh núi rớt xuống vực thẳm ?

Từ diễn biến và kết cục của HĐV, chúng ta liên tưởng, nhớ lại sự kiên diễn tiến của ĐCSVN giữa khóa 6 và Đại hội khóa 7 (1986 – 1991 & 1991 – 1996)) với diễn tiến khóa X và Đại hội khóa XI (2006 -  2011 & 2011 – 2016). Hai sự kiện này có sự tương đồng, tình trạng HĐV rất giống Trần Xuân Bách (*) (UV BCT, Bí thư TƯ (khóa VI) , lúc đó cũng đang là ứng cử viên sáng gia chức TBT của khóa VII sắp diễn ra. Chúng ta hãy lùi lại 23 năm (1990 – 2013) để tìm hiểu TXB trước khi bàn về HĐV.

Năm 1990 là năm hệ thống XHCN đông Âu đang biến động dữ dội, đi đến  sụp đổ năm 1991. Ở Việt Nam, lúc này là trước thềm đại hội VII của đảng (1991 - 1996). Trên cương vị UVBCT, Bí thư TƯĐ, tổ trưởng tổ nghiên cứu lí luân do BCT chỉ định, lập ra. Vói trí tuệ thông minh, nhãn quan nhìn xa trông rộng, dám nghĩ dám làm với mục đích đưa Đảng thoát khỏi hậu qủa nhãn tiền… Trần Xuân Bách  đề xuất với BCT: Cải tổ Đảng theo hướng Dân chủ hóa đường lối. Dân chủ hóa đất nước mà trước hết thực hiện Đa Nguyên – Đa Đảng. Ông tưởng rằng mình đang là ngôi sao sáng được BCT và TBT  tín nhiệm nên không đề phòng... Ai dè, ý kiến của ông vừa hé ra đã gây cơn chấn động dữ dội khiến TBT Nguyễn Văn Linh phải triệu tập hội nghị TƯ 8 (tháng 3 năm 1990) đi đến phế truất toàn bộ chức vu, khai trừ TXB khỏi đảng. (Ít lâu sau ông về hưu rồi lặng lẽ qua đời trong ghẻ lạnh của đảng mà ông đã dành gần 2/3 cuộc đời cúc cung tận tụy)!

21 năm sau (1990 - 2011), HĐV lại dẫm vào bước chân của tiền bối

Trước thêm ĐH XI (2011- 2016), các ứng cử viên chiếc ghế TBT thi nhau tập tranh cử (như các nước phương tây…), trong đó đáng chú ý 2 người: Hồ Đức Việt và Tô Huy Rứa.
TB Tuyên Huấn TƯ Tô Huy Rứa (vừa được bầu bổ sung vào BCT), bày tỏ quan điểm chính trị bằng những bài nói chuyện ở nhiều cuộc hội nghị, chính trị, bài viết đăng báo. Ông hết lời ca ngợi sự ưu việt của CNXH và còn ’’tiên đoán’’: Nhất định nhân dân đông Âu (khối XHCN vừa tan rã) sẽ quay trở lại chế độ XHCH. Xin đọc một số trích đoạn điển hình trong một sô ý kiến, bài viêt của ông : 

- ’’…Những điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản hiện nay là chỉ tạo thêm những mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong lòng xã hội tư bản để đưa đến cuộc cách mạng bùng nổ của lực lượng thợ thuyền, tìm trở về chủ nghĩa Mác trong một tương lai…’’
(Theo Wikipedia)
- ’’Những điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản hiện nay là chỉ tạo thêm những mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong lòng xã hội tư bản để đưa đến cuộc cách mạng bùng nổ của lực lượng thợ thuyền, tìm trở về chủ nghĩa Mác trong một tương lai…’’(Theo Wikipedia)

(toàn văn bài viết về THR của tác giả Nguyễn Vũ Trần Lê đi trên trang www.danchimviet.info18.12.09 – đăng lại bên dưới bài viết này).

Tới năm 2009 mà ông THR vẫn lấy học thuyết Mác – Lê nin làm nền tảng tư tưởng rồi nhận định về học thuyết XHCN  như tinh thần 2 trích dẫn trên khiến giới trí thức, học giả của đất nước vô cùng ngạc nhiên!

Trong khi đó, Hồ Đức Việt lại chọn cách thể hiện quan điểm chính trị -tranh cử, khác: Trên cương vị TBTCTUW, ông cho phép một tỉnh đảng bộ làm thí điểm đại hội đảng: Bầu cử cấp ủy trực tiếp theo mô hình các nước, các đảng phái chính trị ở các nước dân chủ phát triển. Việc làm của ông nhằm ngầm nói vơi dư luận: Nếu được làm TBT, ông sẽ cho thực hiện nền dân chủ toàn diện, phổ quát mà lâu nay còn thiếu vắng trong Đảng , chưa hề có trong xã hội dân sự VN.

..Từ đây có thể đi đến kết luận: Hồ Đức Việt – Nhà khoa học, Trí thức lớn, Nhà chính trị cấp tiến trong giới lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, bị ’’trừng phạt’’ chỉ vì dám có tư tưởng ’’Dân chủ hóa Đảng và Đất nước’’ . Bây giờ, một số người lại gán cho ông ’’mê tín dị đoan’’ là xúc phạm danh dự cá nhân ông và hạ thấp, bôi nhọ đảng CSVN. Chẳng ai tin  BCHTUW, Bộ Chính Trị - bộ óc của cái đảng ’’Bách chiên bách thắng’’ - lại đi chọn người ’’Mê tín dị đoan’’, giao trọng trách TBTC -  vào hàng ngũ của mình.  

Hồ Đức Việt hôm nay và Trần Xuân Bách 21 năm trước đều chịu chung số phận vì  dám động tới ’’tử huyệt’’ của Đảng Cộng Sản Việt Nam: Quyền độc tôn lãnh đao !


Ông Hồ Đức Việt đã mồ yên mả đẹp.

Xin các đồ đệ cũ của ông hãy làm một cái gì đó – dù chỉ là một ý kiến bênh vực - cho vong linh ông để ông có thể ngậm cười ở thế giới bên kia. Còn các đồ đệ mới của ê kíp lãnh đạo mới , đừng né tránh, bóp méo, bôi nhọ người đã khuất ! Cha ông ta có câu răn dậy hậu thế: ’’Nghĩa tử là nghĩa tận’’. Hãy trông người mà nghĩ đến ta.’’Chẳng ai nắm tay từ chập tối đến sáng’’…

Xin tặng 2 bài thơ của danh nhân văn hóa dân tộc NGUYỄN BỈNH KHIÊM  để các vị đọc và cùng suy gẫm !

