Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Tự do khỏi nỗi khiếp sợ


Aung San Suu Kyi
Tháng 6 7, 2012
Lâm Yến dịch
Aung San Suu Kyi
Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn gati, bốn hình thức của tha hóa. Changda-gati (Tham), sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Dosa-gati (Sân) là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ, Moga-gati (Si) là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thức tha hóa là Bhaya-gati (Úy), không phải chỉ vì bhaya (sự khiếp sợ) làm tê cứng và dần phá hủy tất cả các cảm giác về đúng-sai, mà nó thường là nguồn cơn của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của sự khiếp sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, sự khiếp sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi sự khiếp sợ. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa sự khiếp sợ và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự khiếp sợ lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.
Việc công chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống – ở mức gần như không thể chấp nhận được – là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng bởi tha hóa và khiếp sợ.
Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các đồng chí, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị – một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ “như nước trong bụm tay” của những kẻ nắm quyền lực tối cao.

Chúng ta đẹp xanh như ngọc
Trên bụm tay người
Nhưng ôi, chúng ta cũng có khi là
Những vụn gương vỡ nát
Trên bụm tay người

Các vụn gương, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: “Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thực sự”.
Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa – trong một môi trường mà sự khiếp sợ là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày – không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền (rule of law). Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc – nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp sợ – sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.
Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu của Liên hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi ích trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.
Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị – những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ có rất ít cơ hội thành công thực sự.
Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và sự khiếp sợ.
Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp sợ nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.
Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm – không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến – không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:
“Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khiếp sợ và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này [trong khi vẫn] luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông”.
Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong thế kỉ hai mươi, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: “Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là Abhaya, không khiếp sợ, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng sự khiếp sợ trong tâm”.
Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp sợ kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng “tự tại trước áp lực” – sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.
Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người cơ bản, sự khiếp sợ có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp sợ là hình thức ngụy trang dưới mặt nạ common sense (lẽ thường) hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật – những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người – là [những hành vi] ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của sự khiếp sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì sự khiếp sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.
Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp sợ. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.
__________________
Tiểu luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ” của Aung San Suu Kyi lần đầu được phổ biến để xuất bản với mục đích kỷ niệm Giải thưởng Sakharov vì Tự do Tư tưởng mà Nghị viện Âu châu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 Tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà.
Nhóm Duy tân Trẻ giữ bản quyền của bản dịch tiếng Việt.
Bài đã đăng trên talawas ngày 23.4.2005
_______________________________________________________________________
Nguyên bản tiếng Anh: Freedom From Fear tại

 

Freedom from Fear: Daw Aung San Suu Kyi

Posted on  by sanooaung

Freedom from Fear: Daw Aung San Suu Kyi 

We live in interesting times. A climate of fear allows the corrupt and the cruel to continue with their ways of repression and oppression. Myanmar/Burmese need to take up our cudgels, rise up and break the chains of fear which bind us. Revolutionise our minds! Free the spirit!

Formerly beleaguered past President of the Malaysian Bar (2005-07), Yeo Yang Poh, thinks we should read this (again, for some) as we start the year 2009. Unusually, he is right.
Written by Aung San Suu Kyi and taken from here.
Struggle = never knowing when to give up, to never say die.

It is not power that corrupts but fear. Fear of losing power corrupts those who wield it and fear of the scourge of power corrupts those who are subject to it. Most Burmese are familiar with the four a-gati, the four kinds of corruption. Chanda-gati, corruption induced by desire, is deviation from the right path in pursuit of bribes or for the sake of those one loves. Dosa-gati is taking the wrong path to spite those against whom one bears ill will, and moga-gati is aberration due to ignorance. But perhaps the worst of the four is bhaya-gati, for not only does bhaya, fear, stifle and slowly destroy all sense of right and wrong, it so often lies at the root of the other three kinds of corruption.
Just as chanda-gati, when not the result of sheer avarice, can be caused by fear of want or fear of losing the goodwill of those one loves, so fear of being surpassed, humiliated or injured in some way can provide the impetus for ill will. And it would be difficult to dispel ignorance unless there is freedom to pursue the truth unfettered by fear. With so close a relationship between fear and corruption it is little wonder that in any society where fear is rife corruption in all forms becomes deeply entrenched.
Public dissatisfaction with economic hardships has been seen as the chief cause of the movement for democracy in Burma, sparked off by the student demonstrations 1988. It is true that years of incoherent policies, inept official measures, burgeoning inflation and falling real income had turned the country into an economic shambles. But it was more than the difficulties of eking out a barely acceptable standard of living that had eroded the patience of a traditionally good-natured, quiescent people – it was also the humiliation of a way of life disfigured by corruption and fear. The students were protesting not just against the death of their comrades but against the denial of their right to life by a totalitarian regime which deprived the present of meaningfulness and held out no hope for the future. And because the students’ protests articulated the frustrations of the people at large, the demonstrations quickly grew into a nationwide movement. Some of its keenest supporters were businessmen who had developed the skills and the contacts necessary not only to survive but to prosper within the system. But their affluence offered them no genuine sense of security or fulfilment, and they could not but see that if they and their fellow citizens, regardless of economic status, were to achieve a worthwhile existence, an accountable administration was at least a necessary if not a sufficient condition. The people of Burma had wearied of a precarious state of passive apprehension where they were ‘as water in the cupped hands’ of the powers that be.

Emerald cool we may be
As water in cupped hands
But oh that we might be
As splinters of glass
In cupped hands.