THÓI ĐỜI - 1

Thế gian biến đổi vũng nên đồi
Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi
Xưa nay đều trọng người chân thực
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi
Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.
xxx

THÓI ĐỜI – 2

Vụng khéo nào ai chẳng có nghề
Khó khăn phải lụy đến nhi, thê
Ðược thời, thân thích chen chân đến
Thất thế, hương lân ngảnh mặt đi
Thớt có tanh tao, ruồi muỗi đậu
Sanh không mật mỡ, kiến bò chi
Ðời nay những trọng người nhiều của
Bằng đến tay không, mấy kẻ vì.

5.6.2013

Trần Gia Lạc

*  Bài viết do tác giả gửi tới TTHN
http://www.tintuchangngayonline.com/2013/06/vi-sao-ong-ho-uc-viet-bi-that-sung.html

Trần Huỳnh Duy Thức bị biệt giam trong 10 ngày

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ năm, ngày 06 tháng sáu năm 2013

Chủ nhật ngày 26/5/2013, gia đình tôi đến trại giam Xuân Lộc thăm Thức như định kỳ hàng tháng. Nhưng lên đến nơi, các quản trại cho biết gia đình không thể gặp Thức và hẹn 10 ngày sau mà không nói lý do, ngày hôm đó phải ra về.

Không yên tâm, gia đình tôi lại tiếp tục đi thăm Thức ngày 31/5/2013 và được biết, họ kỷ luật Thức là do đã phát hiện Thức sử dụng một chiếc điện thoại di động và cũng yêu cầu gia đình quay về và chỉ cho thăm gặp vào ngày 4/6/2013. Gia đình vô cùng ngỡ ngàng trước thông tin này, bởi trong tù thì Thức tìm đâu ra một chiếc điện thoại di động để mà dùng? Và nếu quả đúng như vậy, thì theo lẽ thông thường Thức sẽ liên lạc ngay về cho gia đình, nhưng đằng này gia đình đã không nhận được tin nhắn hay cuộc gọi nào. Các quản trại cho hay hình thức kỷ luật là biệt giam và kéo dài trong 10 ngày - bắt đầu từ ngày thứ Sáu 24/5 cho đến hết ngày 2/6/2013. Lo lắng về tình trạng Thức lúc đó, gia đình đã cố gắng tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân sự việc, cũng như hỏi thăm về điều kiện ăn uống, sinh hoạt khi biệt giam, nhưng các quản trại không cung cấp thông tin gì thêm và chỉ nói gia đình quay lại sau khi hết kỷ luật. Gia đình có yêu cầu họ lập biên bản ghi nhận việc gia đình không được gặp Thức do Thức đang chịu kỷ luật, tuy nhiên họ từ chối. Nhưng họ cho phép gia đình viết thư tay theo yêu cầu của gia đình để chuyển vào cho Thức và hứa rằng chắc chắn sẽ đưa đến tay Thức khi hết thời gian kỷ luật.

Mười ngày chờ đợi trong thấp thỏm dài tựa như một tháng trời đằng đẵng. Cảm giác của mười ngày đó chẳng khác gì quãng thời gian bặt vô âm tín từ Thức sau khi Thức bị bắt tại nhà riêng rồi đưa đến trại tạm giam B34. Có một điều kỳ lạ rằng thứ Sáu 24/5/2013 – ngày Thức bị chuyển vào biệt giam, cũng chính là ngày Thức bị bắt cách đây 4 năm trước (24/5/2009). Đồng thời, cũng vào hôm 24/5/2013 vừa qua, cháu Lê Thăng Long đã có bài viết “Chọn đường” kỷ niệm 4 năm ngày chính quyền bắt giữ Thức, thế rồi cùng ngày hôm đó Thức chịu kỷ luật. Trong điều kiện không được cung cấp đầy đủ thông tin từ trại giam, những sự trùng hợp lại càng khiến gia đình thêm bất an.

Cuối cùng, mười ngày rồi cũng trôi qua, sáng hôm qua ngày 4/6/2013, gia đình trở lại trại giam Xuân Lộc như lời hẹn của các quản trại. Mọi âu lo, phiền muộn đều tan biến hết khi gia đình trông thấy lại Thức sau nhiều ngày không được gặp. Tinh thần Thức vẫn minh mẫn, lạc quan, Thức vẫn hỏi thăm từng người một trong gia đình như thường lệ và rất vui mừng khi gặp lại con gái lớn đang về Việt Nam trong thời gian nghỉ hè. Thế nhưng, sắc diện Thức có phần xanh xao, Thức sụt cân thấy rõ. Thức kể là đã trở về khu ở trước khi chịu kỷ luật và trở lại điều kiện giam giữ bình thường, nhưng hiện giờ toàn bộ sách báo, họ đã tịch thu, không còn để lại một thứ gì. Đến lúc này, họ mới giải thích rõ hơn về nguyên nhân kỷ luật. Họ cho biết sự việc là do một người tù bằng cách nào đó đã có được một chiếc điện thoại di động nhưng chiếc điện thoại này bị khóa bằng mật khẩu nên không mở được, vì vậy biết Thức rành về công nghệ, kỹ thuật, anh ta đã tìm đến Thức. Tuy nhiên, anh ta vừa mới gặp Thức thì các quản trại phát hiện, sau đó họ kỷ luật Thức cùng với người tù kia.

Nhìn thấy Thức ốm hơn và có quầng thâm ở mí mắt, gia đình hỏi về điều kiện sinh hoạt trong thời gian biệt giam thì được biết, Thức ở trong một buồng rất nhỏ, trong khu kỷ luật, không có cửa sổ, không được ra ngoài trong suốt 10 ngày, mỗi ngày được ăn 2 bữa với mỗi bữa là 1 chén cơm trắng và được phát 1 chai nước khoảng 1 lít mỗi ngày dùng chung cho mọi nhu cầu sinh hoạt. Thức còn bị cùm chân trong ngày đầu tiên biệt giam. Dẫu vậy, vì không muốn gia đình lo lắng cho mình, Thức đã nhanh trí ứng biến ra những dòng thơ lạc quan để trấn an mọi người.

Chốn tù đày ngày cũng như đêm

Màn tăm tối đêm cũng như ngày

Bão tố mưa giông sóng dữ thác ghềnh

Không ngăn được bước đi về phía trước

Sau sự việc kỷ luật, dường như các quản trại có phần khắt khe hơn. Lần này, họ ngồi cạnh Thức theo dõi sát sao câu chuyện trao đổi, không như những đợt trước gia đình được tự nhiên trò chuyện. Khi hỏi về bức thư tay của gia đình Thức nhận được chưa. Vì không nhận được, gia đình có khiếu nại và chỉ nhận được sự trả lời người giữ thư đó đi công tác (?!) và lại hứa sẽ chuyển lại cho Thức. Họ tỏ ra chú ý và thường xuyên cản trở làm gián đoán những đối thoại giữa Thức và gia đình. Gia đình thiết nghĩ lỗi được cho là của Thức trong sự việc vừa qua so với hình phạt biệt giam trong tình trạng thiếu thốn điều kiện ăn ở căn bản là quá khắt khe và không cho gia đình thăm gặp vừa qua là không công bằng. Tôi nghĩ cho dù như thế nào đi nữa, việc cầm cái điện thoại mà họ lại dùng hình thức kỷ luật như thế thì thật nhẫn tâm.

Vừa hết biệt giam được 1 ngày nhưng Thức cũng đã kịp biết về diễn đàn an ninh đối thoại Shangri-La ở Singapore mấy hôm rồi. Thức nhận định bài phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho thấy một sự thay đổi trong chiến lược đối ngoại. Tuy nhiên, khi nhắc đến niềm tin chiến lược thì Thức chỉ cười nhẹ, ánh nhìn đăm chiêu. Để động viên tinh thần Thức sau những ngày biệt giam, gia đình đã tranh thủ báo Thức biết việc vận động trong thời gian qua của gia đình cùng những bằng hữu đã có kết quả. Bộ Ngoại giao Mỹ và Ủy ban đối ngoại Hạ viện nước này đã xác nhận sẽ có hành động cụ thể đối với trường hợp của Thức. Thức nhờ gia đình cảm ơn nỗ lực và sự giúp đỡ của mọi người thời gian qua. Trước khi gia đình ra về, Thức nhắc lại câu nói trước đây của mình như một lời nhắn gửi: “Cứ ước nguyện chính đáng và quyết tâm làm thì điều đó sẽ đến.”

Trần Văn Huỳnh

* Bài do tác giả gửi tới TTHN

Nhân sĩ trí thức phản đối Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội

PHẢN ĐỐI DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP TRÌNH QUỐC HỘI KHÓA XIII TẠI KỲ HỌP THỨ 5

Ngày 3/6/2013 những người soạn thảo và ký bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 mang chữ ký của 72 người (thường gọi tắt là Kiến nghị 72) đã gửi cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và một số Đại biểu Quốc hội bản Phản đối Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 5. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Bauxite Việt Nam

Chúng tôi, những người soạn thảo và ký bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 mang chữ ký trực tiếp của 72 người (thường gọi tắt là Kiến nghị 72) đã được trao tận tay Uỷ ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp (UBDTSDHP) ngày 4-2-2013, cùng với những người đã nêu những ý kiến khác với bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội công bố để lấy ý kiến của nhân dân từ ngày 2-1-2013, kiên quyết phản đối bản Dự thảo Hiến pháp ngày 17-5-2013 (DTHP) do UBDTSĐHP trình tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIII, vì những lý do sau đây:
1- Về nội dung, trong khi nhân dân mong đợi một sự đổi mới thể chế chính trị theo hướng thật sự dân chủ, tạo sức mạnh cho sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, thì bản DTHP mới này hầu như không thay đổi so với Dự thảo lần đầu đưa ra lấy ý kiến nhân dân, mà còn có điểm kém hơn, thậm chí thụt lùi rõ nét so với Dự thảo đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 4-2013.
DTHP vẫn khăng khăng bám giữ thể chế toàn trị của một đảng gắn với ý thức hệ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết tuy đã có vai trò lịch sử nhất định trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc nhưng nay đã bị thực tế chứng minh rõ là không tưởng và có nhiều sai lầm được coi là nguyên lý xây dựng xã hội mới, dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị-xã hội ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa cách đây hơn hai mươi năm, và vì vậy đã bị loài người tiến bộ bác bỏ.
Việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với xã hội và nhà nước là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ; tự nó đã khiến cho những điều ghi trong DTHP về quyền lực của nhân dân và của các tổ chức do dân bầu cũng như các quyền cơ bản của con người và của công dân chỉ là cái vỏ, không có thực chất, như đã thể hiện rõ trong thực tế nước ta nhiều năm qua.
Duy trì sự độc quyền toàn trị của giới cầm quyền nhân danh ĐCSVN chi phối toàn bộ quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị là nguyên nhân cơ bản khiến cho đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và đang bị thách thức trầm trọng về nhiều mặt như hiện nay. Sự độc quyền toàn trị cũng là nguyên nhân gốc hủy hoại vai trò lãnh đạo của ĐCSVN.
DTHP đi ngược lại xu thế tiến bộ của loài người về những quan điểm cơ bản của thể chế chính trị trong thời đại ngày nay như quyền lập hiến thuộc về nhân dân, nhà nước tam quyền phân lập, đa sở hữu tư liệu sản xuất kể cả đất đai… Việc giải trình DTHP nhằm phản bác những quan điểm ấy đều theo lối mòn, dựa vào những lập luận giáo điều, khoác cái áo gọi là sự đồng thuận của đông đảo nhân dân.
Trải qua nhiều thập kỷ không nề hy sinh, gian khổ đấu tranh giành độc lập, thống nhất để xây dựng xã hội tự do, dân chủ, dân tộc ta không thể chấp nhận một Hiến pháp phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ như vậy.
2- Quá trình tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, như UBDTSDHP trình bày trước Quốc hội, được đánh giá “thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ,sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trịđã có hơn 26.091.000 lượt ý kiến góp ý của nhân dân với hơn 28.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức; ý kiến của nhân dân đã được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực”. Nhưng trong thực tế, ai cũng thấy cuộc sinh hoạt chính trị kiểu này mang nặng tính hình thức, áp đặt và quá tốn kém. Mọi ý kiến về những điều cốt yếu khác với quan điểm hoặc ý muốn của cơ quan lãnh đạo đều không được chấp nhận, thậm chí không được công bố và thảo luận công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà chỉ bị phê phán, quy kết một chiều. Không những các ý kiến hợp lý mang tính xây dựng của các tầng lớp nhân dân, mà cả một số quan điểm sát thực tế, hợp lòng dân từ phía Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đều bị bỏ qua.
Tóm lại có thể nói rằng: Sự bảo thủ đến ngoan cố của một bộ phận trong giới lãnh đạo đang biến công việc hệ trọng về sửa đổi Hiến pháp thành một màn kịch chính trị.
Chúng tôi mong các đại biểu Quốc hội thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình về những điều quan trọng của Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau, yêu cầu UBDTSĐHP và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cùng với lãnh đạo ĐCSVN và Chính phủ tôn trọng các ý kiến khác với Dự thảo, thẳng thắn công bố các ý kiến ấy trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức thảo luận thật sự dân chủ, bình đẳng, công khai trên các diễn đàn, qua tranh luận mà xác định chân lý và tạo sự đồng thuận, từ bỏ cách lấy ý kiến theo kiểu áp đặt tư duy, quy kết tùy tiện.
Chúng tôi đề nghị Quốc hội làm mọi việc cần thiết tạo ra sự đồng thuận lớn nhất trong nhân dân theo tinh thần dân chủ về những vấn đề trọng đại cần phải đạt được trong Hiến pháp sửa đổi lần này và sớm quyết định tổ chức trưng cầu ý dân về những vấn đề cốt lõi của Hiến pháp để có thời gian chuẩn bị và làm tốt công việc quan trọng và mới mẻ này. Đất nước đang rất cần một hiến pháp dân chủ để sớm thoát khỏi tình trạng bế tắc đầy nguy hiểm hiện nay, mở ra một thời kỳ phát triển mới vì một Việt Nam độc lập – tự do – hạnh phúc. Vì thế không nên câu thúc về thời gian, mà cần bảo đảm thật sự quyền quyết định của nhân dân đối với Hiến pháp. Nếu làm vội chỉ cốt thông qua DTHP như đã trình Quốc hội thì sẽ là tai họa cho đất nước. Nhân dân trông đợi các đại biểu Quốc hội hãy đại diện cho nguyện vọng của cử tri, nói lên tiếng nói của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp.
Chúng tôi tin tưởng đồng bào trong và ngoài nước nhận rõ việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội thuận lợi để cải cách thể chế chính trị, đòi hỏi phải kiên trì đấu tranh để từng bước dân chủ hóa xã hội, xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Quá trình đấu tranh này cũng là quá trình hòa giải, hoà hợp dân tộc, khép lại quá khứ, vượt qua mọi định kiến, hướng tới tương lai của đất nước và dân tộc. Mỗi người chúng ta, tùy theo cương vị và hoàn cảnh của mình hãy góp sức một cách thiết thực và hiệu quả vào quá trình vận động dân chủ bằng các hình thức đấu tranh ôn hòa, công khai, minh bạch.
Chúng tôi mong đợi mọi người có lương tri trong hệ thống chính trị hiện nay nhận rõ sự thật, đứng về phía nhân dân, ủng hộ nhân dân trong sự nghiệp vinh quang và khó khăn này.