Glass splinters, the smallest with its sharp, glinting power to defend itself against hands that try to crush, could be seen as a vivid symbol of the spark of courage that is an essential attribute of those who would free themselves from the grip of oppression. Bogyoke Aung San regarded himself as a revolutionary and searched tirelessly for answers to the problems that beset Burma during her times of trial. He exhorted the people to develop courage: ‘Don’t just depend on the courage and intrepidity of others. Each and every one of you must make sacrifices to become a hero possessed of courage and intrepidity. Then only shall we all be able to enjoy true freedom.’
The effort necessary to remain uncorrupted in an environment where fear is an integral part of everyday existence is not immediately apparent to those fortunate enough to live in states governed by the rule of law. Just laws do not merely prevent corruption by meting out impartial punishment to offenders. They also help to create a society in which people can fulfil the basic requirements necessary for the preservation of human dignity without recourse to corrupt practices. Where there are no such laws, the burden of upholding the principles of justice and common decency falls on the ordinary people. It is the cumulative effect on their sustained effort and steady endurance which will change a nation where reason and conscience are warped by fear into one where legal rules exist to promote man’s desire for harmony and justice while restraining the less desirable destructive traits in his nature.
In an age when immense technological advances have created lethal weapons which could be, and are, used by the powerful and the unprincipled to dominate the weak and the helpless, there is a compelling need for a closer relationship between politics and ethics at both the national and international levels. The Universal Declaration of Human Rights of the United Nations proclaims that ‘every individual and every organ of society’ should strive to promote the basic rights and freedoms to which all human beings regardless of race, nationality or religion are entitled. But as long as there are governments whose authority is founded on coercion rather than on the mandate of the people, and interest groups which place short-term profits above long-term peace and prosperity, concerted international action to protect and promote human rights will remain at best a partially realized struggle. There will continue to be arenas of struggle where victims of oppression have to draw on their own inner resources to defend their inalienable rights as members of the human family.
The quintessential revolution is that of the spirit, born of an intellectual conviction of the need for change in those mental attitudes and values which shape the course of a nation’s development. A revolution which aims merely at changing official policies and institutions with a view to an improvement in material conditions has little chance of genuine success. Without a revolution of the spirit, the forces which produced the iniquities of the old order would continue to be operative, posing a constant threat to the process of reform and regeneration. It is not enough merely to call for freedom, democracy and human rights. There has to be a united determination to persevere in the struggle, to make sacrifices in the name of enduring truths, to resist the corrupting influences of desire, ill will, ignorance and fear.
Saints, it has been said, are the sinners who go on trying. So free men are the oppressed who go on trying and who in the process make themselves fit to bear the responsibilities and to uphold the disciplines which will maintain a free society. Among the basic freedoms to which men aspire that their lives might be full and uncramped, freedom from fear stands out as both a means and an end. A people who would build a nation in which strong, democratic institutions are firmly established as a guarantee against state-induced power must first learn to liberate their own minds from apathy and fear.
Always one to practise what he preached, Aung San himself constantly demonstrated courage – not just the physical sort but the kind that enabled him to speak the truth, to stand by his word, to accept criticism, to admit his faults, to correct his mistakes, to respect the opposition, to parley with the enemy and to let people be the judge of his worthiness as a leader. It is for such moral courage that he will always be loved and respected in Burma – not merely as a warrior hero but as the inspiration and conscience of the nation. The words used by Jawaharlal Nehru to describe Mahatma Gandhi could well be applied to Aung San:
‘The essence of his teaching was fearlessness and truth, and action allied to these, always keeping the welfare of the masses in view.’
Gandhi, that great apostle of non-violence, and Aung San, the founder of a national army, were very different personalities, but as there is an inevitable sameness about the challenges of authoritarian rule anywhere at any time, so there is a similarity in the intrinsic qualities of those who rise up to meet the challenge. Nehru, who considered the instillation of courage in the people of India one of Gandhi’s greatest achievements, was a political modernist, but as he assessed the needs for a twentieth-century movement for independence, he found himself looking back to the philosophy of ancient India: ‘The greatest gift for an individual or a nation … was abhaya, fearlessness, not merely bodily courage but absence of fear from the mind.’
Fearlessness may be a gift but perhaps more precious is the courage acquired through endeavour, courage that comes from cultivating the habit of refusing to let fear dictate one’s actions, courage that could be described as ‘grace under pressure’ – grace which is renewed repeatedly in the face of harsh, unremitting pressure.
Within a system which denies the existence of basic human rights, fear tends to be the order of the day. Fear of imprisonment, fear of torture, fear of death, fear of losing friends, family, property or means of livelihood, fear of poverty, fear of isolation, fear of failure. A most insidious form of fear is that which masquerades as common sense or even wisdom, condemning as foolish, reckless, insignificant or futile the small, daily acts of courage which help to preserve man’s self-respect and inherent human dignity. It is not easy for a people conditioned by fear under the iron rule of the principle that might is right to free themselves from the enervating miasma of fear. Yet even under the most crushing state machinery courage rises up again and again, for fear is not the natural state of civilized man.
The wellspring of courage and endurance in the face of unbridled power is generally a firm belief in the sanctity of ethical principles combined with a historical sense that despite all setbacks the condition of man is set on an ultimate course for both spiritual and material advancement. It is his capacity for self-improvement and self-redemption which most distinguishes man from the mere brute. At the root of human responsibility is the concept of perfection, the urge to achieve it, the intelligence to find a path towards it, and the will to follow that path if not to the end at least the distance needed to rise above individual limitations and environmental impediments. It is man’s vision of a world fit for rational, civilized humanity which leads him to dare and to suffer to build societies free from want and fear. Concepts such as truth, justice and compassion cannot be dismissed as trite when these are often the only bulwarks which stand against ruthless power.