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN
  1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  2. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  3. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
  4. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM
  5. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  6. Hoàng Dũng, PGS TS, Trường Đại học Sư phạm TP HCM
  7. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM
  8. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  9. Phan Hồng Giang, TSKH, nhà nghiên cứu văn hoá, Hà Nội
  10. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM
  11. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  12. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  13. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
  14. Hà Thúc Huy, PGS TS, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM
  15. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
  16. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  17. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM
  18. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  19. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa Thông tin TPHCM, TP HCVM
  20. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  21. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  22. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  23. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
  24. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  25. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  26. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM
  27. Hoàng Xuân Phú, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội
  28. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  29. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
  30. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  31. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TP HCM
  32. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
  33. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, TP HCM
  34. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  35. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  36. Hoàng Tuỵ, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội
  37. Nguyễn Hữu Vinh (anhbasam), luật sư, doanh nhân, Hà Nội
  38. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội
  39. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
  40. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Dân thách chính quyề̉n cấm biểu tình

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ ba, ngày 04 tháng sáu năm 2013

Anh Nguyễn Văn Phương bị tấn công
Chính quyền luôn trấn áp những người biểu tình

Người biểu tình Nguyễn Lân Thắng tố cáo tình trạng bạo lực với người xuống đường phản đối Trung Quốc hôm 2/6 ở khu vực Bờ Hồ và thách thức quan chức ra luật cấm biểu tình.

Các hình ảnh chụp được cho thấy ông Trương Văn Dũng bị chảy máu ở đầu, ông Nguyễn Chí Đức bị nhiều vết trầy xước và thâm tím ở lưng trong khi ông Nguyễn Văn Phương bị vít và bẻ cổ bởi những người mặc thường phục.

Sự việc xảy ra sau khi biểu tình bị giải tán và nhiều người bị bắt giữ đưa về trại Lộc Hà ở Đông Anh, Hà Nội.

Ông Thắng nói với BBC hôm 3/6/2013:

"Không có một lý nào mà nhà nước không ban [hành] luật mà nhà nước có thể cấm cản hành động của công dân.

"Bây giờ nhà nước hãy ra hẳn luật cấm biểu tình đi, chúng tôi sẽ sẵn sàng không biểu tình. Nếu nhà nước ký đi, ban hành luật đấy đi.

"Khi mà chưa có luật đó thì chắc chắn chúng tôi sẽ còn biểu tình, không người này người khác, người này bị chặn, người khác sẽ đi biểu tình."

Người đưa hàng trăm bức hình từ cuộc biểu tình hôm 2/6 lên mạng xã hội nói:

"Chúng tôi chắc chắn sẽ làm những chuyện còn ghê gớm hơn chuyện biểu tình.

"Chúng tôi sẽ tìm cách phản kháng để chính quyền biết cách hành xử với nhân dân một cách tử tế, chứ không thể nào coi dân như súc vật."

Nghi binh?

Ông Nguyễn Lân Thắng nói cuộc biểu tình của khoảng 150 người đã thu hút sự chú ý của công luận và làm cho những người "còn thờ ơ" thêm hiểu thực trạng đất nước.

Chính quyền đã bắt và giam gần 30 người trong vài tiếng ở trại Lộc Hà.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Ông Thắng nói về các diễn biến trong ngày 2/6:

"Ngày hôm qua là ngày biểu tình mà lực lượng an ninh đã tìm cách gây hấn và tìm cách chia rẽ đội ngũ biểu tình rất nhiều.

"Đặc biệt lúc ở Hồ Gươm là họ rất là khéo léo, họ chia tách...họ không bắt nhiều, họ cứ bắt lẻ đi vài người để họ chia cắt lực lượng biểu tình."

Sau khi bị bắt, những người biểu tình bị đưa lên xe buýt để về trại Lộc Hà, nơi họ tiếp tục giương biểu ngữ và hô to các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc.

Giải thích về sự cố trong đó hai ông Nguyễn Chí Đức và Nguyễn Văn Phương bị hành hung, Nguyễn Lân Thắng nói:

"Khi chúng tôi tập trung đứng trước cổng Lộc Hà để chờ người thì lực lượng an ninh mặc thường phục liên tục gây hấn với người già, chửi bới và khiêu khích.

"Khi đó Chí Đức ra can thiệp thì bị một lực lượng rất đông, xông vào, túm ra và bắt đầu đánh.

"Chí Đức có phản ứng lại nhưng không thể nào lại được với cả đội ngũ, lực lưỡng rất đông. Họ là những thanh niên trẻ, rất lực lưỡng, có võ thuật.

"Nguyễn Chí Đức bị túm và đánh ngay sát hàng rào bên Lộc Hà.