SOURCE: LOYAR BUROK

Tôi có một giấc mơ

Martin Luther King
(Phát biểu ngày 28 - 8 - 1963, tại Đài Tưởng niệm Tổng thống Lincoln, Washington D. C)
Martin Luther King (1929 - 1968)
Tôi rất sung sướng có mặt cùng các bạn ở đây hôm nay, trong một sự kiện sẽ đi vào lịch sử, vì đó là cuộc biểu tình tuần hành vì tự do vĩ đại nhất trong lịch sử của đất nước chúng ta.
Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại mà hôm nay chúng ta đang đứng dưới bóng tượng đài của Người - đã ký vào Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ. Văn kiện trọng đại này ra đời như ánh sáng của ngọn hải đăng vĩ đại cho niềm hi vọng của hàng triệu người nô lệ da đen, những con người đã bị đóng dấu sắt nung trong ngọn lửa của sự khinh miệt một cách bất công. Nó đã đến như ánh bình minh tươi đẹp để kết thúc đêm dài tăm tối của những kiếp đời bị giam hãm trong vòng nô lệ.
Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn còn què quặt một cách đáng buồn do gông cùm của sự chia cắt và xiềng xích của nạn kỳ thị. Một trăm năm sau, người da đen vẫn sống trên hoang đảo của nghèo khó ngay giữa lòng đại dương bao la của phồn vinh vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tàn lụi trong những xó tối của xã hội Mỹ và nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ bị lưu đày ngay trên mảnh đất của chính mình. Và vì vậy hôm nay, chúng ta có mặt ở đây để nói lên câu chuyện về những điều kiện sống ô nhục ấy.
Có thể nói, chúng ta đã đến gặp nhau tại thủ đô của đất nước này để đòi một món nợ. Khi những kiến trúc sư của nền Cộng hòa viết lên những lời tráng lệ cho Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, họ đã ký vào một bản cam kết mà tất cả mọi người Mỹ đều được thừa hưởng. Lời hứa ấy là tất cả mọi người – vâng, người da đen cũng như người da trắng - cần được bảo đảm được hưởng những "quyền bất khả nhượng" là "quyền được sống, được hưởng tự do, và mưu cầu hạnh phúc" ...
Hiển nhiên là ngày nay nước Mỹ đã không làm được điều cam kết đáng lẽ phải thực hiện ấy, khi màu da của công dân vẫn còn là điều người ta phải bận tâm. Thay vì phải vinh danh nghĩa vụ thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã cho người da đen một tấm ngân phiếu tồi, một thứ ngân phiếu khi mang ra ngân hàng thì bị trả lại với dòng chữ: “không đủ tiền trong tài khoản”.
Nhưng chúng ta từ chối tin rằng ngân hàng công lý đã phá sản. Chúng ta không tin rằng kho tàng cơ hội lớn lao của đất nước này lại không đủ nguồn bảo chứng. Và vì vậy chúng ta đến đây để đổi tấm ngân phiếu này thành tiền, một tấm ngân phiếu đã cho phép chúng ta đòi hỏi sự phong phú cho tự do và sự an toàn cho công lý.
Chúng ta cũng đã đến nơi linh thiêng này để nhắc nhở nước Mỹ về sự khẩn thiết khắc nghiệt của Hiện tại. Không còn thời gian để xa xỉ cho việc xoa dịu hay dùng liều thuốc trấn an bằng cách chủ trương thay đổi từ từ. Bây giờ là lúc biến lời hứa dân chủ thành hiện thực. Bây giờ là lúc trỗi dậy từ bóng tối và thung lũng hoang tàn của sự chia rẽ để tiến tới con đường rực rỡ ánh mặt trời của công bằng chủng tộc. Bây giờ là lúc vực đất nước chúng ta khỏi vũng lầy của bất công chủng tộc mà đặt lên nền đá vững chãi của tình huynh đệ. Đã đến lúc biến công lý thành hiện thực cho tất cả con dân của Chúa.
Thật là tai họa cho đất nước nếu chúng ta không lưu ý đầy đủ tính khẩn thiết của thời khắc này. Mùa hạ oi nồng với những bất bình chính đáng này của người da đen sẽ không qua đi nếu mùa thu lành mạnh của tự do và bình đẳng còn chưa đến. 1963 không phải là năm kết thúc, mà là một sự khởi đầu. Và những ai hy vọng rằng người da đen cần xả sự phẫn nộ và giờ đây sẽ hài lòng, là những người sẽ tỉnh ngộ nếu đất nước chúng ta vẫn quay lại cách xử sự với công dân của mình như trước đây và hiện nay. Và sẽ không có sự ngơi nghỉ, cũng không có sự thanh bình nào trên đất nước Mỹ chừng nào người da đen còn chưa được bảo đảm quyền công dân của mình. Cơn lốc nổi loạn sẽ tiếp tục làm rung chuyển tận gốc rễ nền tảng của đất nước chúng ta cho đến ngày công lý chói lòa xuất hiện.
Nhưng có một điều tôi cần phải nói với dân tộc của tôi - những người đang đứng trên bậc thềm ấm áp dẫn tới lâu đài công lý: Trong hành trình đòi lại ngôi vị chính đáng của mình, chúng ta không được mắc lỗi vì làm những điều sai quấy. Chúng ta đừng tìm cách thỏa mãn cơn khát tự do của mình bằng cách uống ly nước của cay đắng và thù hận. Chúng ta luôn phải thực hiện cuộc tranh đấu của mình trên tầm cao của phẩm giá và kỷ luật. Chúng  ta không được để những phản kháng đầy sáng tạo của mình biến thành những  cuộc bạo động. Một lần nữa và môt lần nữa, chúng ta phải vươn tới những tầm cao tráng lệ huy hoàng trong việc kết hợp sức mạnh vật chất với sức mạnh tâm hồn của chúng ta.
Tinh thần chiến đấu mới mẻ phi thường tràn ngập trong cộng đồng người da đen không được dẫn dắt chúng ta đến sự mất lòng tin đối với tất cả những người da trắng, vì nhiều người anh em da trắng của chúng  ta, bằng chứng là họ đang có mặt tại đây, đã nhận ra rằng số phận của họ gắn liền với số phận của chúng ta. Và họ đã nhận thức được rằng tự do của họ gắn kết không thể tách rời với tự do của chúng ta.
Chúng ta không thể tiến lên một mình.
Và khi lên đường, chúng ta phải tuyên thệ rằng chúng ta sẽ luôn luôn tiến về phía trước.
Chúng ta không thể thoái lui.
Sẽ có kẻ hỏi những người đòi các quyền của công dân rằng: “Khi nào thì các bạn mới thoả mãn?”. Chúng ta không bao giờ có thể thoả mãn chừng nào người da đen vẫn còn là nạn nhân của những nỗi kinh hoàng không thể nói thành lời, kết quả sự lạm dụng công quyền của cảnh sát. Chúng ta không bao giờ có thể thoả mãn chừng nào tấm thân mỏi mệt đường xa của chúng ta còn không thể tìm được một chỗ nghỉ ngơi trong các nhà khách trên xa lộ hay ở các khách sạn trong thành phố. Chúng ta không bao giờ có thể thoả mãn khi nào  sự thay đổi nơi ở của người da đen vẫn chỉ chủ yếu là từ các khu ổ chuột nhỏ đến các khu ổ chuột lớn hơn. Chúng ta không bao giờ có thể thoả mãn chừng nào con cái chúng ta còn bị tước đi cá tính và bị cướp mất nhân phẩm bởi những tấm biển ghi dòng chữ: “Chỉ dành cho người da trắng”. Chúng ta sẽ không thể nào thoả mãn chừng nào một người da đen nào đó ở Mississippi vẫn không có quyền bầu cử hay một người da đen nào đó ở New York vẫn còn tin rằng mình có đi bầu cũng chẳng để làm gì. Không! Không! Chúng ta không thoả mãn, và chúng ta sẽ không bao giờ thoả mãn cho đến khi “Công lý cuồn cuộn tuôn trào như nước lũ, và lẽ phải tràn dâng như một dòng thác huy hoàng”.
Tôi không quên rằng trong các bạn có người đã đến đây khi vừa thoát khỏi những bản án nặng nề và đã trải qua nhiều đau khổ. Có người vừa ra khỏi những xà lim chật hẹp của chốn ngục tù. Có người đã đến từ những nơi mà cuộc tìm kiếm tự do của các bạn đã khiến các bạn bị ngược đãi trong cơn bão đàn áp và lảo đảo trong cơn lốc lạm quyền của cảnh sát. Các bạn là những cựu binh chịu đau đớn để tạo ra thay đổi. Hãy tiếp tục những việc các bạn đang làm với niềm tin rằng những đau đớn không đáng có đó sẽ cứu vãn mọi việc. Hãy trở về  Mississippi, hãy trở về Alabama, hãy trở về South Carolina, hãy trở về Georgia, hãy trở về Louisiana, hãy trở về những khu ổ chuột, những khu biệt cư ở các thành phố phía bắc của chúng ta, với nhận thức  rằng bằng cách này hay cách khác, tình cảnh này có thể thay đổi được và nhất định sẽ phải thay đổi.
Chúng ta đừng đắm mình trong thung lũng tuyệt vọng, hôm nay, tôi muốn nói với các bạn như thế đấy, hỡi các bạn của tôi.
Và ngay cả khi chúng ta phải đối đầu với muôn ngàn khó khăn hôm nay và ngày mai, tôi vẫn có một ước mơ. Đó là một ước mơ có cội nguồn sâu xa từ giấc mơ Mỹ.
Tôi có một ước mơ, rồi sẽ có một ngày đất nước này trỗi dậy để sống với ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta sẽ giữ cho sự thật này luôn là một sự thật hiển nhiên không cần phải chứng minh: rằng tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng".
Tôi có một ước mơ, sẽ có một ngày nào đó trên những ngọn đồi đất đỏ vùng Georgia, con cái của những người từng là nô lệ và con cái của những người từng là chủ nô sẽ có thể ngồi lại bên nhau quanh bàn ăn của tình huynh đệ.
Tôi có một ước mơ, rồi sẽ có một ngày ngay cả Mississippi, nơi đang hầm hập hơi nóng bất công và áp bức, cũng sẽ chuyển mình để trở nên vùng đất màu mỡ của tự do và công bằng.
Tôi có một ước mơ, bốn đứa con thơ dại của tôi rồi sẽ có một ngày được sống trong một đất nước mà người ta sẽ không còn phán xét nó qua màu da, mà qua nội dung nhân cách của nó.
Hôm nay tôi có một giấc mơ!
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày, tiểu bang Alabama, với nạn phân biệt chủng tộc khắc nghiệt, với chính quyền bang đang nhỏ giọt những lời đầu môi về “sự can thiệp”, “sự hủy bỏ” nạn phân biệt chủng tộc - một ngày nào đó những đứa bé trai, bé gái da đen ở Alabama sẽ có thể nắm tay những đứa bé trai, bé gái da trắng như những người anh em ruột thịt.
Hôm nay tôi có một giấc mơ!
Tôi có một giấc mơ, một ngày nào đó mọi thung lũng sẽ được nâng cao, mọi đồi núi sẽ bị hạ thấp, những chỗ lồi lõm sẽ được san bằng, những chỗ quanh co sẽ được làm cho ngay thẳng, và “hào quang của Chúa sẽ hiển lộ để mọi loài tạo vật trần gian sẽ được cùng nhau chiêm ngưỡng”.
Đó là niềm hy vọng của chúng ta, và đó là niềm tin mà tôi ấp ủ khi trở về miền Nam.
Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể băm nát ngọn đồi tuyệt vọng thành những viên đá tảng của niềm hy vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể biến tiếng kêu chói tai của mối bất hòa trong đất nước chúng ta thành bản giao hưởng  tuyệt vời của tình huynh đệ. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể làm việc cùng nhau, cầu nguyện cùng nhau, tranh đấu cùng nhau, ra tòa cùng nhau, cùng nhau đứng thẳng người lên vì tự do, với nhận thức rằng một ngày nào đó, chúng ta nhất định sẽ được tự do.
Và đó sẽ là ngày tất cả con dân của Chúa có thể cất lên lời ca với một ý nghĩa mới:
Đất nước của tôi là đất nước của anh, vùng đất ngọt ngào của tự do, vì Người mà tôi cất lên lời ca tiếng hát;
Mảnh đất ở đó cha tôi đã qua đời, niềm kiêu hãnh của những người hành hương;
Hãy để cho tự do ngân vang từ mỗi ngọn đồi;
Nếu nước Mỹ muốn trở thành một quốc gia vĩ đại, thì giấc mơ này phải trở thành hiện thực;
Hãy để cho tự do ngân vang từ những đỉnh đồi kỳ vĩ của New Hampshire.
Hãy để cho tự do ngân vang từ những rặng núi uy nghi của New York.
Hãy để cho tự do ngân vang từ đỉnh cao dãy núi Allegheny của Pennsylvania.
Hãy để cho tự do ngân vang từ đỉnh Rockies đầy tuyết của Colorado.
Hãy để cho tự do ngân vang từ những sườn đồi dốc đứng của California.
Nhưng không chỉ có thế:
Hãy để cho tự do ngân vang từ Đồi Đá của Georgia.
Hãy để cho tự do ngân vang từ Đồi Lookout của Tennessee.
Hãy để cho tự do ngân vang từ mọi ngọn đồi, mọi gò đất của Mississippi.
Từ tất cả núi đồi, hãy để cho tự do ngân vang!
Khi điều ấy xảy ra, khi chúng ta để cho tự do ngân vang, khi tự do ngân vang từ mọi ngôi làng, mọi xóm ngõ, mọi thành phố, mọi tiểu bang, chúng ta sẽ có thể đem ngày ấy đến nhanh hơn, ngày mà mọi đứa con của Chúa, da đen hay da trắng, người Do thái hay người vô thần, người Tin lành hay người Công giáo, đều sẽ có thể nắm tay nhau mà hát lên bài ca của người da đen xưa kia:
Rốt cuộc chúng ta đã có tự do!
Rốt cuộc chúng ta đã có tự do!
Tạ ơn Chúa Toàn năng, cuối cùng, chúng ta đã là người Tự do!