"Thấy như vậy thì Nguyễn Văn Phương và một vài người khác xông vào cứu và lúc đó Nguyễn Văn Phương bị thêm một lực lượng nữa xông vào bắt và bẻ, khóa cổ và đánh. Họ đánh rất đau. Sau đó Nguyễn Văn Phương bị ném lên xe thùng ở ngoài đồn công an gần đó.

"Tôi đoán họ tìm cách khiêu khích, họ đánh người này, đánh người kia để khi tất cả lực lượng dồn sang đồn công an ở bên cạnh, cách đó khoảng 200 mét thì lúc đó họ lén lút họ vất anh Trương Văn Dũng ra ngoài."

Những người biểu tình nói ông Dũng đã bị lực lượng trấn áp biểu tình đánh chảy máu đầu.
Biểu tình nằm

Ông Nguyễn Lân Thắng kể tiếp về các diễn biến dẫn tới cuộc biểu tình nằm kéo dài trong khoảng hai tiếng tối 2/6 khiến công an buộc phải trả tự do cho hai người biểu tình bị bắt lúc cuối ngày.

"Sau khi Nguyễn Văn Phương bị ném lên xe thùng, Nguyễn Chí Đức bị túm lôi vào đồn công an thì tình hình cực kỳ hỗn loạn, tắc cả một đoạn đường, mọi người chạy, đánh nhau loạn xị ngậu cả lên.

"Lực lượng an ninh còn có một lực lượng chuyên đi kèm những người cầm điện thoại, cầm máy ảnh chụp ảnh, họ liên tục họ cản.
Biểu tình nằm
Biểu tình nằm

Những người biểu tình đã nằm ra đường đòi công an thả người

"Sau đó mọi người quyết tâm ngăn không cho xe nhốt Nguyễn Văn Phương đi đâu cả vì họ rất có thể bắt Nguyễn Văn Phương và kết cho tội chống người thi hành công vụ.

"Họ hoàn toàn có thể tạo ra một vụ án để đưa Nguyễn Văn Phương vào tù.

"Thế nên chúng tôi quyết tâm chặn bằng được xe ấy lại, không cho họ chở Nguyễn Văn Phương đi đâu."

Ông Thắng nói bà Bùi Thị Minh Hằng là người đầu tiên nằm trước bánh xe công an đòi thả Nguyễn Văn Phương và ông Phương, sau khi được thả, là người đầu tiên ra nằm ngoài quốc lộ đòi thả Nguyễn Chí Đức.

Khoảng 10 người khác đã có hành động tương tự như bà Hằng và ông Phương.

"Công an cực kỳ bất ngờ," anh Thắng nói.

"Họ rất sốc trước hành động của chúng tôi để bảo vệ đồng đội, để cứu người như vậy."

Nguyễn Lân Thắng nói những người biểu tình đang cân nhặc chuyện khiếu nại hoặc kiện công an nhưng cũng nói thêm hầu hết các vụ khiếu kiện hành vi bạo lực của công an đều không được xử lý.

(BBC)

Thiên An Môn vẫn làm cơn ác mộng cho Bắc kinh

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ ba, ngày 04 tháng sáu năm 2013



Công an vũ trang tại Quảng trưởng Thiên An Môn, Trung Quốc, ngày 03/06/2013 (REUTERS)

Công an chìm rình rập các nhà dân chủ, công an mạng khóa từ nhạy cảm trên internet "quảng trường Thiên An Môn", nơi diễn ra một cuộc đàn áp đẩm máu đêm mùng 3 rạng mùng 4 tháng 6 năm 1989, tràn ngập cảnh sát. Chính quyền Tập Cận Bình bằng mọi giá phải xóa sạch một trang sử hào hùng của người dân Hoa lục, nhưng cũng là một vết nhơ của đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ngày này cách nay 24 năm, các đơn vị quân đội Trung Quốc theo lệnh Đặng Tiểu Bình từ Nội Mông kéo về Bắc Kinh bố trí chung quanh quảng trường Thiên An Môn. Năm 1989, vài tháng trước khi bức tường Berlin sụp đổ, tại Trung Quốc, thủ đô Bắc Kinh và nhiều thành phố lớn đã diễn ra những cuộc biểu tình lớn, nhưng ôn hòa của sinh viên và công nhân.

Phong trào tranh đấu đã tạo ra hy vọng Trung Quốc đi vào con đường dân chủ hóa. Từ khi Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976 và tiếp theo những đợt thanh trừng nội bộ của thời «tứ nhân bang » Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế. Nhưng chỉ 10 năm sau, năm 1987, chế độ độc đảng cứng nhắc cảm thấy bị kinh tế tự do đe dọa . Phe cực đoan trong đảng cách chức nhà cải cách Hồ Diệu Bang. Hai năm sau, ông qua đời vào ngày 15/04/1989. Hơn 10.000 sinh viên đại học kéo ra quảng trường Thiên An Môn biểu tình chống tham nhũng và đòi dân chủ để trong sạch hóa đất nước. Thiên An Môn là địa điểm chiến lược nằm sát các cơ quan đầu não của chính quyền. Trong những ngày kế tiếp, dân chúng thủ đô, giáo sư đại học, sinh viên từ các tỉnh và Hồng Kông kéo về phô trương thanh thế. Các sinh viên ban mỹ thuật dùng giấy và bột dựng lên bức tượng « dân chủ » lấy ý từ tượng Nữ thần Tự do tại Hoa Kỳ. Tháng Năm, đến lượt công nhân tham gia, có khi đám đông lên đến 400.000 người.

Lực lượng an ninh tại Bắc Kinh không đàn áp, nhưng thay vì thương lượng với thế hệ trẻ, phe cực đoan trong đảng chọn biện pháp mạnh :Cách chức tổng bị thư Triệu Tử Dương, huy động binh sĩ từ xa không nắm rõ tình hình về thủ đô « cứu nguy chính quyền cách mạng đang bị phản động đe dọa ».

Đêm 03/06/1989, các phóng viên nước ngoài có mặt tại hiện trường chứng kiến những cảnh tượng kinh khiếp : Chiến xa tràn vào quảng trường nổ súng không thương tiếc. Phía sinh viên chỉ có bom chai xăng chống lại. Sau cuộc thảm sát, bản tin của đài phát thanh Nhà nước tường thuật có vài ngàn người chết. Theo giới ly khai như tổ chức « Các bà mẹ Thiên An Môn» những người có con bị giết, và các nguồn tin từ bệnh viện thì số tử vong không dưới 2000, không kể những người bị truy nã và bị « mất tích » sau đó.

Từ đó đến nay, chính quyền Trung Quốc tìm cách xóa sạch giai đoạn lịch sử này : Không nói, không nhắc trên truyền thông đại chúng , không giảng dạy ở học đường .