Martin Luther King

Các vị thánh thế kỷ 20 tại Tu viện Westminster, (từ trái) Mẹ Elizabeth của Nga, Mục sư Martin Luther King, Jr., Tổng Giám mục Oscar Romero, và Mục sư Dietrich Bonhoeffer.

Dịch giả: Phạm Thị Ly (dịch xong ngày 20-1-2012)
Ghi chú: Xin vui lòng dẫn nguồn www.lypham.net khi đăng lại bài dịch này. Xin cảm ơn !
Nguồn: http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=250&Itemid=2

GHI CHÉP TRIẾT HỌC VỀ NỀN DÂN CHỦ TƯ SẢN

Alexis De Tocqueville (1805 - 1859)
Nền Dân chủ Tư sản là nền dân chủ dành cho Giai cấp Tư sản, tức là các nhà giàu trong xã hội.
Cũng như nền Dân chủ Tự do, nền Dân chủ Tư sản có ba thiết chế cơ bản: 1/ Nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, theo đó nhà nước này phải được phân chia thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện độc lập ba loại quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; sự phân chia quyền lực như vậy làm cho quan chức nhà nước không thể lạm dụng được quyền lực nhà nước; 2/ Nhà nước dân chủ phải được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể công dân (lưu ý: toàn thể công dân chứ không phải toàn thể nhân dân, hai khái niệm đó rất khác nhau!), theo đó nhà nước này phải bị kiểm sát chặt chẽ bởi nhiều tổ chức độc lập để ngăn ngừa các điều luật mù quáng dẫn đến tai hoạ cho công dân (lưu ý: công dân chứ không phải nhân dân, hai khái niệm đó rất khác nhau!); 3/ Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi công dân (lưu ý: công dân chứ không phải cá nhân, hai khái niệm đó rất khác nhau!) đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba loại quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp (bảo đảm tuân thủ quy chế phân lập tam quyền).
John Stuart Mill (1806 - 1873)
Thế nhưng, nền Dân chủ Tư sản rất khác nền Dân chủ Tự do ở một nền tảng căn bản nhất, nền tảng đó chính là công dân.
Công dân trong nền Dân chủ Tư sản chỉ bao gồm các nhà giàu mà thôi (cũng như công dân trong nền Dân chủ Chủ nô chỉ bao gồm các chủ nô mà loại trừ cả phụ nữ lẫn nô lệ), khác hẳn công dân trong nền Dân chủ Tự do phải bao gồm mọi cá nhân (bất kể giới tính, sắc tộc, giàu hay nghèo, v. v.). Trong nền Dân chủ Tư sản, công dân không được đồng nhất với cá nhân hoặc nhân dân (không phải mọi cá nhân mà chỉ một số cá nhân – nhà giàu – mới được quy định thành công dân hoặc có quyền công dân); nhưng trong nền Dân chủ Tự do, công dân phải được đồng nhất với cá nhân hoặc nhân dân (mọi cá nhân đều được quy định thành công dân hoặc đều có quyền công dân). Như vậy tức là nền Dân chủ Tư sản chỉ bảo đảm Tự do – Bình đẳng – Bác ái cho Giai cấp Tư sản mà không bảo đảm các giá trị đó cho toàn thể nhân dân, không những không xoá bỏ mâu thuẫn đối kháng giữa nhà giàu với nhà nghèo mà còn dựa vào mâu thuẫn đó để tồn tại. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều tai hoạ lớn. Với quyền lực to lớn như vậy, Giai cấp Tư sản vốn chỉ chiếm một số ít trong xã hội đã bóc lột kiệt quệ Giai cấp Vô sản chiếm số đông nhất trong xã hội: một nhà tư sản này không thể làm hại một nhà tư sản khác nhưng vẫn có thể làm hại bất cứ một người vô sản nào mà không bị trừng phạt. Vậy về thực chất, nền Dân chủ Tư sản chỉ là nền Chuyên chế Giai cấp để Giai cấp Tư sản thống trị Giai cấp Vô sản mà thôi, đúng như Karl Marx cùng các đồng sự đã kết luận như vậy.
Karl H. Marx (1818 - 1883)
Tuy đã kết luận đúng đắn như vậy về nền Dân chủ Tư sản, nhưng K. Marx cùng các đồng sự đã nhận định rất sai lạc về nền dân chủ này: thứ nhất, ông đã lấy đời sống kinh tế làm nguyên nhân cho các tai hoạ lớn mà không lấy chế độ chính trị làm nguyên nhân cho các tai hoạ đó, tức là giải thích các tai hoạ khủng khiếp bằng quyết định luận kinh tế mà không giải thích các tai hoạ đó bằng quyết định luận chính trị; thứ hai, ông đã chủ trương tiêu diệt nền Dân chủ Tư sản bằng cách mạng bạo lực mà không chủ trương cải tiến nền dân chủ đó bằng biện pháp hoà bình. Từ ít nhất hai sai lầm đó, K. Marx đã để lại một di sản nguy hiểm cho hậu thế: các chế độ độc tài cộng sản đã thực hiện các chính sách tiêu diệt kinh tế thị trường (vốn bị quy kết thành nguyên nhân làm cho người bóc lột người) rồi truy bức không thương tiếc mọi mầm mống dân chủ (vốn bị quy kết thành chuyên chính tư sản để Giai cấp Tư sản áp bức Giai cấp Vô sản).
Một số ít người vẫn biện minh cho K. Marx, rằng điều kiện lịch sử đã quy định ông phải suy tư như vậy!
Không thể viện dẫn được điều kiện lịch sử, nếu cố tình đổ lỗi cho điều kiện lịch sử thì phải tự đặt ra một câu hỏi: tại sao cũng với điều kiện đó mà một số học giả khác cùng thời với K. Marx (Alexis De TocquevillePháp hoặc John Stuart MillAnh, v. v.) đã tìm kiếm được giải pháp đúng đắn cho vấn đề? Hãy tìm hiểu việc tu chính Hiến pháp ở Mỹ, Pháp, và một số nước khác thuộc cả Tây Âu châu lẫn Bắc Mỹ châu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX sẽ thấy được câu trả lời chính xác cho câu hỏi đó. Chính nhờ việc tu chính đó mà nền Dân chủ Tư sản đã chuyển biến sâu sắc thành nền Dân chủ Tự do đang thăng tiến mạnh mẽ ở nhiều nước, theo đó công dân được mở rộng từ một số ít người cho tất cả các cá nhân ở các nước có nền dân chủ ấy.
Trừ một số ít nước vẫn còn chế độ độc tài cộng sản nhưng chế độ độc tài cộng sản ở đó phải vội vã cải cách kinh tế để tồn tại hoặc tránh nguy cơ sụp đổ. Nhưng như vậy, Chủ nghĩa Marx đã bị chối bỏ trong thực tiễn mặc dù nó có thể vẫn được trọng dụng trong tư tưởng để hù doạ các mầm mống dân chủ!


J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Tám 2010)