Hàng năm, đến gần ngày tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn thì chính quyền luôn luôn ra tay trấn áp trước. Từ nhiều ngày qua, Trung Quốc đã tung chiến dịch cô lập các nhà tranh đấu trên toàn quốc và kiểm soát không gian mạng thông tin điện tử. Tổ chức bảo vệ nhân quyền Trung Quốc có cơ sở tại Hồng Kông cho biết, hàng chục nhân vật có tiếng tâm đã « được » công an canh trước cửa nhà hoặc bị cấm xuất ngoại.

Tuần trước, nhóm các « Bà mẹ Thiên An Môn » công bố thư ngỏ, nhận định ông Tập Cận Bình không phải là một nhà cải cách mà thật ra là một kẻ « phản tiến bộ ». Cụm từ này gián tiếp nhắc nhở công luận là chính quyền Trung Quốc vẫn xem phong trào dân chủ Thiên An Môn là « phản động ».

Trên mạng internet, kỹ thuật kiểm duyệt mỗi năm mỗi tinh vi hơn, ngoài bức tường lửa. Năm ngoái 2012, những con số như là 1989 hay 35/05 tức 4 tháng 6 đều bị chận đứng. Theo các chuyên gia của GreatFire.org, năm nay, chính quyền tạo ảo tưởng là sẵn sàng thảo luận với những người muốn tìm hiểu, nhưng thực chất là tránh né vấn đề. Nếu gõ chữ 4 tháng 6 thì người truy cập được hướng dẫn đến một vài con số, nhưng tuyệt đối không nói gì đến cuộc đàn áp. Hôm qua, Bắc Kinh yêu cầu Washington « đừng can thiệp vào nội tình Trung Quốc » sau khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi trả tự do và ngưng quản thúc các nhà tranh đấu trong phong trào Thiên An Môn.

Câu hỏi đặt ra là tại sao Bắc Kinh tránh né chủ đề Thiên An Môn nếu thật sự đảng hành động đúng ? Giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn thường xuyên cảnh báo hai nguy cơ gây bất ổn định chính trị : Một là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dưới 8% và hai là tệ nạn tham nhũng không diệt trừ được. Cả hai yếu tố này đều không xa lạ với Trung Quốc. Trong một chế độ mà trung bình mỗi 6 phút có một cuộc biểu tình phản kháng thì phong trào sinh viên và công nhân 1989 vẫn là cơn ác mộng của chính quyền.

Tú Anh (RFI)

Người chiến thắng chủ nghĩa cộng sản: Không phải tại Ronald Reagan

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Chủ nhật, ngày 02 tháng sáu năm 2013

Tờ The Economist đưa ra một câu trả lời cực kì ngắn gọn. Sau khi Ronald Reagan tạ thế, tờ báo này đưa ảnh của ông lên trang bìa với dòng chữ: Người chiến thắng chủ nghĩa cộng sản.

Những người khác cũng nói hệt như thế. Một buổi phát thanh mà tôi có nghe bắt đầu như sau: “Người ta tin rằng ông là người chiến thắng Chiến tranh Lạnh”. Sau đó vài phút, một nhà chính trị học ghi nhận hai thắng lợi chính của Reagan: giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh và tiêu diệt Liên Xô. Sau đó là hàng loạt những người sùng bái và bình luận viên tiếp tục tung ra những lời ngợi ca Reagan vì chiến thắng “đế chế của cái Ác”.

Xin đợi cho một chút. Mọi chuyện không phải đơn giản như thế đâu.


Berlin Wall 27 - Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đọc diển văn trước Cổng Brandenburg ở Bức tường Berlin.Chắc chắn là chính sách của Reagan đã góp phần vào việc phá hủy đế chế của Điện Kremlin mà đỉnh điểm của nó là các cuộc cách mạng chống cộng ở Đông Âu hồi năm 1989 và sự sụp đổ Liên Xô hai năm sau đó. Nhưng gán cho vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kì toàn bộ công lao như các phương tiện truyền thông và các nhà viết tiểu sử của ông đang làm thì cũng chẳng khác gì gán cho cầu thủ tiền đạo đã đưa bóng vào lưới đối phương tất cả công lao của trận thắng, thế là ta đã quên công của người đưa bóng cho anh ta, ta đã quên công của thủ môn cũng như công của những người mang trên vai mình tất cả gánh nặng của trận đấu.

Các nhà sử học luôn tỏ vẻ coi thường những người qui giản những hiện tượng phức tạp vào những nguyên nhân đơn lẻ. Liên Xô sụp đổ không phải vì có một anh hùng cụ thể nào, nhưng nếu tôi phải chọn một người có vai trò to lớn nhất thì đấy không phải là Reagan, chính sách của ông ta nói chung vẫn đi theo đường lối ngăn chặn truyền thống của Chiến tranh Lạnh mà các Tổng thống từ Truman đến Carter đã làm.

Thay vào đó kẻ đã làm đảo lộn lịch sử là Mikhail Gorbachev, một người đã trải qua tất cả các nấc thang thăng tiến của Đảng Cộng sản Liên Xô rồi bỗng nhiên quay hẳn sang hướng khác để trở thành nhà cải cách cấp tiến, rõ ràng là người có vai trò quan trọng hơn.

Bị tác động bởi thời kì “tan băng” ngắn ngủi do Khrushchev khởi xướng hồi những năm 1950, trước khi Reagan được bầu làm Tổng thống, Gorbachev đã nhận ra rằng Liên Xô là một hệ thống trì trệ, cần phải cải tổ gấp.

Gorbachev cũng đã làm một việc đáng gọi là dị giáo khi ông từ bỏ mục tiêu cách mạng thế giới và cuộc đấu tranh giai cấp trên bình diện quốc tế và chấp nhận “các giá trị nhân bản chung của loài người”. Nhưng quan trọng hơn là ông đã từ chối sử dụng lực lượng vũ trang hùng hậu có trong tay nhằm giữ cho Đảng quyền kiểm soát các nước Đông Âu, cũng như kiểm soát các nước cộng hoà có xu hướng dân tộc chủ nghĩa ngay trong lòng Liên Xô, điều mà những người tiền nhiệm của ông là Yuri Andropov và Konstantin Chernenko, nếu họ chưa kịp đi về thế giới bên kia, chắc chắn sẽ làm.

Nhưng cũng chẳng nên qui tất cả công trạng cho một mình Gorbachev. Liên Xô tan rã chủ yếu là do các nguyên nhân bên trong chứ không phải bên ngoài. Trong một bài báo viết vào năm 1947 trên tờ Foreign Affairs, George F. Kennan cho rằng “siêu cường Liên Xô cũng như chủ nghĩa tư bản đều mang trong lòng nó mầm mống của sự tan rã, nhưng mầm mống ở Liên Xô sẽ lớn nhanh hơn”. Đầu những năm 1950, mặc cho những lo lắng về các vụ thử hạt nhân của Liên Xô, mặc cho chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc và sự ngóc đầu dậy của chủ nghĩa McCarthy, James B. Conant, Hiệu trưởng Đại học Harvard (Harvard University President) đã tiên đoán rằng khoảng năm 1980 “sự phi lí và hệ thống tĩnh tại của Liên Xô sẽ làm cho nó ngừng hẳn”. Kể ra ông cũng không sai nhiều lắm.

Thực chất là Reagan đã theo đúng đường lối kiềm chế mà cả hai Đảng Cộng hoà và Dân chủ đều theo đuổi. Vâng, ông có cung cấp vũ khí cho các lực lượng chống cộng thuộc Thế giới Thứ ba và thường xuyên tuyên bố rằng ông tin tưởng vào tự do và dân chủ, nhưng các Tổng thống khác trước ông cũng đã làm như thế. Khi xảy ra khủng hoảng Reagan cũng chẳng sẵn sàng liều lĩnh khởi động Chiến tranh Thế giới III hơn những người tiền nhiệm của ông. Ông không dám đối đầu trực tiếp khi Điện Kremlin tiến hành các vụ đàn áp ở Trung Âu (cũng là việc đáng thông cảm thôi!). Phản ứng của Reagan khi bị kết án là đã giúp đỡ Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan – những lời nói hoa mĩ, bày tỏ cảm tình và những biện pháp cấm vận nửa vời chống lại việc thiết quân luật ở Ba Lan tháng 12 năm 1981 cũng chẳng hơn gì phản ứng của Eisenhower đối với vụ đàn áp của Liên Xô ở Đông Đức (1953), ở Hungary (1956) và phản ứng của Kennedy đối với việc xây Bức tường Berlin (1961) hay phản ứng của Johnson đối việc Liên Xô đổ quân vào Tiệp Khắc (1968).

“Mr. Gorbachev, xin hãy phá bỏ bức tường này đi!” – lời kêu gọi của Reagan năm 1987 đã trở thành đề tại thời sự cũng như đề tài của lịch sử nữa. Nhưng dù những lời đó có gây xúc động lòng người đến đâu, người dân Đông Âu dưới chế độ cộng sản, qua kinh nghiệm cay đắng của mình, biết rằng cả kị binh bay lẫn những lời có cánh của Tổng thống Mĩ đều không thể giải phóng được họ. Đạo diễn các chương trình truyền hình kỉ niệm đặc biệt có thể lồng hình ảnh Reagan đang gào thét trước bức tường vào cảnh dân Berlin nhảy múa trên những đống gạch vụn của nó hai năm sau đó, nhưng nói rằng hai sự kiện này gắn bó nhân quả với nhau thì nghĩa là ta đã cố tình biến lịch sử thành truyện cổ tích hay ít nhất cũng đơn giản hoá nó một cách quá đáng.

Năm 1989, nhân dân Đông Âu đã nhận thức được rằng họ phải tự đứng lên giành lấy quyền tự do. Người ta phải mang mạng sống của mình ra để kiểm tra giới hạn của học thuyết mới của Gorbachev (các nước cộng sản khác có thể “đi theo con đường của mình”) và đã phát hiện ra rằng học thuyết của Gorbachev đã hoàn toàn thay thế cho lí luận của Brezhnev, tức là cái lí luận biện hộ cho việc đưa quân can thiệp, không cho các nước đào thoát khỏi “cộng đồng xã hội chủ nghĩa”. Những người tuần hành ở thành phố Leipzig vào tháng 10 năm đó không thể nào biết được họ có tránh khỏi số phận của những người biểu tình ở Thiên An Môn mấy tháng trước đó hay không. Nhiều nhà lãnh đạo Đông Đức lúc đó sẵn sàng làm theo các đồng chí Trung Quốc!

Liệu những thách thức mà Reagan đưa ra trên khắp thế giới có đẩy nhanh tiến trình sụp đổ của Liên Xô hay không? Reagan đã giúp đỡ các mujaheddin (chiến sĩ thánh chiến) ở Afghanistan làm cho Liên Xô nhanh chóng thất bại và như vậy là làm cho tình trạng bên trong Liên Xô càng căng thẳng thêm, nhưng dự án này đã khởi sự ngay dưới thời Carter và được cả hai đảng ủng hộ. Còn việc Reagan ủng hộ lực lượng Contras trong cuộc đấu tranh chống chế độ Sandinist ở Nicaragua lại tạo ra một vụ bê bối nghiêm trọng cho chính quyền của ông và lái dư luận khỏi những sự kiện quan trọng đang diễn ra trong thế giới cộng sản, thí dụ như Trung Quốc.

Những người hâm mộ Reagan khẳng định rằng chính cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 đã làm Điện Kremlin phá sản. “Bằng cách tăng cường lực lượng phòng vệ chứ không phải tiến hành xâm lược, Ronald Reagan đã làm cho Liên Xô sụp đổ”, ông Bob Dole, một cựu thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà, ứng cử viên Tổng thống đã tuyên bố trên tờ the New York Times như thế. Biên bản các cuộc họp của Bộ Chính trị ghi nhận nỗi lo lắng thực sự (mặc dù vô căn cứ) về việc xây dựng tên lửa phòng vệ trong chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao” và những nhà lãnh đạo sáng suốt của Liên Xô nhận thức được sự cách biệt ngày càng gia tăng về quân sự và công nghệ giữa phương Tây, nhất là Mĩ với Liên Xô. Điều đó càng làm cho Gorbachev thêm quyết tâm loại bỏ sự thù địch của Chiến tranh Lạnh, quyết tâm tìm cách tiếp cận với hàng hoá và công nghệ của phương Tây và chuyển các nguồn lực từ lĩnh vực quân sự sang nền kinh tế phục vụ dân sinh.

Gorbachev còn nhận ra sự phi lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Đến giữa những năm 1980 các siêu cường đã sở hữu tổng cộng hơn 70.000 đầu đạn hạt nhân. Ông hiểu rằng có thể đưa ra những đề nghị hấp dẫn để khởi đầu đàm phán về hạn chế vũ khí, cho phép thực hiện việc giám sát tại chỗ hay trao đổi về tên lửa tầm trung mà không ảnh hưởng đến vũ khí đánh chặn chiến lược của Liên Xô.

Như vậy là cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 không làm cho Liên Xô sụp đổ. Nền kinh tế Liên Xô, vì nhiều lí do khác nhau, đã bị thối rữa ngay từ bên trong. Những ưu tiên sai lầm của Điện Kremlin – giữ một bộ máy quân sự khổng lồ trong khi nền kinh tế và đời sống nhân dân thua xa phương Tây – là một tác nhân làm cho đế chế Liên Xô tan rã. Nhưng những ưu tiên như thế đã diễn ra hàng chục năm rồi. Bước ngoặt diễn ra không phải dưới thời Reagan mà là do những ý muốn điên rồ của Stalin ngay sau Chiến tranh Thế giới II. Mặc dù đất nước còn bị tàn phá ngổn ngang, lãnh tụ quyết định xây dựng kho vũ khí hạt nhân và giành danh hiệu siêu cường. Từ đó trở đi lực lượng vũ trang luôn luôn nhận được những thứ tốt nhất và đã làm biến dạng nền kinh tế.