PHẬT GIÁO

Nền chuyên chế nghiệt ngã cùng cực ở Ấn độ vào thời đại cổ xưa đã làm phát sinh rất nhiều tôn giáo khác nhau làm cho xứ sở này trở thành xứ sở có tôn giáo nhiều nhất trên thế giới, trong đó có Phật giáo.
Phật giáo lấy cái Không hoặc Không tính làm căn bản cho mình: xuất phát từ cái Không để rồi lại trở về cái Không thông qua quá trình tu tập bằng Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu đế bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đếĐạo đế, trong đó Khổ đế làm trung tâm cho Phật giáo. Với Khổ đế, Phật giáo giả định rằng: đời là bể khổ (world is evil). Từ giả định đó, Phật giáo xác lập Tập đế nhằm tìm kiếm nguyên nhân sinh ra khổ (evil) cho đời (world) rồi lấy Diệt đế làm giải pháp cho việc giải thoát đời khỏi khổ; cuối cùng, Phật giáo lấy Đạo đế bao gồm Bát Chính đạo làm phương tiện cho Diệt đế để đạt đến Niết bàn, tức là cái cõi đời đã được giải thoát khỏi khổ. Đạt đến Niết bàn chính là đã chứng ngộ được cái Không hoặc Không tính. Vậy cái Không hoặc Không tính chính là một khái niệm vừa sâu xa nhất vừa rộng lớn nhất cho Phật giáo, nó vừa quan trọng nhất vừa trừu tượng nhất trong Giáo lý Phật giáo, nó được dùng để chỉ sự trống rỗng hoặc sự trống không vốn được quy cho vạn vật hoặc để quy vạn vật về nó, theo đó mọi sự vật đều giả hợp hoặc hữu vi (vô thường, vô ngãKhổ).
Khổ đế là chân lý về sự Khổ cho rằng mọi dạng tồn tại đều không trọn vẹn hoặc đầy khổ não, tức là đời luôn luôn đau khổ: sinh khổ (khổ khi ra đời), lão khổ (khổ khi già nua), bệnh khổ (khổ khi tật bệnh), tử khổ (khổ khi chết chóc), thụ biệt ly khổ (khổ khi chia ly), oán tăng hội khổ (khổ khi ghét nhau mà phải ở với nhau), sở cầu bất đắc khổ (khổ khi cầu mong mà không được thoả mãn), thủ ngũ uẩn khổ (khổ khi có năm giác quan làm cho đầu óc phải suy nghĩ) bao gồm các điều kiện tạo nên cái “Ta” làm cho ta khổ; tất cả có tám cái Khổ (Bát Khổ).
Tập đế là chân lý về nguyên nhân làm phát sinh cái khổ, đó là sự ham muốn, như ái, tìm kiếm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt, v. v., các loại ham muốn này làm thành nguồn gốc cho Luân hồi, tức là cái vòng luẩn quẩn giam hãm mãi mãi người ta vào cái khổ mà không cho người ta được giải thoát khỏi cái khổ.
Diệt đế là chân lý về diệt khổ cho rằng: tận diệt được nguyên nhân dẫn đến mọi ham muốn sẽ tận diệt được sự khổ.
Đạo đế là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ, bao gồm Bát Chính đạo, tức là tám con đường đúng đắn để được giải thoát khỏi cái khổ.
Bát Chính đạo bao gồm: 1/ Chính kiến (giữ gìn một quan niệm xác đáng về Tứ Diệu đế cùng với Giáo lý Vô ngã). 2/ Chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn hoặc suy xét thấu đáo về Tứ Diệu đế). 3/ Chính ngữ (không nói dối hoặc không nói phù phiếm). 4/ Chính nghiệp (tránh vi phạm giới luật). 5/ Chính mệnh (tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật), như đồ tể, thợ săn, buôn bán vũ khí, buôn bán thuốc phiện, v. v.). 6/ Chính tinh tiến (phát triển nghiệp tốt hoặc diệt trừ nghiệp xấu). 7/ Chính niệm (tỉnh giác trên ba phương diện: Thân, Khẩu, Ý). 8/ Chính định (tập trung tâm ý để đạt đến bốn định xuất thế gian).
Phật giáo xác quyết rằng: trạng thái tinh thần không thấu hiểu Tứ Diệu đế được gọi là Vô minh, tức là u mê ngu dốt, không sáng suốt hoặc không minh mẫn. Vô minh ngăn cản người ta đạt đến Niết bàn, tức là không thể chứng ngộ được cái Không hoặc Không tính, cũng tức là không được siêu thoát hoặc không được giải thoát khỏi cái Khổ.
Theo Phật giáo, mọi cá nhân đều có Phật tính hoặc đều có khả năng để trở thành Phật, trở thành Phật tức là thức tỉnh hoặc nhờ thức tỉnh mà được siêu thoát hoặc thoát khỏi mọi tội lỗi, mọi đau khổ, mọi nỗi khiếp sợ; nếu biết tu luyện mà vượt qua được sự ngu dốt thì sẽ đắc đạo, tức là trở thành Phật; rằng mọi tội lỗi, mọi đau khổ, mọi nỗi khiếp sợ, đều bắt nguồn từ bản tính vị kỷ, bao gồm tham, sân, sy. Từ đó Phật giáo rút ra kết luận cho rằng muốn đắc đạo hoặc trở thành Phật cần phải diệt dục hoặc phải từ bỏ được cái tham, sân, sy, cũng như mọi khoái lạc trên đời, tức là phải tiêu diệt được bản tính vị kỷ.
Với quan niệm cho rằng mọi cá nhân đều có Phật tính, Phật giáo đã có tư tưởng về sự bình đẳng, mà tư tưởng về sự bình đẳng lại cấu thành một trong những cơ sở tinh thần cho nền dân chủ tự do. Nói như thế tôi muốn khẳng định rằng Phật giáo cũng có tư tưởng cộng hoà hết sức bao la rộng lớn. Tôi đánh giá rất cao Phật giáo ở điểm này. Với tư tưởng cho rằng nếu biết tu luyện mà vượt qua được sự ngu dốt thì sẽ đắc đạo hoặc được siêu thoát, Phật giáo đã có tư tưởng duy lý rất uyên thâm, từ đó tất yếu phải dẫn đến thái độ rất coi trọng đối với việc khai sáng tri thức cho nhân loại, trong đó có giáo dục. Thái độ này làm cho văn hoá nói chung cũng như khoa học nói riêng nảy nở rực rỡ. Tôi cũng đánh giá rất cao Phật giáo ở điểm này, không phải ngẫu nhiên mà Albert Einstein đã đánh giá rất cao tôn giáo nói chung cũng như Phật giáo nói riêng. Hình thành từ một bối cảnh chuyên chế cùng cực với hệ tư tưởng có lẽ cũng tối tăm cùng cực, thế mà Phật giáo lại có tư tưởng vượt qua hoặc siêu thoát như vậy quả thật đã làm nên một điều kỳ diệu cho nền Văn minh Ấn độ. Ở đây tôi nói “vượt qua” hoặc “siêu thoát” để nói lên rằng Phật giáo đã vượt qua những giới hạn nghiệt ngã được quy định bởi chính thể chuyên chế vốn có xu hướng tiêu diệt mọi hiện tượng biểu hiện văn hoá, ở đây cái “siêu thoát” không chỉ cấu thành một hệ thống khái niệm cho Phật giáo mà còn làm nên cái khuynh hướng khai hoá cho Phật giáo nữa. Ở đây cái “siêu thoát” biểu hiện qua cả tư tưởng về sự bình đẳng (mọi cá nhân đều có Phật tính) lẫn tư tưởng về chống ngu dốt (nếu biết tu luyện mà vượt qua được sự ngu dốt thì sẽ đắc đạo). Chính thể chuyên chế vốn chỉ có sự xiêu lệch hoặc bất bình đẳng giữa người cai trị với người bị cai trị, thế mà Phật giáo lại dám giả định rằng mọi cá nhân đều có Phật tính, tức là Phật giáo giả định rằng giữa người với người chỉ có sự bình đẳng mà thôi! Chính thể chuyên chế vốn chỉ có sự ngu dốt hoặc chỉ thường xuyên tái tạo ra sự ngu dốt, thế mà Phật giáo lại dám chủ trương chống lại sự ngu dốt! Chính những điểm này đã biểu hiện rõ rệt nhất tính chất siêu thoát của Phật giáo. Có lẽ chính vì có tính chất siêu thoát như vậy nên Phật giáo đã bị đàn áp dữ dội ở Ấn độ vào thời đại cổ xưa rồi bị xua đuổi khỏi xứ sở đó.
Tuy nhiên, với tư tưởng cho rằng sự ngu dốt bắt nguồn từ bản tính vị kỷ (tham, sân, sy), rằng muốn đắc đạo hoặc trở thành Phật để được siêu thoát, cần phải tiêu diệt tham, sân, sy; tức là phải tiêu diệt bản tính vị kỷ, rằng phải tiêu diệt được bản tính vị kỷ mới có thể siêu thoát được, v. v., Phật giáo lại rơi vào những chủ trương đầy ảo tưởng được quy định bởi chính cái bối cảnh xã hội đã sinh ra nó, tức là chủ trương diệt dục phát sinh từ nền chuyên chế nghiệt ngã cùng cực ở Ấn độ vào thời đại cổ xưa. Thực tế chủ trương diệt dục chỉ có tác dụng tích cực đối với chính thể chuyên chế mà thôi, nó ngăn chặn hoặc hạn chế nhà cầm quyền thực hiện những hành động hung bạo đối với dân chúng đồng thời làm cho dân chúng biết sống an phận thủ thường, nhưng chủ trương đó sẽ chỉ có tác dụng tiêu cực đối với các chính thể khác.
Vì trong chính thể chuyên chế, bản tính vị kỷ chỉ thúc đẩy người ta làm điều xấu xa nên rất tự nhiên, người ta tất yếu phải có thái độ chống lại bản tính đó. Phật giáo hình thành theo đúng cái tất yếu này. Nhưng vì bản tính vị kỷ lại thuộc về bản năng sinh tồn hoặc chỉ biểu hiện bản năng này mà thôi nên nếu chống lại bản tính kia thì chẳng qua chỉ chống lại chính nhân loại thôi, mà như vậy sẽ thất bại. Quả thật, Phật giáo chưa bao giờ tiêu diệt được bản tính vị kỷ mà ngược lại chỉ làm cho bản tính đó biểu hiện thành một hình thức mới, hình thức đó là lòng mong muốn thoát khỏi mọi tội lỗi, mọi đau khổ, mọi nỗi khiếp sợ! Người ta sẽ đặt ra một vấn đề hóc búa: tại sao nhân loại lại mong muốn được siêu thoát nếu không phải tại bản tính vị kỷ hoặc bản năng sinh tồn, hoặc lòng mong muốn được siêu thoát biểu hiện cái gì nếu không biểu hiện bản tính vị kỷ thuộc về bản năng sinh tồn?
Thật ra bản tính vị kỷ tự nó không xấu xa mà cũng chẳng tốt đẹp, tính chất (tốt đẹp hay xấu xa) của nó tuỳ thuộc hoàn toàn vào tính chất (tốt đẹp hay xấu xa) của những hành động đã được thúc đẩy bởi chính nó. Thực tế đã chứng minh thật xác đáng cho sự thể đó. Chính bản tính vị kỷ đã thúc đẩy người ta làm nhiều điều tốt đẹp trong chính thể dân chủ, như sống bác ái, sáng tạo khoa học, sáng tác nghệ thuật, v. v.. Khi nhận xét C. S. Montesquieu, François Marie Arouet, tức văn sỹ Voltaire, một trong những triết gia khai sáng vĩ đại nhất, đã từng nói rất đúng rằng: “trong các nước cộng hoà, người ta còn chạy theo danh vọng nhiều hơn, người ta mong được hoan hô, được dành phần thắng, được danh vị156). Vậy chủ trương diệt dục không chỉ sai lầm mà còn cực đoan nữa kia!
Với niềm tin cho rằng: “world is evil” (đời là bể khổ), Phật giáo xác lập “Đạo đế” thể hiện thành “Bát Chính đạo” nhằm giải thoát nhân loại khỏi evil (bể khổ). Nhưng vì quá ư bí ẩn (hoặc chống lại bản tính vị kỷ thể hiện qua ý hướng phủ nhận cái “tôi” vốn được diễn đạt bởi cái “vô ngã”?) nên các giải pháp thể hiện qua “Bát Chính đạo” dường như quá khó khăn (nếu không muốn nói: “bất khả thể” hoặc “bất khả hành”) đối với nhiều người, đặc biệt chủ trương diệt dục (bao gồm cả việc từ bỏ ham muốn dục tình vốn đóng vai trò bảo tồn nhân loại (!) – cần xem lại điểm này, Tôi cần phải nêu nghi vấn: Phật giáo Ấn độ hay Phật giáo Tàu quốc?) lại càng làm cho các giải pháp thể hiện qua “Bát Chính đạo” tỏ ra cùn mòn hơn nữa. Có lẽ đây là một trong những lý do quan trọng nhất góp phần tạo nên cội nguồn sâu xa cho Chúa giáo xuất hiện nhằm bổ sung cho chính Phật giáo!
Vô luận thế nào, vì không có tư tưởng chuyên chế nên chắc chắn Phật giáo cũng sẽ trở thành nền tảng tinh thần cho nền dân chủ tự do ở tất cả những vùng đất nào chịu ảnh hưởng của nó. Không có gì khó hiểu khi thấy một số nước dân chủ tự do lấy Phật giáo làm quốc giáo. Tôi là một Christian (người có Chúa, người thuộc về Chúa, Tín đồ Chúa giáo), đương nhiên tôi yêu mến Giáo lý Chúa giáo. Nhưng chính lòng yêu mến giáo lý này đã soi sáng cho tôi đi đến một nhận xét đầy lòng bác ái, rằng Phật giáo là một trong những tôn giáo đáng yêu mến nhất trong tất cả các tôn giáo đã từng tồn tại từ trước đến nay cũng như từ nay về sau.