Việc chú mục vào quân sự còn làm cho người ta đánh giá sai vai trò của quyền lực “mềm” trong việc lật nhào nhà nước Xôviết. Hàng ngàn tỉ dollar mà phương Tây chi cho vũ khí và chiến lược ngăn chặn cuối cùng lại hoá ra không quan trọng bằng lối sống phương Tây, tức là lĩnh vực chẳng có liên quan gì đến chính sách quốc gia – nhạc, phim ảnh, thời trang (quần bò xanh), hàng tiêu dùng, “Coca-Cola hoá” – và một tương lai tự do hơn, giầu có hơn, no đủ hơn. Lối sống phương Tây, nhờ đài phát thanh, TV, Hollywood, văn học samizdat, máy fax v.v… bắt đầu thâm nhập vào thế giới cộng sản, tạo ra một trường hấp dẫn mới. Tôi không bao giờ quên sự háo hức của các thanh niên Nga khi họ giở tờ tạp chí Time mà tôi mang theo trong chuyến đi đến đó vào những năm 1980, tôi cũng không thể quên hình ảnh người dân Moskva ăn bánh Big Mac trong cửa hàng McDonald đầu tiên mở tại quảng trường Pushkin.

Sự trớ trêu của số phận là chính những người mà Reagan không ưa hồi ông còn làm Thống đốc bang California như những thanh niên hippies, những người chống chiến tranh Việt Nam, những nhà hoạt động trong phong trào gọi là “counter-culture” hồi những năm 1960 đã làm ra các bản nhạc, đã đề xuất ra các tư tưởng và tính cách lập dị lôi cuốn giới trẻ có học trong thế giới cộng sản, lại là những người có công lớn trong việc làm cho chế độ cộng sản sụp đổ. Những người có điều kiện tiếp xúc với phương Tây, kể cả con cái của giới tinh hoa trong bộ máy và các chuyên gia cao cấp, lại thích Lennon [1] hơn Lenin, thích Mick [2] hơn Marx.

Xin hãy hỏi ngay Pavel Palazchenko, một phiên dịch viên hói đầu và có ria mép, ngồi cạnh Reagan và Gorbachev mỗi khi họ gặp nhau. Trong những năm 1960 ông học ở một trường đại học ngoại ngữ danh tiếng ở Moskva. Sau này ông viết trong cuốn hồi kí xuất bản hồi năm 1997, cuốn hồi kí rất hay nhưng ít được chú ý, rằng “hệ tư tưởng ngu xuẩn đến mức không làm cho người ta cười được”. Để giải trí, ông cùng bạn bè góp tiền mua rượu và mời các bạn gái uống say (lúc đó rượu còn rẻ). “Và chúng tôi nghe Beatles”, ông nói.

“Chúng tôi thuộc những bài hát đó… Tôi có giọng thế này phần lớn là nhờ Beatles chứ không phải thày giáo dạy phát âm đâu. Nhưng tôi và những người bạn đồng trang lứa của mình còn nợ họ một vài thứ nữa. Trong những năm đen tối dưới thới Brezhnev (1964-1982) họ không chỉ là nhạc giải trí. Họ đã giúp chúng tôi tạo ra thế giới của riêng mình, một thế giới khác hẳn với thế giới chán phèo và vô nghĩa của những nghi lễ càng ngày càng giống thời Stalin hơn… Tôi tin rằng thời đó ít người trong chúng tôi tìm được hứng khởi nhờ các tác phẩm của Andrei Sakharov (một nhà vật lí và bất đồng chính kiến nổi tiếng) vì chúng tôi chưa đủ sức hiểu được tư tưởng của ông. Beatles đã giúp chúng tôi lặng lẽ chia tay ‘hệ thống’, trong khi vẫn thực hiện phần lớn các yêu cầu của nó.”

Không phải tất cả các nhà lãnh đạo Liên Xô đều nhận ra những ảnh hưởng có tính cách phá hoại như thế. Tháng 12 năm 1980, một tháng sau khi Reagan được bầu làm Tổng thống, Andropov, người đứng đầu KGB lúc ấy đã gửi cho Ban Chấp hành Trung ương một báo cáo mật. Đấy không phải là báo cáo về cuộc bầu cử mà là báo cáo về vụ sát hại John Lennon. Andropov nói rằng “Trong nhiều trường đại học ở Moskva đã xuất hiện những tờ rơi kêu gọi tổ chức diễu hành tưởng niệm cựu thành viên Beatles”. “KGB đã thi hành những biện pháp cần thiết nhằm xác định danh tính những kẻ tổ chức vụ tụ tập và vẫn kiểm soát được tình hình”, ông ta hứa với lãnh đạo Đảng như thế.

Nhưng hoá ta KGB không kiểm soát được tình hình. Cuối những năm 1980 các sân khấu rock bí mật bắt đầu xuất hiện trên mảnh đất của “chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Sau khi toàn bộ ngôi nhà xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ, những nhân vật đối lập cũ trong khối Warszawa, như Vaclav Havel đã chào đón (và đôi khi dựng tượng) cho những người như Frank Zappa, Pink Floyd, Lou Reed và James Dean.

Reagan đã xô những bức tượng vốn đã rung rinh của Marx và Lenin, nhưng có lẽ ông không đóng vai trò chính, ông chỉ có vai trò phụ trợ. Vẫn còn quá sớm để khẳng định bất cứ điều gì một cách chắn chắn. Việc ca ngợi quá đáng vai trò của Reagan trong vụ đạp đổ con rồng Liên Xô nói về ông thì ít mà nói về chúng ta thì nhiều. Hỗn hợp tình cảm, tâm trạng hân hoan sau Chiến tranh Lạnh, quá nhiều thông tin về sự kiện chỉ chứng tỏ thói quen coi thường sự phức tạp của thế giới, thói quen đưa các vấn đề thế giới vào các sơ đồ đơn giản, đấy cũng là một thói quen nguy hiểm của người Mĩ chúng ta.


James G. Hershberg
Washington Post, 27- 6 – 2004

Phạm Minh Ngọc dịch

————

James Hershberg là phó giáo sư lịch sử và các vấn đề quốc tế tại George Washington University và là cựu giám đốc của dự án về chiến tranh lạnh tại Woodrow Wilson Center

[1]John Lennon, Beatles

[2]Mick Jagger, Rolling Stones

(TCPT)