156) Voltaire: Thư gửi A. M. Gis ở Fernay, ngày 20 Tháng Sáu 1777.

J. B. Hàvăn Huytoàn
(Viêt vào Tháng Bảy 2010)

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Tư duy Việt có đang lạc điệu?

Nguyễn Giang viêt cho www.bbcvietnamese.com
Cập nhật: 15:32 GMT - thứ hai, 3 tháng 12, 2012
·                                 Facebook
·                                 Twitter
·                                 chia sẻ
·                                 Gửi cho bạn bè
·                                 In trang này
Lòng dũng cảm của Malala thắp lên một phong trào dân sự
Điểm qua 100 người được trang Foreign Policy chọn làm ‘những khối óc toàn cầu’ năm 2012 điều đầu tiên tôi nhận thấy là không có ai từ Việt Nam.
Các tên tuổi người Việt hoặc gốc Việt ở nước ngoài mà báo chí trong nước nhắc đến như gương sáng trong nhiều lĩnh vực cũng không lọt vào danh sách ‘100 global thinkers’.

Các bài liên quan

·                                 Bà Suu Kyi tìm hòa giải cho dự án mỏ đồng
·                                 ‘Sức mạnh của tự do’
·                                 'Nếu dân nói thẳng nói thật'

Chủ đề liên quan

·                                 Diễn đàn, 
·                                 Xã hội Việt Nam
Không thể nói 90 triệu người Việt Nam trên toàn cầu thuộc nhóm không suy nghĩ gì.
Nhưng có vẻ như các bộ óc Việt trong và ngoài nước đang lo những chuyện khác, không ‘cộng hưởng’ cùng nhân loại.
Hoặc chúng ta cũng nặng lòng ưu tư về các việc riêng, việc chung và có nhiều hoạt động nhưng vì tiếng nói quá yếu nên thế giới không biết đến.
Ta cũng có thể bác bỏ ‘bảng phong thần’ của BấmForeign Policy và cho rằng họ thiên vị.

Thế giới nghĩ gì?

Nhưng kể cả như vậy có lẽ cũng cần biết họ đang ‘thiên vị’ với những ai và xu hướng gì trên thế giới.
Trước hết, nếu ai bảo Foreign Policy nghiêng về các nhân vật Phương Tây thì sẽ sai lầm.
Vì con số các gương mặt châu Á (Miến Điện, Trung Quốc), hoặc từ Thế giới Ả Rập và Hồi giáo năm nay chiếm con số đông đảo.
Các tên tuổi từ Châu Phi, Nga, Đông Âu, vùng Balkan cũng không ít.
Foreign Policy xác nhận hai nhân vật cùng đứng số một là bà Aung San Suu Kyi và tổng thống Thein Sein của Miến Điện:
Tướng Thein Sein nhờ dũng khí cải tổ mà được cả ngợi là người 'buông dao thành Phật'

“Tạo cảm hứng đặc biệt nhất là hai nhân vật hàng đầu anh hùng và hiếm có được vinh danh: bà Aung San Suu Kyi, nhà bất đồng chính kiến từng bị tù, và ông Thein Sein, vị tướng lâu năm. Họ cùng nắm tay để mở lối cho một trong số chế độ độc tài tàn tệ nhất thế giới.”
Tuy nêu tên nhiều nhân vật đấu tranh, các văn nghệ sỹ và các blogger có tác động chính trị từ Trung Quốc, Nga đến Pakistan, Foreign Policy cũng không coi nhẹ vai trò của những người giàu có và các chính khách.
Tổng thống Malawi, bà Joyce Banda được ca ngợi nhờ ý tưởng về một châu Phi ‘sạch sẽ’, ít tham nhũng, hay cựu ứng viên Phó Tổng thống Mỹ, Paul Ryan về ý tưởng cho ngân sách tiết kiệm công quỹ.
Cả hai ông bà Bill và Melinda Gates, tỷ phú làm từ thiện, đều đứng tên trong danh sách năm nay.
Như thế, làm chính trị hay có nhiều tiền tự nó không có gì là xấu, thậm chí còn rất tốt nếu họ thực sự muốn thúc đẩy xã hội tiến lên.
Tổng thống Tunisia, ông Moncef Marzouki đứng thứ hai vì là người “nuôi dưỡng tinh thần Mùa Xuân Ả Rập”.
"Họ cùng nắm tay để mở lối cho một trong số chế độ độc tài tàn tệ nhất thế giới"
Foreign Policy viết về Aung San Suu Kyi và Thein Sein
Với báo chí ở Việt Nam, chắc sự vinh danh này sẽ giúp điều chỉnh lại quan niệm rằng Mùa Xuân Ả Rập là điều gì đó xấu xa, mang tính 'phản loạn'.
Vì khi chính tổng thống của Tunesia ủng hộ Mùa Xuân Ả Rập thì đây đã là một phong trào 'chính thống' của một khu vực thế giới có nền văn minh lâu đời, dân số trẻ, năng động, bản sắc tôn giáo mãnh liệt.

Dân chủ trẻ tuổi

Ngoài ra, không thể phủ nhận tinh thần “dân chủ bình dân” mà Foreign Policy đề cao.
Cũng vì thế, họ để thiếu nữ Pakistan 15 tuổi, Malala Yousafzai, (thứ 6), trên cả Tổng thống Barack Obama (thứ 7).
Blogger trẻ tuổi này, xuất phát từ ham muốn được đi học, đã thành người anh hùng dám đứng lên chống lại Taliban và tất cả những ý thức hệ cổ hủ của họ.
Malala bị phe Taliban bắn trọng thương nhưng được cứu thoát và được đề cử dự giải Nobel không phải chỉ vì ngòi bút sắc bén (viết blog từ năm 12 tuổi) mà vì lòng dũng cảm của cô đã tạo ra một phong trào xã hội rộng khắp.
Nhưng Foreign Policy đề cao cả các sáng kiến công nghệ và các nhân vật có tư duy phát kiến mở đường cho nhân loại hoặc đang vận dụng công nghệ vào kinh doanh có tầm ảnh hưởng sâu rộng.
Mùa Xuân Ả rập đang thành trào lưu biến đổi thế giới

Đó là lý do các nhân vật như Sebastian Thrun, Andrew Ng, Sheryl Sandberg (Facebook), Marissa Mayer (Yahoo), Eugene Karspersky...có tên trong danh sách.
Nhìn vào châu Á, ngoài Miến Điện như đã nêu, sự có mặt của các nhân vật Trung Quốc cũng là một bài học cho Việt Nam để dự đoán quốc tế mong đợi gì từ một quốc gia Đông Nam Á.
Từ Trung Quốc có nghệ sĩ độc lập Ngải Vị Vị, nhà đấu tranh Trần Quang Thành, nhà vận động môi sinh Mã Quân thuộc nhóm nổi bật nhờ các hoạt động vì cộng đồng, hay triệu phú Lý Khai Phục người Mỹ gốc Đài Loan từng lãnh đạo Google China.
Nhưng Foreign Policy cũng nêu tên Giáo sư Vương Tập Tư (Wang Jisi), học giả giảng tại Trường Đảng ở Bắc Kinh vì ông liên tục “nói thẳng cho người Mỹ biết Trung Quốc nghĩ gì về Hoa Kỳ”.
Như thế, để được nêu danh là nhà tư tưởng toàn cầu không cứ phải là tiếng nói đối lập với chính quyền nhưng nhất thiết phải là tiếng nói thẳng và thật.
Nhìn lại danh sách ‘100 global thinkers’ của Foreign Policy, có thể thấy ba xu hướng lớn:
Dân quyền lan rộng với các tác nhân tham gia đòi tạo thay đổi ngày càng rộng và tuổi càng trẻ.

Trào lưu toàn cầu

·                                 Dân quyền lan rộng với lứa tuổi ngày càng trẻ
·                                 Công nghệ lan tỏa tăng đối thoại công khai
·                                 Hợp tác gia tăng xuyên qua mọi lĩnh vực
·                                 Lòng dũng cảm tạo đà cho tiếng nói công dân
Nỗ lực hợp tác gia tăng từ cả khu vực công, tư và doanh nghiệp để tìm giải pháp toàn cầu cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường.
Công nghệ mới mở rộng không gian đối thoại và lan tỏa của thông tin, thách thức sự chần chừ, chậm trễ hoặc bất minh trong mọi lĩnh vực.
Nhưng quan trọng hơn cả là lòng dũng cảm và tinh thần dám làm, dám chịu.
Như ví dụ của Yevgenia Chirikova, nhà vận động môi sinh từ Nga.
Vốn là một nữ doanh nhân thành công, bà chỉ bắt đầu hoạt động xã hội khi đứng ra vận động cứu khu rừng Khimki gần Moscow khỏi một dự án xây đường cao tốc.
Cuộc đấu tranh đã khiến bà bị cảnh sát Nga bắt giam nhiều lần nhưng bà vẫn tiếp tục theo đuổi lý tưởng 'mỗi người cứu một cây xanh' mà bà cho là cần thiết cho đất nước.
Việt Nam và người Việt toàn cầu chắc chắn cũng đang tham gia và chịu tác động của những làn sóng này trên mọi lĩnh vực kể trên nhưng đáng tiếc rằng chúng ta hiện tạm thuộc nhóm đi theo, nghĩ theo, ít ra là theo cách nhìn của một tạp chí quốc tế.
Hy vọng sang năm tình hình sẽ khác.